MỞ ĐẦU 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Tôn giáo từ lâu đã trở thành mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay. Bên cạnh những tôn giáo nội sinh, các tín ngưỡng, phong tục thờ cúng tổ tiên cùng một số tôn giáo du nhập khá sớm vào Việt Nam như Phật giáo, Đạo giáo, Lão giáo, Công giáo… đang từng bước khẳng định vị thế và chi phối đời sống tâm linh của người Việt, còn có những tôn giáo du nhập muộn hơn nhưng lại “ưu việt” hơn, dễ dàng thích ứng với văn hóa Việt Nam, trở thành trào lưu cải đạo. Có thể thấy, hiếm có quốc gia nào lại có nhiều tôn giáo cùng tồn tại, phát triển và dường như Việt Nam trong quá trình hội nhập đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho các tôn giáo mới du nhập vào.
Trong số những tôn giáo được truyền bá vào Việt Nam khá muộn, khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thì đạo Tin Lành đã để lại nhiều dấu ấn bởi sự phát triển một cách nhanh chóng, thu hút sự quan tâm đông đảo của các tầng lớp trong xã hội Việt Nam. Đạo Tin Lành chính thức truyền giáo và xây dựng cơ sở đầu tiên tại Đà Nẵng vào năm 1911 do các giáo sỹ Hội Truyền giáo CMA hay còn gọi là Hội Phước âm liên hiệp (The Christian and Missonary of Alliaance of American- CMA). Với cách thức tổ chức Giáo hội đơn giản, gọn nhẹ, chịu ảnh hưởng khá đậm nét tư tưởng dân chủ tư sản và khuynh hướng tự do cá nhân, đạo Tin Lành đã trở thành một tôn giáo có màu sắc mới mẻ, hấp dẫn với các tầng lớp trí thức, công chức và người dân lao động nói chung. Đặc biệt, với lối sống đạo năng động, nhấn mạnh đến yếu tố cá nhân và chiều sâu lý tính, đạo Tin Lành có thể tồn tại và phát triển trong mọi hoàn cảnh chính trị - xã hội, kể cả khi bị o ép, cấm cách, đã lan tỏa đến cả những vùng sâu, vùng xa, len lỏi đến 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tộc người thiểu số vốn mang đậm yếu tố văn hóa bản địa và thiết chế xã hội vô cùng chặt chẽ (Nguyễn Xuân Hùng, 2010:156).
Trải qua quá trình hình thành và phát triển một cách nhanh chóng, theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 1954 đạo Tin Lành ở Việt Nam đã có khoảng 60.000 tín đồ, hơn 100 mục sư, truyền đạo. Năm 1975 số tín đồ đã tăng lên khoảng 200.000 người, hơn 500 chức sắc, trên 20 tổ chức, hệ phái. Sau năm 1975, hoạt động của đạo Tin Lành lắng xuống, nhưng phục hồi từ những năm 80 trở lại đây và phát triển nhanh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên với khoảng trên 1 triệu người theo đạo vào năm 2005. Ngoài ra, đạo Tin Lành còn lan tỏa đến vùng cao các tỉnh duyên hải miền Trung và miền Nam Trường Sơn hay vùng Nam Bộ (Nguyễn Thanh Xuân, 2008: 299-301).
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Việt Nam nhưng tập trung chủ yếu ở khu vực vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên, là những khu vực tương đối nhạy cảm, còn nghiên cứu về đạo Tin Lành ở các đô thị lớn vẫn chưa được quan tâm và gần như chưa có gì. Tuy nhiên trên thực tế, đạo Tin Lành lại đang phát triển vô cùng mạnh mẽ ở các khu công nghiệp, khu đô thị lớn như ở Hà Nội, thu hút nhiều tầng lớp, từ tầng lớp trí thức như các giáo sư, tiến sỹ, những doanh nhân thành đạt, ca sỹ, nhạc sỹ… cho đến các tầng lớp lao động như công nhân. Đạo Tin Lành chia thành nhiều nhóm khác nhau và có khoảng 30 hệ phái. Tại Hà Nội, có khoảng 20 Hội thánh Tin Lành theo các hệ phái khác nhau, với các đặc điểm khác biệt về cơ cấu tổ chức song đều chung một giáo lý, trong đó có những Hội thánh có quy mô hoạt động lớn, số lượng tín đồ đông như Hội thánh Tin Lành Hà Nội, Hội thánh Lời Sự Sống, Hội thánh Bắp-tít… Nhận thấy việc nghiên cứu quá trình du nhập và cải sang đạo Tin Lành ở đô thị, đặc biệt là ở Hà Nội hiện nay là rất quan trọng, không chỉ giúp chúng 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ta có một cái đúng về sự phát triển của đạo Tin Lành mà thông qua đó còn giúp các nhà hoạch định chính sách có thể hiểu và đưa ra những chính sách phù hợp.
Xuất phát từ lý do đó, trong phạm vi của một luận văn tốt nghiệp cao học với thời gian thực địa tương đối ngắn, tôi quyết định sẽ nghiên cứu 5 trong tổng số 20 Hội thánh Tin Lành tại Hà Nội (lý do tôi chọn 5 Hội thánh để nghiên cứu được sẽ giải thích kỹ trong phần phương pháp nghiên cứu), đó là: Hội thánh Tin Lành Hà Nội, Hội thánh Liên Hữu Bắp-tít, Hội thánh Lời Sự Sống, Hội thánh Yêu Thương, Hội thánh Anh Quốc Giáo. Thông qua nghiên cứu này, tôi hy vọng sẽ làm rõ được lý do mà người dân sống tại Thủ đô lại lựa chọn cải sang đạo Tin Lành cũng như con đường truyền bá và lan tỏa đạo Tin Lành ở Hà Nội, những tác động mà đạo Tin Lành mang lại đến cuộc sống của người cải đạo. Lịch sử nghiên cứu Cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành nói chung, trong đó nổi lên ba xu hướng nghiên cứu chính: thứ nhất là nghiên cứu sự hình thành, phát triển và quá trình truyền bá đạo Tin Lành vào Việt Nam; thứ hai là nghiên cứu về quá trình cải đạo Tin Lành ở các tộc người thiểu số; và hướng nghiên cứu thứ ba là tìm hiểu đạo Tin Lành trong mối tương quan với văn hóa, tín ngưỡng Việt Nam. Nằm trong xu hướng nghiên cứu thứ nhất có thể kể đến tác phẩm “Một số tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Xuân (2008).
Trong tác phẩm này, tác giả đã đề cập đến lịch sử của một số tôn giáo lớn và quá trình truyền bá các tôn giáo đó vào Việt Nam, trong đó có đạo Tin Lành. Tác giả Nguyễn Thanh Xuân đã tái hiện sự ra đời của đạo Tin Lành ở Châu Âu, các giai đoạn phát triển, các trường phái Tin Lành cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Tác giả cũng đề cập đến quá trình truyền bá đạo Tin Lành ở Châu Âu , Bắc Mỹ, quá trình đạo Tin Lành du nhập vào Việt Nam, cũng như giáo lý, tổ 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức giáo hội trong đạo Đạo Tin Lành. Điểm mạnh trong tác phẩm này là đã tái hiện một cách chân thực và tổng quát nhất về quá trình hình thành và phát triển đạo Tin Lành trên thế giới, cũng như ở Việt Nam.
Tuy nhiên, tác phẩm này chỉ dừng lại ở mức khái quát hóa dựa trên các dấu mốc lịch sử phát triển đạo Tin Lành mà chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích về đời sống của tín đồ theo đạo. Cũng nằm trong xu hướng này nhưng phân tích một cách kỹ lưỡng, sinh động hơn về lịch sử truyền bá đạo Tin Lành ở Việt Nam là tác phẩm “Đạo Tin Lành ở Việt Nam một cái nhìn tổng quát” của tác giả Đỗ Quang Hưng. Nghiên cứu này đề cập đến những vấn đề lịch sử của hệ phái “Tin Lành chính thống”, đông đảo nhất về số lượng tín hữu, cũng là cộng đồng Tin Lành hiện diện lâu đời nhất ở Việt Nam (100 năm tuổi) là Hội thánh Tin Lành Việt Nam (tức CMA). Cũng giống như tác phẩm của Nguyễn Thanh Xuân, công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Quang Hưng đã cho người đọc thấy được bức tranh và các dấu mốc quan trọng của quá trình truyền bá đạo Tin Lành ở Việt Nam, thông qua việc phục dựng các giai đoạn phát triển của Hội thánh Tin Lành Việt Nam.
Tác giả cũng đi sâu vào phân tích nguyên nhân lụi bại hay thành công của từng giai đoạn và tư tưởng thần học của đạo Tin Lành. Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Quang Hưng còn đề cập đến đạo Tin Lành trong mối tương quan với đời sống và các hoạt động truyền giáo. Tuy nhiên, cũng giống như nghiên cứu của Nguyễn Thanh Xuân, tác giả Đỗ Quang Hưng chỉ đề cập chủ yếu đến khía cạnh hình thành và phát triển mang tính lịch sử của đạo Tin Lành ở Việt Nam mà chưa đi sâu nghiên cứu những tác động do đạo Tin Lành mang lại. Đối với xu hướng nghiên cứu về quá trình cải đạo Tin Lành ở các tộc người thiểu số, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như “Cải đạo, thích ứng và biến đổi văn hóa, Trường hợp người Hmông Tin Lành, tỉnh Lào Cai” của PGS.TS Nguyễn Văn Chính (2014).
Nghiên cứu này đề cập đến quá 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình chuyển đổi niềm tin tôn giáo và nghi lễ truyền thống của một bộ phận người Hmông Tin Lành, Lào Cai và những ảnh hưởng do thay đổi tôn giáo lên lối sống và bản sắc tộc người của họ. Theo đó, tác giả cho rằng, việc nghiên cứu sự chuyển đổi của con người từ những nền tảng văn hóa khác nhau sang đạo Tin Lành đã mang lại sức mạnh và sự sáng tạo cho con người và nhà truyền giáo. Điểm mạnh của công trình nghiên cứu này đã cho người đọc thấy được quan niệm của người Hmong cải đạo và chưa cải đạo theo Tin Lành. Có người tin rằng Tin Lành đã cứu rỗi dân tộc Hmong, đưa họ đến tương lai tươi sáng, và cải đạo là con đường của sự sáng tạo và hình thành một nền văn hóa mới của người Mông thích ứng với trào lưu văn hóa có tính toàn cầu.
Ngược lại, có nhiều ý kiến cho rằng đạo Tin Lành đe dọa bản sắc văn hóa dân tộc, làm phai nhạt và tàn lụi văn hóa truyền thống của người Hmong, giết chết tính đa dạng của các nền văn hóa. Bên cạnh đó, cũng nằm trong xu hướng nghiên cứu thứ hai là công trình “Một số vấn đề về Tin Lành ở Tây Nguyên” của tác giả Đỗ Quang Hưng (2011: 3-12). Theo đó, tác giả đã đi sâu phân tích về thực tại đạo Tin Lành ở khu vực Tây Nguyên hiện nay, trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa đạo Tin Lành và việc phát triển bền vững kinh tế - xã hội của khu vực này.