Chương 1 TÔNG QUAN 1. Đại cương về bệnh gút 1. Định nghĩa Gút là bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, có đặc điểm chính là tăng acid uric máu, bão hòa acid uric ở dịch ngoại bào gây lắng đọng tinh thể monosodium urat ở các mô [2]. Dịch tễ học bệnh gút Tỷ lệ tăng acid uric và bệnh gút có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới, ở các nước đang phát triển bệnh có xu hướng tăng lên với 95% là nam giới, trung niên [19].
Nghiên cứu của Dehlin M và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc bệnh gút ở Tây Thụy Điển là năm 2012 là 1,8% [28]. Tại Đài Loan (năm 2010), cứ 16 người thì có 1 người bị bệnh gút, trong khi tỷ lệ mắc bệnh đã giảm nhưng tỷ lệ hiện mắc vẫn không thay đổi [46]. Tại Việt Nam trong giai đoạn 1978-1989 tỷ lệ bệnh gút chiếm 1,5% các bệnh nhân mắc bệnh cơ xương khớp điều trị nội trú tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai và theo một nghiên cứu trong 10 năm (1991-2000). Tỷ lệ này là 6,1% (1991-1995) và 10,6% (1996-2000).
Có 99% bệnh nhân gút nước ta là nam giới, trên 30 tuổi [9]. Đa số các trường hợp này được phát hiện muộn, ở giai đoạn đã có biểu hiện ở các nội tạng (thận, da…). Bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh Nguồn gốc acid uric: - Thoái hóa các chất có nhân purin do thức ăn mang vào. - Thoái hóa các chất có nhân purin trong cơ thể.
- Tham gia vào quá trình hình thành acid uric trên cần sự tham gia của các enzm: nuclease, xanhthin oxydase, hypoxanthinguanin phosphoriboxin – 4 transferase (HPRT). - Tổng hợp các purin theo con đường nội sinh. Chuyển hóa acid uric Bình thường nồng độ acid uric trong cơ thể được giữ ở mức hằng định do sự cân bằng giữa quá trình tổng hợp và đào thải. Acid uric chủ yếu được đào thải qua đường thận và một phần qua phân và các đường khác.
Ở người này bị mất cân bằng sẽ gây nên biến đổi lượng acid uric trong cơ thể. Acid uric máu tăng khi nồng độ acid uric vượt quá giới hạn của độ hòa tan urat trong huyết thanh [14]. Cơ chế bệnh sinh Sự tích lũy acid uric ở mô, tạo nên các microphi. Khi các hạt tophi tại sụn khớp vỡ sẽ khởi phát cơn gút cấp do sự lắng đọng vi tinh thể tại khớp, trong màng hoạt dịch, trong mô sụn và mô xương sẽ dẫn đến bệnh xương khớp mạn tính do gút, sự có mặt vi tinh thể urat tại mô mềm, bao gân tạo nên hạt tophi và cuối cùng viêm thận kẽ là do tinh thể urat lắng đọng tại tổchức kẽ của thận.
Acid uric niệu tăng và sự toan hóa nước tiểu dẫn đến sỏi tiết niệu trong bệnh gút. Phân loại gút Theo nguyên nhân - Gút nguyên phát: Chiếm đa số, nguyên nhân chưa rõ, có thể do di truyền và thức ăn. Hay gặp ở nam giới, ăn nhiều hải sản, uống bia rượu. Một số có yếu tố di truyền.
- Gút thứ phát: Ít gặp hơn. Nguyên nhân chính là do suy thận mạn tính và dùng thuốc lợi tiểu. Các 5 nguyên nhân khác có thể gặp là bệnh máu (leukemia, thiếu máu huyết tán, đa u tủy xương), vảy nến diện rộng, suy giáp, chấn thương, nhiễm khuẩn. - Gút do bất thường về enzyme: Là bệnh di truyền do thiếu hụt enzym HGPRT (Hypoxanthine- guaninephosphoribosyltransferase), rất hiếm gặp, thường thấy ở bé trai.
- Bệnh não tăng acid uric Lesch Nyhan: Thiếu hoàn toàn enzym. Bệnh kết hợp bệnh não với hành vi tự cắt xẻo, gút nặng, sỏi thận. - Thiếu hụt một phần enzym: Gút nặng, sỏi thận, bắt đầu trước 25 tuổi. - Tăng hoạt tính enzym Phosphoribosyl pyrophosphate: Hiếm gặp.
Theo thể lâm sàng - Gút cấp tính Cơn gút cấp điển hình: xuất hiện tự phát hoặc khởi phát sau bữa ăn uống nhiều rượu thịt, sau phẫu thuật, stress. Tiền triệu: rối loạn thần kinh, đau đầu, trạng thái kích thích mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, rối loạn tiểu tiện. Đặc biệt là các triệu chứng tại chỗ: khó cử động chi dưới, nổi tĩnh mạch, tê bì ngón chân cái. Triệu chứng cơ năng: khớp đau dữ dội, bỏng rát, thường xuyên đau đến cực độ, đau làm bệnh nhân mất ngủ.
Cơn đau tăng lên về đêm, có thể kèm theo sốt 38 – 39oC, có thể sốt rét run. Cơn đau từ vài ngày đến vài tuần giảm dần không để lại di chứng. Triệu chứng thực thể: khớp bị tổn thương sưng, da trên đó hồng hoặc đỏ, khớp lớn có thể tràn dịch, khớp nhỏ phù nề. Xét nghiệm acid uric máu tăng cao nam >7 mg/l (420 µmol/l), nữ > 6 mg/l (360 µmol/l).
Dịch khớp viêm có tinh thể tinh thể urat. Đáp ứng điều trị với colchicin, cơn đau thuyên giảm hoàn toàn sau 48 giờ. 6 - Cơn không điển hình: + Biểu hiện tại chỗ ưu thế: Dễ nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn. + Biểu hiện tràn dịch chiến ưu thế: Thường ở khớp gối, diễn biến bán cấp, dễ nhầm với lao khớp.
+ Biểu hiện toàn thân: Suy nhược, trong khi hiện tượng viêm tại chỗ không đáng kể. + Biểu hiện bằng viêm nhiều khớp cấp: Dấu hiệu gợi ý là khởi phát đột ngột, viêm 3 - 4 khớp, thường ở chi dưới. Thể này thường gặp trong giai đoạn tiến triển của bệnh. + Biểu hiện cạnh khớp cấp tính: Biểu hiện cạnh khớp đơn độc hoặc kèm theo cơn gút cấp, nhất là viêm gân Achille, viêm túi thanh mạc khuỷu tay, hoặc hiếm gặp hơn có thể viêm tĩnh mạch [9].
- Gút mạn tính: Thường sau cơn gút cấp từ một tới vài năm với biểu hiện: Hạt tophi, tổn thương xương, tổn thương thận. Biểu hiện lâm sàng, sinh hóa, X-Quang là sự tích lũy urat ở các mô. + Hạt tophi: Không đau, rắn, số lượng và kích thước thay đổi. Da phủ trên hạt thường mỏng có thể nhìn thấy màu trắng nhạt của các tinh thể urat trong hạt.
Vị trí thường gặp vành tai, mỏm khuỷu, cạnh các khớp tổn thương hoặc trong các gân. + Tổn thương xương khớp: Biểu hiện viêm bán cấp kèm theo những đợt tiến triển cấp tính. Tại các khớp, tinh thể urat kết tủa và gây ra tình trạng viêm khớp, liệt chức năng khớp hay gặp các khớp nhỏ nhỡ chi dưới [61]. + X-Quang: Hình ảnh bào mòn xương, khuyết xương hình hốc ở xa vị trí bám của màng hoạt dịch.
Có sự tân tạo xương đôi khi có nhiều gai xương. Ngoài ra có thể thấy hình ảnh sưng phần mềm cạnh khớp, hẹp khe khớp. + Tổn thương thận: Có ba loại hình tổn thương 7 Sỏi urat thường biểu hiện bằng cơn đau quặn thận hoặc có thể chỉ đái máu. Sỏi không cản quang.
Bệnh thận do gút: Protein niệu không thường xuyên và vừa phải, đái máu, bạch cầu niệu vi thể. Mô bệnh học lắng đọng urat ở kẽ thận bao quanh bởi thâm nhiễm tế bào khổng lồ. Suy thận cẩp do lắng đọng acid uric trong các ống thận và niệu quản, thường ở bệnh nhân bệnh máu ác tính điều trị hóa chất. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút Tiêu chuẩn chẩn đoán gút ACR/EULAR 2015[64] * Bước 1: Tiêu chuẩn đầu vào: ≥ 1 đợt sưng đau 1 khớp ngoại vi hay bao hoạt dịch (bao thanh dịch).
* Bước 2: Tiêu chuẩn vàng: Phát hiện tinh thể urat trong 1 khớp có triệu chứng hay bao hoạt dịch (tức là, trong dịch khớp) hoặc hạt tophi * Bước 3: Nếu không phát hiện được tinh thể urat Lâm sàng: 1. Đặc điểm của viêm một hay vài khớp: + Khớp cổ chân hay giữa bàn chân (ngoại trừ khớp bàn ngón chân cái) (1đ). + Khớp bàn ngón chân cái (2đ) 2. Tính chất đợt viêm cấp - Đỏ khớp - Không chịu được lực ép hoặc sờ vào khớp viêm - Khó khăn khi đi lại hay vận động khớp + 1 tính chất (1đ) + 2 tính chất (2đ) + 3 tính chất (3đ) 8 3.
Đặc điểm thời gian (có ≥ 2 đợt đau cấp, không sử dụng thuốc kháng viêm): - Thời gian đau tối đa < 24h - Khỏi triệu chứng đau ≤ 14 ngày - Khỏi hoàn toàn giữa các đợt cấp + 1 đợt điển hình (1đ) + Nhiều đợt tái phát điển hình (2đ) 4. Hạt tophi + Không (0đ) + Có (4đ) Cận lâm sàng: 1. Xét nghiệm acid uric máu + < 240 μmol/l (-4đ) + 240 - < 360 μmol/l (0đ) + 360 - < 480 μmol/l (2đ) + 480 - < 600 μmol/l (3đ) + ≥ 600 μmol/l (4đ) 2. Xét nghiệm dịch khớp + Không phát hiện tinh thể urat (-2đ) 3.
Chẩn đoán hình ảnh - DECT (dual energy computed tomography: chụp cắt lớp vi tính năng lượng kép) scanner: bắt màu urat đặc biệt. - Siêu âm: Dấu hiệu đường đôi + Có 1 trong 2 bằng chứng (4đ) 4. Xquang: Hình ảnh bào mòn xương ở bàn tay hoặc bàn chân + Hiện diện (4đ) Chẩn đoán Gút khi tổng điểm ≥ 8đ. Các yếu tố nguy cơ của bệnh gút - Giới tính: Đa số bệnh nhân gút là nam giới (90-95%).
- Tuổi: Tuổi mắc bệnh gút ở nam giới thường là 30-35 và ngày càng có xu hướng trẻ hóa, với nữ giới thường gặp ở lứa tuổi sau mãn kinh. - Tình trạng uống rượu bia: nghiện rượu làm thúc đẩy cơn gút cấp ở người nhậy cảm. Nghiện rượu nặng trong thời gian dài dẫn đến tăng acid uric máu do giảm khả năng đào thải của thận và tăng sản xuất acid uric, một số đồ uống có cồn đặc biệt là bia cũng là nguồn thực phẩm giầu purin [16]. - Béo phì: Một số đối tượng có chỉ số khối cơ thể (BMI) > 25 tăng nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với người bình thường.
- Tăng acid uric và các rối loạn chuyển hóa khác: tăng glucose máu, rối loạn chuyến hóa lipid máu, tăng huyết áp hay xơ vữa mạch vành là các rối loạn chuyến hóa thường kết hợp với bệnh gút. - Tăng acid uric máu và bệnh gút có liên quan đến các bệnh đi kèm tim mạch và nguy cơ tim mạch cao [63]. - Thuốc: Dùng kéo dài một số thuốc ảnh hưởng đến khả năng tồng hợp hoặc giảm thải acid uric dẫn đến tăng acid uric máu như: Thiazid, furosemid, aspirin, pyrazynamid. - Yếu tố gia đình.
- Các bệnh lý liên quan: Một số bệnh mạn tính có liên quan đến bệnh gút và tăng acid uric máu trong đó hay gặp nhất là bệnh thận. Bệnh gút cũng liên quan với béo phì, đái tháo đường, tăng lipid máu và xơ vữa động mạch [15]. Cấu trúc khối cơ thể và hội chứng chuyển hóa 1. Cấu trúc khối cơ thể 1.
Sơ lược về cấu trúc khối cơ thể Cấu tạo cơ thể bao gồm nước, protein, khoáng chất và chất béo. Tổng lượng chất béo cơ thể bao gồm các chất béo thiết yếu và các chất béo lưu trữ.