Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một địa phương Chương 3: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 – 2014 Chương 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thủ đô Hà Nội đến năm 2020 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI ĐỊA PHƢƠNG CẤP TỈNH 2.1 Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận của chính sách kinh tế đối ngoại mà Việt Nam áp dụng cùng với việc mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế. Trong những năm vừa qua, khi Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ra đời, đã thừa nhận đây là một giải pháp quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển nội sinh của nền kinh tế đất nước. Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong nền kinh tế hoặc nhà đầu tư trực tiếp thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được ban hành đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sẽ sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các Quốc gia đều sử dụng mốc 10% làm mốc để xác định đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong thực tế, có nhiều trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng chủ đầu tư vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, mặc khác trong nhiều trường hợp vốn đầu tư của chủ đầu tư lớn hơn 10% nhưng chủ đầu tư lại chỉ là nhà đầu tư gián tiếp. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách tổng quan nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình”. Tài sản trong khái niệm này có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ,…) Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài với hai đặc điểm cơ bản là: Có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Xuất phát từ khái niệm trên, có thể thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm sau: - Các nhà đầu tư muốn đầu tư vào nước sở tại nên phải tuân thủ theo các quyết định của nước sở tại. Do đó, các chủ đầu tư phải đóng góp một số vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ của dự án, tùy theo luật pháp của từng nước.
Luật các nước thường không quy định giống nhau trong vấn đề này. Ví dụ như ở Campuchia quyết định là 40% trong khi đó ở Mỹ lại quy định là 10% và ở một số nước khác lại là 20%. - Các nhà đầu tư là nguồn bỏ vốn và đồng thời tự mình trực tiếp quản lý và điều hành dự án. Quyền quản lý phụ thuộc vào vốn đóng góp mà chủ đầu tư đã góp trong vốn pháp định của dự án, nếu doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì họ có toàn quyền quyết định.
- Kết quả thu được từ dự án được phân chia cho các bên theo tỷ lệ vốn góp vào vốn pháp định sau khi đã nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần cho các cổ đông nếu là công ty cổ phần. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư. Nhà đầu tư cùng với việc đưa vốn còn đưa cả công nghệ, bí quyết công nghệ, kỹ năng tiếp thị, quản lý, đào tạo nhân công và các năng lực trong sản xuất kinh doanh cũng như trong vấn đề quản lý doanh nghiệp cho nước tiếp nhận vốn.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường, đi kèm với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là ba yếu tố: hoạt động thương mại (xuất, nhập khẩu), chuyển giao công nghệ và di cư lao động quốc tế. Di cư lao động quốc tế cũng góp phần vào việc chuyển giao kỹ năng quản lý của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách mở cửa và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tư, đây được coi là nhân tố kéo, mặt khác, các công ty đa quốc gia, trong chiến lược phát triển, công ty sẽ mở rộng phạm vi hoạt động khi có điều kiện thích hợp. Ngoài ra, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có những đặc điểm sau: - Đầu tư trực tiếp nước ngoài ít chịu sự chi phối của chính phủ: Do dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp là tư nhân thực hiện nên ít chịu sự chi phối của chính phủ, đặc biệt là nó ít bị phụ thuộc và mối quan hệ giữa nước của chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư so với các hình thức di chuyển vốn quốc tế khác. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo được nguồn vốn dài hạn cho nước chủ nhà: Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường dài hạn nên không dễ bị rút đi trong thời gian ngắn. Do đó, nước chủ nhà sẽ được tiếp nhận một nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không phải lo trả nợ.
- Quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư: Trong thời gian đầu tư, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư, thành viên hội đồng quản trị và việc điều hành, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh được phân chia theo tỷ lệ góp vốn, quyền lợi của chủ đầu tư được gắn liền với lợi ích do đầu tư mang lại. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất”, “chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật” và “nội bộ hóa di chuyển kỹ thuật”. Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp cho doanh nghiệp chuyển giao được công nghệ lạc hậu ở nước mình nhưng dễ được chấp nhận ở nước có trình độ công nghệ thấp hơn và từ đó kéo dài được chu kỳ sản xuất. - Các bên tham gia vào các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có quốc tịch khác nhau và sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Vì mỗi quốc gia có ngôn ngữ riêng nên tất yếu trong đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có sự khác biệt về ngôn ngữ. Đặc điểm này đòi hỏi phải sử dụng ngôn ngữ quốc tế và ngôn ngữ nước sở tại trong các văn bản của dự án và trong quá trình hoạt động của dự án. - Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu sự chi phối của nhiều bộ luật khác nhau: Một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài càng có nhiều bên tham gia thì lại càng chịu sự chi phối của nhiều nguồn luật khác nhau, nhưng thông thường là sử dụng luật của nước chủ nhà, tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, sự hoạt động của dự án vẫn chịu sự ảnh hưởng của luật pháp nước các bên tham gia đầu tư, luật quốc tế, luật khu vực. Vì vậy, trong quá trình hội nhập và phát triển, các quốc gia phải luôn có sự điều chỉnh và sửa đổi luật pháp của mình sao cho ngày càng gần và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Điều này một mặt sẽ tạo điều kiện cho sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, mặt khác sẽ tránh được các tranh chấp, xung đột không đáng có trong quá trình hoạt động, quản lý các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. - Trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, có sự “cọ sát” giữa các nền văn hóa khác nhau, sự “cọ sát” này đòi hỏi phải có sự giao thao văn hóa giữa các bên liên quan từ đó có được sự hợp tác tốt đẹp.