Tổng quan nghiên cứu

Thương cảng Vân Đồn là một trong những trung tâm kinh tế biển đối ngoại quan trọng nhất của Đại Việt, được vua Lý Anh Tông chính thức thành lập vào năm 1149 và duy trì hoạt động đến thế kỷ XIX. Trong hệ thống bến bãi phân bố dày đặc ven biển Đông Bắc, di tích bến Cống Cái nổi lên như một điểm nút chiến lược. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề xác định vị trí địa - lịch sử, quy mô tầng văn hóa, đặc trưng di vật và vai trò của bến Cống Cái trong chỉnh thể mạng lưới thương mại quốc tế thời Lý - Trần.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa toàn bộ tư liệu địa tầng từ 8 đợt khảo sát và 1 đợt khai quật quy mô lớn trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2019. Thông qua việc phân loại 29.174 hiện vật thu thập được, công trình làm rõ diễn trình phát triển của một làng cổ gắn liền với thương cảng, đồng thời tái hiện chức năng tiếp tế, bốc dỡ hàng hóa và căn cứ quân sự trên biển.

Phạm vi nghiên cứu không gian bao trùm thung lũng Sơn Hào và vụng Cống Cái thuộc xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, với diện tích mặt nước vụng đạt 20.000 m2. Khung thời gian kéo dài từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII, tập trung chủ yếu vào giai đoạn hưng thịnh thế kỷ XIII - XIV thời Trần. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp cơ sở dữ liệu vật chứng vững chắc từ 116 m2 diện tích hố khai quật và thám sát, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch, bảo tồn di sản văn hóa biển đảo cấp quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cảnh quan văn hóa hàng hải và lý thuyết mạng lưới thương mại khu vực nhằm phân tích sự tương tác giữa điều kiện địa mạo ven biển với hoạt động kinh tế cổ truyền. Công trình kế thừa và phát triển mô hình cấu trúc 3 vùng và 3 tiểu vùng thương cảng Vân Đồn do các nhà nghiên cứu lịch sử đề xuất, trong đó đảo Quan Lạn đóng vai trò là cửa ngõ kiểm soát thuế quan và bảo đảm an ninh hàng hải.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm: thương cảng biển với tư cách là không gian tập hợp bến bãi có hạ tầng tiếp nhận tàu thuyền trọng tải lớn; bến bãi ven đảo dài từ 100 m đến 200 m phục vụ neo đậu; và tầng văn hóa khảo cổ học dày từ 30 cm đến 70 cm phản ánh sự tích tụ cư trú liên tục qua các triều đại Lý, Trần, Lê sơ, Lê Trung Hưng và Nguyễn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các cuộc khai quật khảo cổ học tại hiện trường, hệ thống thư tịch cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, Lĩnh ngoại đại đáp, Đồng Khánh dư địa chí, cùng kết quả phân tích phấn hoa thực vật cổ trong khung niên đại từ năm 1150 trước Công nguyên đến năm 1450 sau Công nguyên.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 29.174 hiện vật xuất lộ, được thu thập từ 5 hố khai quật và 8 hố thám sát với tổng diện tích xử lý địa tầng 116 m2. Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nguyên tắc bóc tách theo từng lớp địa tầng sinh thổ tự nhiên kết hợp định vị tọa độ không gian bằng hệ thống lưới ô và thiết bị định vị vệ tinh.

Phương pháp phân loại loại hình học được lựa chọn nhằm đối sánh chuẩn xác các đặc trưng men, xương gốm, hoa văn và kỹ thuật nung. Phương pháp này giúp xác định nguồn gốc xuất xứ của các lò gốm trong nước và quốc tế, trong khi phương pháp khảo sát không phá hủy bằng máy đo sóng âm dọc theo tuyến sông Mang dài 25 km giúp nhận diện chính xác các dấu tích kiến trúc bến cảng chìm dưới nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu và chỉnh lý hiện vật đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  • Thứ nhất, cơ cấu hiện vật khảo cổ học thể hiện tính đa dạng về chất liệu và nguồn gốc giao thương. Trong tổng số 29.174 hiện vật, đồ sành mịn chiếm tỷ lệ cao nhất với 14.838 mảnh, tương đương 51,0%; gốm men Việt Nam chiếm 4.905 mảnh, tương đương 16,8%; sành thô và gốm đất nung đạt 4.222 mảnh, tương đương 14,5%; gốm có áo đạt 2.791 mảnh, chiếm 9,5%; gốm men Trung Quốc có 1.393 mảnh, chiếm 4,7%; đồ kim loại đạt 483 hiện vật, chiếm 1,7%; cùng 373 mảnh vật liệu kiến trúc và 10 hiện vật thiên thạch.

  • Thứ hai, dấu tích gốm men Đại Việt thời Trần thế kỷ XIII - XIV chiếm ưu thế tuyệt đối trong đợt khai quật tháng 8 năm 2016. Riêng dòng gốm men trắng chiếm tới 82,4% tổng số gốm men Việt Nam với 2.442 mảnh. Các sản phẩm mang kỹ thuật nung chống dính bằng bột hoặc con kê nhiều mấu giai đoạn cuối thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIV đạt 1.266 mảnh đã định danh, phản ánh sự phát triển rực rỡ của các trung tâm sản xuất gốm Đại Việt cung ứng cho thị trường biển.

  • Thứ ba, sự xuất hiện đậm đặc của đồ sứ ngoại thương cao cấp Trung Quốc với 1.393 mảnh. Trong đó, gốm men ngọc chiếm tỷ lệ 56,0% và gốm men trắng Bạch Định thời Tống thế kỷ XI - XII chiếm 31,5% với 379 mảnh vỡ lớn, chứng minh sự hiện diện của tầng lớp thương nhân giàu có và quan lại quản lý thương cảng tại đảo Quan Lạn.

  • Thứ tư, phát lộ hệ thống hạ tầng bến bãi đồng bộ gồm Giếng Đình kè đá đường kính 2,8 m, sâu 1 m cung cấp nước ngọt quanh năm; 7 khối đá neo thuyền kích thước lớn từ 60 cm đến 120 cm; và hố tích tụ rác thải thương mại F4 tại hố H5 chứa 3.177 mảnh hiện vật, chiếm 20,0% tổng hiện vật hố khai quật.

Thảo luận kết quả

Điều kiện tự nhiên tại vụng Cống Cái với cửa vào rộng 100 m và diện tích lòng vụng 20.000 m2 khi triều lên đã tạo thành âu tàu kín gió lý tưởng cho thuyền buôn hàng chục tấn cập bến. Tầng văn hóa dày 50 cm đến 70 cm tại thung lũng Sơn Hào phản ánh một điểm dân cư làng cổ kiêm trạm dịch vụ hàng hải hoạt động sầm uất.

So sánh với các bến lân cận như Cái Làng và Cống Tây vốn thịnh đạt vào thời Lê Sơ thế kỷ XV - XVI, bến Cống Cái khẳng định vai trò là trung tâm giao thương sớm nhất của thương cảng Vân Đồn trong giai đoạn thế kỷ XII - XIV. Đặc biệt, sự tập trung của các di vật kim loại, vũ khí và vị thế án ngữ ngã ba sông Mang cho thấy bến Cống Cái giữ vai trò hậu cứ phòng thủ then chốt, phục vụ chiến thuật tiêu diệt đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ của tướng quân Trần Khánh Dư năm 1288.

Toàn bộ diễn trình phát triển và cơ cấu di vật có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 51,0% đồ sành mịn và 16,8% gốm men, kết hợp bảng ma trận đối sánh địa tầng phân tầng theo 5 giai đoạn niên đại từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Thiết lập ranh giới bảo vệ cấp bách và cắm mốc khoanh vùng di tích: Hoàn thành cắm mốc bảo vệ 100% diện tích vùng lõi 20.000 m2 vụng Cống Cái và khu vực chân Đồi Đình trong vòng 12 tháng tới, do Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn phối hợp Sở Văn hóa Thể thao tỉnh Quảng Ninh chủ trì thực hiện nhằm ngăn chặn triệt để hoạt động ủi đường và xâm hại di tầng.

  • Mở rộng diện tích khai quật khảo cổ học và thám sát dưới nước: Triển khai khai quật bổ sung tối thiểu 300 m2 đến 500 m2 tại thung lũng Sơn Hào trong giai đoạn 2026 - 2028, do Viện Khảo cổ học phối hợp với các chuyên gia khảo cổ học dưới nước quốc tế thực hiện nhằm làm rõ quy mô toàn diện của 9 cấp nền kiến trúc cổ.

  • Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa và bảo tàng thực tế ảo: Số hóa không gian 3D đối với 100% trong số 29.174 hiện vật đã thu thập trước năm 2027, do Ban Quản lý Di tích tỉnh Quảng Ninh chủ trì nhằm phục vụ công tác trưng bày trực tuyến và giáo dục lịch sử di sản.

  • Phát triển tuyến du lịch khảo cổ học biển đảo bền vững: Đưa di tích bến Cống Cái vào chuỗi du lịch trải nghiệm văn hóa Quan Lạn - Minh Châu trước năm 2030, hướng đến mục tiêu thu hút 50.000 lượt khách tham quan mỗi năm dưới sự điều phối của Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Khảo cổ học, Lịch sử, Việt Nam học: Tiếp cận hệ thống tư liệu phân loại chi tiết 4.905 mảnh gốm men Việt Nam và 1.393 mảnh gốm sứ Trung Quốc để làm dữ liệu đối sánh hình thái học.

  • Cán bộ quản lý di sản và nhà hoạch định chính sách văn hóa: Khai thác kết quả xử lý 116 m2 địa tầng làm cơ sở khoa học xây dựng hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho quần thể thương cảng Vân Đồn.

  • Chuyên gia quy hoạch không gian biển và phát triển du lịch: Ứng dụng mô hình phân vùng chức năng bến cảng cổ để thiết kế các sản phẩm du lịch sinh thái gắn liền với âu tàu tự nhiên và các làng cổ ven biển.

  • Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự và hàng hải châu Á: Tham khảo nguồn tư liệu thực địa để tái hiện chiến trường thủy chiến thế kỷ XIII trên dòng sông Mang dài 25 km và mạng lưới giao thương Con đường tơ lụa trên biển.

Câu hỏi thường gặp

  • Bến Cống Cái giữ vị trí và niên đại như thế nào trong hệ thống thương cảng Vân Đồn? Bến Cống Cái nằm ở phía bắc thung lũng Sơn Hào, xã Quan Lạn, giữ vai trò cửa ngõ giao thương trung tâm giai đoạn thế kỷ XII - XIV thời Lý - Trần, trước khi chuyển dịch trọng tâm sang đảo Thừa Cống vào thế kỷ XV - XVI.

  • Cơ cấu 29.174 hiện vật khảo cổ tại bến Cống Cái chứng minh điều gì? Cơ cấu gồm 51,0% sành mịn và 16,8% gốm men chứng minh đây là trung tâm tích trữ, bốc dỡ hàng hóa quy mô lớn, đồng thời phản ánh đời sống dân cư làng nghề thủ công phát triển mạnh mẽ ven biển.

  • Vai trò của bến Cống Cái trong kháng chiến chống Mông - Nguyên năm 1288 là gì? Với vị trí án ngữ ngã ba sông Mang rộng gần 900 m, bến Cống Cái là căn cứ đóng quân và trạm tiếp vận hậu cần trọng yếu hỗ trợ quân đội nhà Trần chặn đánh đoàn thuyền lương quân Nguyên.

  • Di tích Giếng Đình và 7 khối đá neo thuyền có ý nghĩa lịch sử gì? Giếng Đình đường kính 2,8 m kè đá cùng các khối đá neo thuyền từ 60 cm đến 120 cm chứng minh hạ tầng dịch vụ tiếp tế nước ngọt và neo đậu tàu buôn viễn dương hoàn chỉnh từ thời Trần.

  • Nguyên nhân nào dẫn đến sự suy giảm hoạt động thương mại tại bến Cống Cái từ sau thế kỷ XV? Sự thay đổi khí hậu sang ẩm ướt thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phục hồi, kết hợp chính sách ngoại thương thu hẹp thời Hậu Lê và sự dịch chuyển luồng lạch hàng hải đã khiến bến mất dần vị thế thương cảng quốc tế.

Kết luận

  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện diện mạo lịch sử bến Cống Cái qua 29.174 hiện vật khảo cổ học và 116 m2 diện tích thám sát, khai quật thực địa.
  • Luận văn khẳng định bến Cống Cái là trung tâm giao thương quốc tế sôi động nhất của thương cảng Vân Đồn trong giai đoạn thế kỷ XII - XIV thời Lý - Trần.
  • Các dấu tích hạ tầng như Giếng Đình, 7 khối đá neo tàu và các cấp nền kiến trúc móng đá là bằng chứng vật chất vô giá về đô thị cảng thị cổ Đại Việt.
  • Kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030 cần tập trung vào việc khoanh vùng bảo tồn tuyệt đối 20.000 m2 vụng nước và số hóa toàn bộ di vật phục vụ trưng bày.
  • Các cơ quan quản lý và giới nghiên cứu cần phối hợp chặt chẽ để phát huy giá trị di sản bến Cống Cái trong chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững.