ĐẶT VẤN ĐỀ Cá Chép (Cyprinus caprio) là một trong những loài cá được nuôi truyền thống. Với nhiều ưu điểm như: Dễ nuôi; ăn được nhiều loại thức ăn; chịu đựng được ngưỡng oxy hòa tan trong nước thấp; là loài rộng nhiệt, có thể chịu được nhiệt độ từ 0-40oC, hàm lượng chất dinh dưỡng trong thịt khá cao. Cụ thể: trong 1 miếng fillet tươi (170g) có chứa: 275 calories; 38,87 g protein, 12,21g chất béo. Trong thịt cá Chép còn chứa rất nhiều các nguyên tố đa lượng và vi lượng như: Ca, Na, K, Fe, Mg, Zn, Cu.Ngoài ra, nó còn là nguồn cung cấp vitamin dồi dào, với các vitamin như: các vitamin nhóm B (B1, B2, B3, B5, B6, B9, B12), các vitamin tan trong dầu (A,D,K,E).
Với những ưu điểm nêu trên, cá Chép đang được nuôi phổ biến tại nhiều vùng miền. Theo nghiên cứu gần đây, cá Chép là loài nuôi chiếm ưu thế, chiếm 30,1% số lượng cá trong những ao nuôi ghép (Austin et al. Tuy nhiên, bệnh trên cá Chép lại khá nhiều, gây khó khăn cho người nuôi. Trong đó phải kể đến bệnh do Trùng bào tử sợi (Myxosporea spp.), bệnh gây thiệt hại khá lớn.
Trên thế giới, bệnh do Myxosporae spp. là một trong những loài ký sinh trùng gây nhiều thiệt hại cho ngành thủy sản thế giới (Lom and Dykova, 2006). Ở Việt Nam, Cá Chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá hương, cá giống thường mắc bệnh Bào tử sợi với tỷ lệ nhiễm cao (có trường hợp tới 96%), cường độ nhiễm rất cao, bào nang bám đầy ở các cung mang, làm kênh mang, cá không khép nổi nắp mang (Bùi Quang Tề và cs. Từ năm 1975 – 1984, Myxobolosis, Thelohanellosis thường xuyên gây bệnh cho cá Chép Hungari nhập nội ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1, trại cá Lạng Giang – Bắc Giang, trại cá Tiền Phong – Quảng Ninh, bệnh làm kênh nắp mang của cá Chép giống và gây chết hàng loạt (Bùi Quang Tề, 2001).
Do tính chất nguy hiểm và những thiệt hại bệnh gây ra, tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu dịch tễ bệnh do trùng bào tử sợi (Myxosporea spp.) kí sinh trên cá Chép (Cyprinus caprio) tại tỉnh Hải Dương và thử nghiệm thuốc điều trị bệnh tại các ao thuộc tỉnh Hải Dương ” 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định được đặc điểm dịch tễ của bệnh do Trùng bào tử sợi (TBTS) gây ra trên cá Chép tại địa bàn tỉnh Hải Dương. Xác định được loại thuốc điều trị và biện pháp điều trị có hiệu quả. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Điều tra tình hình bệnh do TBTS gây ra trên cá Chép tại tỉnh Hải Dương, và cụ thể là ở 4 huyện: Bình Giang, Cẩm Giàng, Ninh Giang, Thanh Miện trên hệ thống nuôi ghép.
Tiến hành xác định hình thái và kích thước bào tử của loài TBTS kí sinh ở ruột và mang. Điều trị thử nghiệm tại một số ao bị bệnh bằng 4 loại thuốc: NOVA- Parasite, HAN-DERTIL B, FASIO-PHARM, PRAZIQUANTEL. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Đề tài có ý nghĩa trong việc nêu ra những dấu hiệu bệnh lý điển hình về bệnh do TBTS gây ra trên cá Chép giúp người dân bước đầu nhận biết về bệnh. Tìm ra các yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh, từ đó loại bỏ các yếu tố nguy cơ để giảm thiểu tình trạng mắc bệnh.
Trong nghiên cứu này có thử nghiệm thuốc điều trị,từ đó tìm ra loại thuốc hiệu quả trong điều trị bệnh. Điều này mang lại giá trị thực tiễn trong công tác phòng và chữa bệnh TBTS. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
TỔNG QUAN VỀ BỆNH TRÙNG BÀO TỬ SỢI (MYXOSPOREA SPP. Tác nhân gây bệnh 2. Về vị trí phân loại Giới: Animal Ngành: Cnidosporidia Lớp: Myxosporea Hình 2. Thelohanellus kitauei Nguồn: K.
Đặc điểm hình thái Bào tử Myxosporea spp. có cấu tạo gồm: các mảnh vỏ, các cực nang có chứa sợi thích ty, phần nguyên sinh chất có chứa các nhân và không bào, bào tử rất đa dạng về kích thước và hình dạng. Tùy theo loài mà một bào tử có cấu tạo từ 2 đến 7 mảnh vỏ dính nhau ở đường nối, 1 đến 7 cực nang và nhân gồm một nhân đôi hay hai nhân đơn trong nguyên sinh chất. Ngoài ra, một số loài trong nguyên sinh chất còn có không bào ưa iod chứa β_glycogen (Lom and Dyková, 1992).
TBTS ký sinh trên cả động vật không xương sống và có xương sống bậc thấp như cá, bò sát, lưỡng cư, cũng có thể gặp ở chim, thú và người (Lom and Dyková, 2006). Vòng đời phát triển Vòng đời của Myxosporea spp. trải qua các vật chủ khác nhau, theo Wolf và Markiw (1984) vòng đời của Myxosporea spp. xảy ra trên hai ký chủ chia làm 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 giai đoạn là myxospore và actinospore.
Giai đoạn Myxospore xảy ra ở ký chủ trung gian là động vật có xương sống bậc thấp như cá, giai đoạn Actinospore ký sinh ở động vật không xương sống thường là giun nhiều tơ nhằm phục vụ cho sự sinh sản hữu tính. Giai đoạn ký sinh trong cá có thể tồn tại trong cơ thể vật chủ dưới dạng hợp bào, có thể là giả hợp bào (thể dinh dưỡng) hay bào nang, đặc trưng của giai đoạn này là trạng thái tế bào trong tế bào, khi những tế bào con được sinh sản nội sinh vẫn còn tồn tại trong tế bào mẹ. Ở cá, chúng ký sinh trong xoang cơ thể hay ký sinh trong các mô. Những loài ký sinh trong xoang cơ thể thường ở trạng thái bám vào biểu mô hay trôi nổi trong dịch của các xoang cơ thể như mật, ống dẫn mật.Những loài ký sinh trong mô có thể ký sinh trong hay ngoài tế bào ở nhiều mô khác nhau, thường tạo ra các dạng bào nang ký sinh ở mang, da có kích thước lớn dễ quan sát bằng mắt thường.
ký sinh trong cơ thể vật chủ, lấy dinh dưỡng bằng thẩm thấu và vận chuyển chủ động các chất dinh dưỡng, với dạng bào nang có hoạt động ẩm bào cao, là những sinh vật kỵ khí bắt buộc hoặc hiếu khí bắt buộc (Lom and Dyková, 1992). Khi kí sinh vào cơ thể vật chủ, các thể dinh dưỡng lấy chất dinh dưỡng để phát triển, sau đó hoặc chúng phân phối các bào tử trưởng thành vào trong các cơ quan vật chủ hoặc ra ngoài môi trường trở thành bào nang và hủy hoại vật chủ. Khi một bào tử trong môi trường nước, chúng sẽ xâm nhập trở lại cá hay xâm nhập vào ký chủ cuối cùng, có thể xâm nhập trực tiếp qua da, mang, vây cá khỏe, hay nhiễm vào ruột khi có trong thức ăn của cá. Khi tiếp xúc với cơ thể cá, bào tử bị kích thích bởi cơ thể cá, sẽ phóng sợi thích ty, cắm vào tổ chức cơ thể, hai mảnh vỏ tách ra, tế bào chất di chuyển, xâm nhập vào các tế bào tổ chức của ký chủ, hoặc theo máu đến ký sinh ở các tế bào tổ chức của các cơ quan và dừng lại ở đó lấy chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển.
tồn tại lâu ngoài môi trường, bào tử có thể tồn tại trong nước lạnh với hình thái bình thường hơn một năm (Lom and Dyková, 1992). Dấu hiệu bệnh lý Cá hoạt động không bình thường. Với cá bị bệnh TBTS kí sinh ở ruột: Cá có khi quẫy mạnh nhảy vọt cả lên trên mặt nước, có khi bơi lờ đờ gần mặt nước, dạt gần bờ. Bụng trướng to, vảy bụng có thể bong nếu kích cỡ bụng quá lớn.
Hậu môn giãn rộng hơn bình 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường. Thành ruột mỏng, căng, bên trong ruột cá có chứa các bào nang màu trắng sữa hoặc trắng đục, kích cỡ bằng hạt đỗ, hạt lạc hay thậm chí to bằng hạt mít. Kèm theo đó là dịch nhày dạng thạch trong suốt hoặc vàng nhạt. Khi số lượng bào nang trong ruột và dịch nhày nhiều có thể gây vỡ ruột, dịch và bào nang tràn ra ngoài xoang bụng.
Lúc này, cơ thịt phía trong bụng sẽ dần bị hoại tử. Với cá bị bệnh TBTS kí sinh ở mang: Nắp mang bị kênh, không khép lại được, có các bào nang màu trắng sữa hoặc màu hồng nhạt bám trên các tơ mang, cung mang và có khi cả mặt trong xương nắp mang. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRÙNG BÀO TỬ SỢI (MYXOSPOREA SPP) Ở CÁ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình nghiên cứu về trùng bào tử sợi trên thế giới Nghiên cứu bệnh do Myxosporea spp.
trên thế giới đã có lịch sử dài, từ những khám phá đầu tiên về Myxosporea spp. những năm 1980 bởi Jurine (1825), đến nay các nhà khoa học đã phát hiện ra 2180 loài và nhiều loài mới còn đang được nghiên cứu (Lom và Dyková, 2005). Những loài Myxosporea spp. mới vẫn đang là mối nguy đe dọa sự phát triển của nghề NTTS thế giới (Lom and Dyková, 2006).
Hiroshi Yokoyama et al. (1997) đã nghiên cứu về kích thước bào tử và bào nang của loài Myxobolus koi. Dyková et al. (2003) đã đưa ra dữ liệu về loài Myxobolus longisporus, nhiễm ở mang cá chép (Cyprinus carpio haematopterus), ở hồ của Trung Quốc.
Kálmán MOLNÁR (2002) nghiên cứu về dấu hiệu bệnh lí và mô bệnh học của ruột cá chép bị nhiễm Myxobolus cyprinicola. Jung Soo Seo et al. (2012) nghiên cứu về phương pháp PCR và Real time PCR trong việc phát hiện nhanh “bệnh bào nang khổng lồ” ở cá chép do loài Thelohanellus kitauei gây ra bằng cách giải trình tự gen 18S rRNA. YE Lingtong et al.
(2016) đã nghiên cứu về bệnh do Thelohanellus kitauei gây ra trên cá chép gương và hình thái của Myxosporean từ tỉnh Tứ Xuyên, Tây Nam Trung Quốc. Dandan Zhao et al. (2016) đã nghiên cứu vòng đời của Thelohanellus kitaueicó liên quan đến Branchiura sowerbyi Cơ quan kiểm dịch động vật và thực vật của Hàn Quốc (Animal and Plant Quarantine Agency) có đưa ra những hình ảnh của bệnh do Thelohanellus kitauei gây ra trên cá chép. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tình hình nghiên cứu về trùng bào tử sợi (Myxosporea) ở Việt Nam Trong cuốn ”Kí sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam” của tác giả Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), cho thấy có đã phát hiện hơn 40 loài thuộc 6 giống trên cá nước ngọt Việt Nam, 2 tác giả đã mô tả đặc điểm về bào tử và bào nang của hơn 40 loài TBTS. Ví dụ hai loài Myxobolus koi và Myxobolus toyamai đã gây thành dịch bệnh ở cá chép hương từ giai đoạn hương sang giống. Khi ca nhiễm bệnh nặng (nhất cá là cá chép Hungari nhập nội) trong mang phát triển dày đặc các bào nang như những hạt tấm, mắt thường có thể thấy được. Các không đóng nổi nắp mang.
Trong thời gian ngắn (2-7 ngày) cá chết hàng loạt.