Đặt vấn đề Từ lâu chó đã trở thành con vật gần gũi với đời sống con người. Khác hẳn với các loài vật nuôi khác, chó có các giác quan rất phát triển, đặc biệt là khả năng thị giác, thính giác cao hơn rất nhiều so với con người, do đó từ xưa con người đã biết thuần hóa, huấn luyện, nuôi chó với nhiều mục đích khác nhau: làm cảnh, giữ nhà, làm bạn, làm chó nghiệp vụ, săn thú…. Chó được nuôi ở tất cả các nước trên thế giới. Tại các nước phát triển, chó được nuôi, chăm sóc, khám chữa bệnh rất cẩn thận và có cả những quy định bảo vệ chó.
Ở nước ta, những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết của con người và phục vụ những mục đích kinh tế khác nhau. Chó được nuôi nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó cũng ngày càng nhiều hơn. Bệnh dịch không những gây thiệt hại cho chó mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Những bệnh gây nguy hiểm cho chó như các bệnh dại, Care, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus, bệnh do ký sinh trùng… Trong đó bệnh Care là một bệnh truyền nhiễm gây nguy hiểm đặc biệt cho chó và gây thiệt hại lớn do tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao.
Bệnh thường xảy ra ở chó non với các triệu trứng như sốt, viêm cata ở niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc đường hô hấp, viêm phổi, nổi mụn ở da và những triệu chứng thần kinh. Bệnh lây lan mạnh và dễ lẫn với các bệnh khác trên chó. Vì vậy, vấn đề cấp thiết là phải tìm ra biện pháp chẩn đoán nhanh, chính xác để từ đó có những biện pháp phòng và trị bệnh một cách có hiệu quả. Xuất phát từ thực tế trên, được sự hướng dẫn của Th.S Đoàn Quốc Khánh, sự phân công của khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh Care (Canine distemper) ở chó tại tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định tình hình mắc bệnh Care ở chó tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Thử nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh cho chó mắc bệnh Care mang lại hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và quy trình phòng chống bệnh Care (Canine distemper) ở chó.
Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người nuôi áp dụng quy trình phòng và trị bệnh Care ở chó, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và giảm bớt thiệt hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao chất lượng chăn nuôi, thúc đẩy nghề nuôi chó phát triển. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Hiểu biết chung về loài chó 2.
Nguồn gốc Loài chó được con người thuần hóa từ rất sớm và được nuôi rộng rãi ở khắp các quốc gia trên thế giới. Các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc loài chó. Theo Đac uyn, chó nhà được sinh ra từ các cuộc tạp giao tự nhiên giữa chó sói, cầy, cáo và được con người thuần hóa, nuôi dưỡng chọn giống thích hợp thành thành chó nhà thuần dưỡng. Nhà khoa học cho rằng có những nhóm chó có tổ tiên từ chó sói và nhóm chó khác có nguồn gốc từ chó rừng.
Một số khác cũng cho rằng những chó nhà có nguồn gốc từ chó hoang dã vùng Châu Á như nhóm Dingo và chó Cen Dinggo rất giống với chó sói nhỏ Ấn Độ. Như vậy, dựa trên những thành tựu nghiên cứu về cổ sinh vật học và di truyền học, các nhà khoa học đã xác định được tổ tiên của loài chó nhà hiện nay là một số loài chó sói sống hoang dã ở các vùng sinh thái khác nhau trên thế giới. Cách đây khoảng 15000 năm con người đã thuần hoá với mục đích phục vụ cho việc săn bắt, sau đó là giữ nhà và làm bạn với con người (Tô Du và Xuân Giao, 2006) [5]. Trung tâm thuần hoá chó cổ nhất có lẽ là vùng Đông Nam á, sau đó được du nhập vào Châu úc, lan ra khắp Phương Đông và đến Châu Mỹ.
Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ trung kỳ đồ đá mới, khoảng 3000 - 4000 năm trước Công Nguyên (cách đây 5000 - 6000 năm). Tập hợp những giống chó nhà được nuôi hiện nay trên thế giới có khoảng 400 giống, được gọi là loài chó nhà (Canis familiars), thuộc họ chó (Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia) (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 1992) [8]. Những giống chó đang được nuôi ở Việt Nam * Một số giống chó địa phương n 4 Nhóm chó ta hay chó nội địa được người dân thuần hóa và nuôi dưỡng cách đây 3000 - 4000 năm trước công nguyên. Ở nước ta có tập quán nuôi chó thả rông vì thế sự phối giống một cách tự nhiên giữa các giống chó kết quả là tạo ra nhiều thế hệ con lai với đặc điểm ngoại hình rất đa dạng và nhiều tên gọi dựa vào màu sắc bộ lông và từng địa phương để gọi tên.
Chó Vàng: Đây là giống chó nuôi phổ biến nhất, có tầm vóc trung bình, cao 50 - 55cm, nặng 12 - 15kg, có bộ lông vàng tuyền, là giống chó săn được nuôi đề giữ nhà, săn thú (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [9]. Chó cái thường nhỏ hơn chó đực. Đây là giống chó nhanh nhẹn, hoạt bát, có sự thích ứng tốt với điều kiện ngoại cảnh, ít bị ốm, dễ ăn uống và bơi lội giỏi (Nguyễn Văn Thanh và cs, 2012) [17]. Chó Lào: Thường thấy ở vùng trung du và miền núi, có bộ lông xồm, màu khung với hai vệt trắng trên mí mắt.
Có tầm vóc lớn hơn chó H’Mông, cao 60 - 65cm, nặng 18 - 25kg. Được nuôi nhiều ở vùng núi phía Bắc và Tây Bắc nước ta (Lê Văn Thọ, 1997) [19]. Chó H’Mông: Đây là giống chó gắn liền với lịch sử phát triển của người H’Mông. Thích nghi tốt với điều kiện sống ở miền núi cao, được dùng để giữ nhà, săn thú, có tầm vóc lớn hơn chó vàng, chiều cao 55 - 60cm, nặng 18 - 20kg (Lê Văn Thọ, 1997) [19].
Chó miền núi: Có tầm vóc cao to, tai vểnh, quen với khí hậu vùng cao. Chó Phú Quốc: Có nguồn gốc từ bán đảo Phú Quốc - Việt Nam, thể hình khá lớn, chó cao 60 - 65cm, nặng 20 - 25kg, là giống chó tinh khôn, màu sắc lông một màu có thể vàng đen, vện, xám, hoặc màu lá úa, đường lưng thẳng, trên lưng có một xoáy dài. Chó Phú Quốc rất thông minh, nhanh nhẹn và có thể huấn luyện tốt, nhân dân ta thường sử dụng để làm chó đi săn, giữ nhà hoặc làm chó bảo vệ (Lê Văn Thọ, 1997) [19]. * Một số giống chó nhập ngoại + Nhóm chó cảnh Chó Chihuahua: Đây là giống chó lâu đời nhất ở Châu Mĩ và là giống chó có thân hình nhỏ nhất trong mọi loại chó trên thế giới.
Tên của giống chó này được lấy từ tên của bang Chihuahua của Mexico, nơi mà các nhà thám hiểm đã tìm ra chúng. n 5 Ngoại hình chó có bộ lông ngắn đầu hình quả táo, tai lớn, mắt tròn và lồi, đuôi mọc ở phần cao uốn cong trên lưng, chúng có lưng bằng và bốn chân thẳng, chiều cao khoảng 15 - 23cm, cân nặng từ 1 - 2kg (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 1992) [8]. Chihuahua ở phần thóp trên đỉnh đầu có một hõm mềm, hõm này khi lớn lên sẽ được xương sọ che phủ hết. Thường có hai loài là loài lông ngắn và lông dài nhưng ở Việt Nam loài lông ngắn phổ biến hơn.
Màu sắc lông thường có các loại vàng cát, nâu hạt dẻ, màu bạc, nâu nhạt (Đỗ Hiệp, 1994) [6]. Chihuahua không chịu nổi lạnh và hay bị run lên vì rét, nó tỏ ra dễ thích nghi với sự ấm áp hơn là với thời tiết lạnh. Đây là loại chó rất thích hợp với đời sống trong các căn hộ có diện tích nhỏ. Chó Bắc Kinh (Pekingese): Có nguồn gốc từ gia đình hoàng tộc ở Bắc Kinh - Trung Quốc.
Giống này được nhập vào Việt Nam từ năm 1986 trở lại đây. Chó Bắc Kinh tương đối nhỏ có trọng lượng trung bình ở chó cái là 2,66kg, ở chó đực là 3,58kg, đầu rộng, khoảng cách giữa hai mắt lớn, mũi ngắn, tẹt, trên mõm có nhiều nếp nhăn, mặt gẫy, mắt tròn lồi đen tuyền và long lanh. Tai hình quả tim cụp xuống hai bên, cổ ngắn và dầy, có một cái bờm nhiều lông dài và thẳng. Bắc Kinh có bộ lông mầu pha nhiều lông mầu sẫm ở mặt lưng, hông và đuôi, đuôi gập dọc theo sống lưng kiểu đuôi sóc (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 1992) [8].
Chó Fox: Giống chó Fox có nguồn gốc từ Pháp và được du nhập vào Việt Nam đã lâu. Fox là kết quả của sự lai tạo giữa Terrier và German Pincher ở Đức. Đây là giống chó nhỏ con tầm khoảng từ 1,5 - 2,05kg. Đầu nhỏ, tai to mà vểnh, sống mũi hơi gãy, mõm nhỏ mà dài.
Ngực chó Fox nở nang, bụng thon, bốn chân mảnh và cao nên chạy rất nhanh. Bộ lông ngắn, bóng mượt sát như lông bò. Chó Fox có nhiều màu gồm màu vàng bò, đen, đen bốn chân vàng (Đỗ Hiệp, 1994) [6]. Chó Pug (Carlin): Có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Chó Pug có tầm vóc vừa phải, trọng lượng lúc 12 tháng tuổi đạt 9kg. Đầu tròn, đặc biệt mõm hình khối vuông và rất n 6 ngắn so với chiều dài sọ, trên trán có những nếp nhăn sâu (Đỗ Hiệp, 1994) [6]. + Nhóm chó làm việc Chó Becgie: Giống chó này được nhập vào nước ta từ những năm 1960. Ngoại hình có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó khác ở nước ta, trọng lượng từ 28- 37kg.
Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 1992) [8]. Chó Boxer: Boxer có nguồn gốc từ Đức và được phát hiện vào năm 1850. Đầu cân đối với cơ thể, trán không có nếp nhăn, mặt ngắn hơn sọ, hàm dưới uốn cong lên và hơi xa so với hàm trên. Tai mọc ở phần cao của đầu, mũi lớn và đen, chân cao khỏe, vai cao khoảng 58cm.