Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sỏi mật ở người tày trưởng thành tại hai huyện định hóa võ nhai tỉnh thái nguyên và hiệu quả một số giải pháp can thiệp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành tại Định Hóa, Võ Nhai, Thái Nguyên và hiệu quả các giải pháp can thiệp.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2010

172
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Dịch tễ học bệnh sỏi mật

1.2. Dịch tễ học bệnh sỏi mật trên thế giới. Dịch tễ bệnh sỏi mật ở Việt Nam. Một số yếu tố nguy cơ của bệnh sỏi mật

1.3. Uống thuốc tránh thai và điều trị estrogen thay thế. Tiền sử gia đình và yếu tố gen. Bệnh đái tháo đường. Giảm vận động thể lực. Sử dụng cà phê. Phong tục tập quán của người Tày liên quan đến bệnh sỏi mật

1.4. Tập quán ăn nhiều cơm, nhiều mỡ. Tập quán uống nhiều rượu. Tập quán ở nhà sàn, nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn. Phòng bệnh sỏi mật

1.5. Một số giải pháp dự phòng bệnh sỏi mật. Một số giải pháp huy động cộng đồng truyền thông phòng chống bệnh tật nói chung hay chăm sóc sức khỏe ban đầu nói chung. Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu

1.6. Xã Phượng Tiến. Xã Thượng Nung.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định tính. Chỉ số nghiên cứu. Giải pháp can thiệp. Phương pháp thu thập số liệu. Phương pháp đánh giá kết quả. Phương pháp khống chế sai số

2.6. Xử lý số liệu

2.7. Đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên

3.2. Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu. Dịch tễ bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành tại Thái Nguyên. Một số yếu tố nguy cơ của bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên. Kết quả can thiệp

3.3. Xây dựng giải pháp can thiệp. Kết quả thực hiện giải pháp can thiệp. Một số đặc điểm dịch tễ học và một số yếu tố nguy cơ bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên

4. Dịch tễ học bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành. Yếu tố nguy cơ bệnh sỏi mật. Hiệu quả can thiệp

4.1. Giải pháp can thiệp. Hiệu quả của giải pháp can thiệp. Một số điểm hạn chế của nghiên cứu

KẾT LUẬN

1. Dịch tễ bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên

2. Giải pháp can thiệp phòng bệnh sỏi mật và Hiệu quả can thiệp

KHUYẾN NGHỊ

CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Dịch tễ học bệnh sỏi mật

Bệnh sỏi mật là một bệnh lý phổ biến trên toàn cầu, với tỷ lệ mắc bệnh khác nhau tùy theo khu vực địa lý và chủng tộc. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở các nước Scandinavian, Chile và người Mỹ gốc Ấn Độ, trong khi tỷ lệ thấp hơn được ghi nhận ở các nước như Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản. Dịch tễ học của bệnh sỏi mật cho thấy sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh trong những năm gần đây, liên quan đến thay đổi lối sống và chế độ ăn uống. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật cũng đang có xu hướng tăng, đặc biệt ở các cộng đồng dân tộc thiểu số như người Tày tại Thái Nguyên.

1.1. Tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật trên thế giới

Tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật dao động từ 10-15% ở các nước phát triển như Mỹ và châu Âu. Nghiên cứu của Portincasa Piero (2006) cho thấy tỷ lệ này tương tự ở các nước phương Tây. Tại các nước đang phát triển, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn, nhưng vẫn đáng kể, đặc biệt ở các khu vực có điều kiện vệ sinh kém và chế độ ăn uống không lành mạnh.

1.2. Phân bố bệnh sỏi mật theo chủng tộc và giới tính

Nghiên cứu của Stintoncho L. (2010) chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật ở phụ nữ Mỹ gốc Ấn Độ cao hơn đáng kể so với nam giới. Tương tự, tại các nước châu Á, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới cũng cao hơn nam giới, đặc biệt ở nhóm tuổi trung niên và cao tuổi.

II. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sỏi mật ở người Tày tại Thái Nguyên

Người Tày là một trong những dân tộc thiểu số lớn tại Việt Nam, với đặc điểm cư trú chủ yếu ở các vùng núi và trung du. Thái Nguyên là một trong những tỉnh có tỷ lệ người Tày cao, với điều kiện kinh tế và vệ sinh môi trường còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành tại Thái Nguyên cao hơn so với các nhóm dân tộc khác, liên quan đến thói quen ăn uống và lối sống.

2.1. Yếu tố nguy cơ mắc bệnh sỏi mật

Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm thói quen ăn nhiều mỡ, uống rượu và điều kiện vệ sinh môi trường kém. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật tăng cao ở những người có tiền sử gia đình mắc bệnh và những người ít vận động thể lực.

2.2. Tình hình bệnh sỏi mật tại Thái Nguyên

Tại Thái Nguyên, tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành được ghi nhận là cao hơn so với các nhóm dân tộc khác. Điều này liên quan đến điều kiện sống và thói quen sinh hoạt của cộng đồng này.

III. Hiệu quả can thiệp y tế trong phòng chống bệnh sỏi mật

Nghiên cứu đã đề xuất và thực hiện các giải pháp can thiệp nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật ở người Tày tại Thái Nguyên. Các biện pháp bao gồm giáo dục sức khỏe, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường và khuyến khích thay đổi thói quen ăn uống.

3.1. Giải pháp can thiệp

Các giải pháp can thiệp bao gồm tổ chức các buổi truyền thông giáo dục sức khỏe, cung cấp kiến thức về phòng chống bệnh sỏi mật, và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường tại các hộ gia đình.

3.2. Kết quả can thiệp

Sau 24 tháng thực hiện can thiệp y tế, tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật ở người Tày tại Thái Nguyên đã giảm đáng kể. Điều này cho thấy hiệu quả của các biện pháp can thiệp trong việc cải thiện sức khỏe cộng đồng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sỏi mật ở người tày trưởng thành tại hai huyện định hóa võ nhai tỉnh thái nguyên và hiệu quả một số giải pháp can thiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Dịch tễ học bệnh sỏi mật 1. Dịch tễ học bệnh sỏi mật trên thế giới 1. Tỷ lệ bệnh Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sỏi mật, các nghiên cứu cho thấy sỏi mật là một bệnh khá phổ biến ở các quốc gia khác nhau ở các nước phát triển cũng như đang phát triển , ,.

Tỉ lệ hiện mắc sỏi mật chung dao động trong khoảng 10 - 15% , tỉ lệ cao nhất gặp ở các nước Scandinavian, Chile và những người dân gốc Mỹ. Các quốc gia có tỉ lệ bị sỏi mật ít hơn như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ai Cập. Tỉ lệ sỏi mật đang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, đặc biệt là sự tăng tỉ lệ này có liên quan đến sự thay đổi lối sống ,. Nghiên cứu của Portincasa Piero và cộng sự (cs) (2006) cho biết tỉ lệ sỏi mật ở Mỹ và Châu Âu dao động 10 - 15%.

Phân bố bệnh sỏi mật Tại Mỹ, ở một số chủng tộc khác nhau thì có tỉ lệ sỏi mật cũng khác nhau. Nghiên cứu Stintoncho L. và cs (2010) thấy tỉ lệ sỏi mật ở phụ nữ Mỹ gốc Ấn Độ chiếm 64,1% và tỉ lệ sỏi mật ở nam giới Mỹ gốc Ấn Độ 29,5%. Tỉ lệ sỏi mật ở những người Mỹ da đen hay ở người vùng Đông Á thấp hơn các chủng tộc khác và tỉ lệ mắc bệnh này hiếm gặp hơn ở những người vùng cận sa mạc Sahara.

Nghiên cứu của Ruhl Constance E. và cs (2011) tại Mỹ trên 14.228 người tuổi từ 20 - 74 trong năm cho kết quả về tỉ lệ bệnh sỏi mật 7,1%, và tỉ lệ phải phẫu thuật cắt bỏ túi mật là 5,3%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sỏi mật làm tăng nguy cơ tử vong cho người dân Mỹ trong tổng số các nguyên nhân gây tử vong. Báo cáo nghiên cứu của Shaffer Eldon A.

(2006) cho thấy hàng năm ở Mỹ có hơn 700.000 ca phẫu thuật cắt bỏ túi mật với chi phí 4 y tế hơn 6,5 tỉ USD; gánh nặng này chủ yếu gặp ở người Mỹ gốc Ấn Độ, ít xuất hiện hơn ở người Mỹ da trắng. Sỏi mật ở các nước phương Tây thường là sỏi túi mật và có thành phần chủ yếu cholesterol (với thành phần sỏi 50 - 80% là cholesterol) ,. Để đánh giá tỉ lệ hiện mắc sỏi mật ở Achentina, Brasca A. và cs (2000) đã tiến hành nghiên cứu chọn ngẫu nghiên dân số thành phố Rosario với tổng số đối tượng nghiên cứu là 1.173 người, tỉ lệ hiện mắc sỏi mật ở Achentina 20,5% (23,8% ở nữ và 15,5% ở nam).

Farzaneh Sheikh Ahmad E và cs (2007) nghiên cứu phẫu tích 253 xác người trên 13 tuổi, thấy tỉ lệ hiện mắc sỏi mật chung 6,3% (trong đó 4,7% ở nam; 8,6% ở nữ; sự khác nhau về giới ở bệnh nhân bị bệnh sỏi mật không có ý nghĩa thống kê với p = 0,216), có mối liên quan thuận giữa tuổi và tỉ lệ mắc sỏi mật (với p = 0,033) và thành phần sỏi phổ biến nhất là cholesterol và oxalate. Nghiên cứu của Halldestam Ingvar (2008) ở Thụy Điển, tỉ lệ người trưởng thành bị bệnh sỏi mật là 17,2% ở nữ giới và 12,4% ở nam giới; tỉ lệ sỏi mật tăng dần theo tuổi và cao hơn ở nữ; tỉ lệ sỏi mật ở nữ nhóm tuổi từ 35 - 44 là 10,0%; 45 - 54 là 3,9%; 55 - 64 là 13,5%; 64 - 74 là 5,7% và ≥ 75 là 26,7%. Tỉ lệ sỏi mật ở nam từ 45 - 54 là 7,4%; 55 - 64 là 7,8%; 64 - 74 là 7,9% và ≥ 75 là 12,5%. Tại Italia, nghiên cứu trên 11.229 người tuổi từ 29 - 69 được siêu âm để chẩn đoán sỏi mật của Festi D và cs (2010) cho kết quả: tổng số bệnh nhân mắc sỏi mật là 856 với tỉ lệ hiện mắc 7,1%; trong số các bệnh nhân bị mắc sỏi mật 73,1% bệnh nhân có triệu chứng của bệnh; 11,8% có triệu chứng bệnh mức độ nhẹ và 15,1% có biểu hiện triệu chứng bệnh mức độ nặng , [51].

Nghiên cứu ở Anh của Heaton K. Tỉ lệ hiện mắc sỏi mật không chỉ cao ở các nước phát triển có mức sống cao mà còn phổ biến ở các nước đang phát triển có mức sống thấp và hoạt động thể lực nhiều.L và cộng sự (2000) nghiên cứu cắt ngang trên 5 cộng đồng sống quanh các khu vực ngoại ô Liam, Peru và so sánh tỉ lệ mắc sỏi mật giữa người dân bản xứ miền biển và dân bản xứ vùng núi cao Sierra, tổng số đối tượng nghiên cứu là 1.534 trường hợp trên 15 tuổi. Kết quả cho thấy tỉ lệ mắc sỏi mật ở nữ (16,1/100 dân, 95% CI : 13,8 - 18,2) cao hơn ở nam (10,7/100 dân, 95% CI: 8,0 - 13,4). Nữ có yếu tố nguy cơ mắc sỏi mật cao hơn ở nam, đặc biệt khi họ sử dụng thuốc uống tránh thai hoặc có nhiều hơn 4 con.

Nghiên cứu của Salinas G. và cs (2004), tỉ lệ mắc sỏi mật chung ở Lima, Peru là 15,0%. Tỉ lệ mắc sỏi mật ở nam giới là 14,0% và nữ giới là 16,0%. Theo nghiên cứu của Chapman B.A và cs (2000), tỉ lệ hiện mắc sỏi mật chung tại Christchurch, New Zealand trong năm 2000 là 20,75%, trong đó nữ là 23,1%, nam là 18,1%.

Nghiên cứu của Dhar C.S và cộng sự (2001) trên 1332 đối tượng tuổi trên 15 ở vùng nông thôn Banglades cho thấy tỉ lệ sỏi mật là 5,4%; trong đó nữ là 7,7%, nam là 3,3%; tỉ lệ này tăng lên từ 0,9% ở tuổi dưới 30 lên 10% ở tuổi trên. Nghiên cứu tại Arập của Abu - Eshy S. và cs (2007), thấy tỉ lệ sỏi mật là 11,7%. Nghiên cứu cho thấy, sỏi mật ở Châu Á - vùng nhiệt đới phần lớn là sỏi ở ống mật, sỏi có thành phần chủ yếu là sắc tố mật , , và tỉ lệ sỏi ống mật chủ kết hợp với sỏi trong gan chiếm tỉ lệ 20% - 40% trong tổng số các loại sỏi mật.

Tuy nhiên, hiện nay tỉ lệ sỏi túi mật và loại sỏi Cholesterol có khuynh hướng gia tăng, có lẽ do ảnh hưởng của môi trường và ăn uống trong khi đó sỏi ống mật lại có xu hướng giảm do vệ sinh môi trường được cải thiện và ý thức vệ sinh của người dân được nâng cao hơn [58]. và cộng sự nghiên cứu trên 1.441 người Đài Loan ở lứa tuổi trên 60 thấy: 171 người có sỏi túi mật và 65 người đã được mổ cắt bỏ túi mật do sỏi. Tỉ lệ sỏi túi mật nói chung trong nhóm nghiên cứu chiếm 16,6%. Nghiên cứu của Chen C.H và cs (2006) ở Đài Loan, tỉ lệ sỏi mật chung là 5,0%.

Tỉ lệ sỏi mật ở nam giới là 4,6% và ở nữ giới là 5,4%. Nghiên cứu của Huang J. và cs (2009) ở Đài Loan, tỉ lệ nhập viện do sỏi mật ở nhóm tuổi 20 - 39 ngày càng tăng. 6 Nghiên cứu của Huang Zhi - Quang (1998), trong những năm 50 ở Trung Quốc sỏi ống mật chủ chiếm 50% tổng số sỏi mật, tỉ lệ sỏi trong gan 38%; giai đoạn từ 1983 đến 1985 sỏi ống mật chủ chiếm 36,2% trùng hợp với tỉ lệ tăng sỏi túi mật từ những năm 70.

Mười năm sau, mô hình sỏi mật ở Trung Quốc đã thay đổi, sỏi túi mật tăng từ 69,3% lên 78,9% vào năm 1992 trong khi sỏi ống mật chủ giảm xuống từ 30,7% còn 21,1%. Nghiên cứu hồi cứu tại bệnh viện trường Y Trung Quốc từ tháng 01 - 12 năm 2000 cho thấy tỉ lệ hiện mắc sỏi túi mật 7,8% ở nữ và 6,5% ở nam. Nghiên cứu trên 10.461 công nhân hóa dầu của Mao Y. và cs (2013) tại Trung Quốc, tỉ lệ phẫu thuật sỏi mật là 0,9%; tỉ lệ sỏi mật là 5,2% và polyp túi mật là 7,4%.

Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Singh V. và cs (2001) trên 248 người đến khám tại các cơ sở y tế tại vùng Chandigarh, có 31 người trong tổng số 248 người được siêu âm phát hiện có sỏi mật, tỉ lệ hiện mắc sỏi mật 12,5%. Trong số bệnh nhân sỏi mật có 27 bệnh nhân nữ và 04 bệnh nhân nam. Phần lớn (67,0%) bệnh nhân sỏi mật thuộc nhóm tuổi từ 20 - 60 tuổi.

Nghiên cứu về sỏi mật ở vùng Đông Nam Iran của Ansari - Moghaddam A. và cs (2016), tỉ lệ sỏi mật ở người trưởng thành từ 30 tuổi trở lên tại vùng này là 2,4%. Tỉ lệ sỏi mật ở nam giới là 1,4% và ở nữ giới là 4,0%. Tỉ lệ sỏi mật ở người từ 30 - 44 tuổi là 1,3% và ≥ 45 tuổi là 3,7%.

Sỏi mật là bệnh có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Theo Bateson nghiên cứu tại Anh, tỉ lệ mới mắc sỏi mật ở giai đoạn 1974 - 1998 cao hơn so với tỉ lệ mắc sỏi mật giai đoạn 1953 - 1973. Tỉ lệ phẫu thuật cắt bỏ túi mật ngày càng tăng, đặc biệt là từ những năm 90 (từ khi bắt đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt bỏ túi mật) .S (2010), cùng với sự thay đổi thói quen ăn uống, ít tập thể dục, tăng béo phì. thì tỉ lệ bệnh sỏi mật sẽ có tăng lên trên toàn thế giới.

Về tỉ lệ mắc mới sỏi mật: tại Italia, nghiên cứu trên 9.611 người tuổi từ 30-79 của Festi Davide và cs (2008), kết quả tỉ lệ mắc mới sỏi mật 0,67% 7 /năm, trong đó tỉ lệ mắc mới sỏi mật ở nam 0,66%/năm và ở nữ là 0,81%/năm. Nghiên cứu của Halldestam I. và cs (2009) tại Thụy Điển, tỉ lệ mắc mới sỏi mật ở người trưởng thành 35 - 85 tuổi là 8,3%; với tỉ lệ mắc mới là 1,39/100 người /năm. Sỏi mật không chỉ có tỉ lệ hiện mắc và mới mắc cao mà còn có xu hướng tăng theo thời gian.C (2000) nghiên cứu tại Anh, tỉ lệ mới mắc sỏi mật cao hơn nhiều ở giai đoạn 1974 - 1998 so với giai đoạn 1953 - 1973.

Không chỉ gặp ở người trưởng thành, sỏi mật đang có xu hướng gia tăng và xuất hiện ở trẻ em, thanh thiếu niên. Nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu là do thay đổi thói quen ăn uống, lối sống và các hành vi có liên quan đến sức khỏe. Nghiên cứu của Kratzer W. và cs (2009), tỉ lệ mắc sỏi túi mật ở trẻ em, thanh niên là 1,0% và yếu tố nguy cơ gây bệnh sỏi mật ở nhóm đối tượng này chính là do béo phì.

Do đó các giải pháp dự phòng bệnh cần phải tập trung chú ý vào xu hướng tăng dần của bệnh , đặc biệt là sự xuất hiện của bệnh ở nhóm đối tượng là trẻ em.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu dịch tễ bệnh sỏi mật ở người Tày trưởng thành tại Thái Nguyên và hiệu quả can thiệp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bệnh sỏi mật trong cộng đồng người Tày tại Thái Nguyên. Nghiên cứu này không chỉ phân tích tỷ lệ mắc bệnh mà còn đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp y tế. Những thông tin này rất hữu ích cho các chuyên gia y tế, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến sức khỏe cộng đồng, giúp họ hiểu rõ hơn về bệnh lý này và các phương pháp điều trị hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân viêm tuyến giáp mạn tính hashimoto tại bệnh viện trung ương thái nguyên, nơi cung cấp thông tin về bệnh lý tuyến giáp, hay Đặc điểm cấu trúc khối cơ thể và hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân gút điều trị tại bệnh viện trung ương thái nguyên, giúp bạn hiểu thêm về hội chứng chuyển hóa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các bệnh lý phổ biến hiện nay.