Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá mức độ hoạt động và kết quả điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp bằng thang điểm siêu âm doppler năng lượng 7 khớp german us7 score

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị viêm khớp dạng thấp bằng thang điểm siêu âm doppler năng lượng 7 khớp German US7 Score.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Xương Khớp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

183
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương bệnh viêm khớp dạng thấp

1.2. Dịch tễ bệnh VKDT

1.3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT

1.4. Triệu chứng học bệnh VKDT

1.4.1. Triệu chứng lâm sàng

1.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng

1.5. Chẩn đoán bệnh VKDT

1.6. Các phương pháp đánh giá mức độ hoạt động của bệnh

1.7. Điều trị bệnh VKDT

1.7.1. Nguyên tắc điều trị

1.7.2. Điều trị triệu chứng

1.7.3. Điều trị cơ bản

1.7.4. Các liệu pháp mới trong điều trị VKDT

1.8. Theo dõi hiệu quả điều trị

1.9. Siêu âm trong viêm khớp dạng thấp

1.9.1. Nguyên lý siêu âm Doppler năng lượng

1.9.2. Vai trò của siêu âm và siêu âm Doppler năng lượng trong VKDT

1.9.3. Các hình ảnh tổn thương trên siêu âm trong bệnh VKDT

1.9.4. Thang điểm siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp

1.9.5. Tình hình nghiên cứu siêu âm Doppler năng lượng ở bệnh nhân VKDT

1.9.5.1. Trên thế giới
1.9.5.2. Tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Quy trình nghiên cứu

2.8. Các chỉ số trong nghiên cứu

2.9. Phương pháp xử lý số liệu

2.10. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu tại thời điểm ban đầu T0

3.2. Đặc điểm lâm sàng

3.3. Đặc điểm cận lâm sàng tại thời điểm ban đầu T0

3.4. Đặc điểm siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 của bệnh nhân nghiên cứu tại thời điểm ban đầu T0

3.5. Đặc điểm siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7

3.6. So sánh khả năng phát hiện viêm màng hoạt dịch và bào mòn xương giữa siêu âm với lâm sàng và X-quang

3.7. Mối liên quan giữa siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 với các chỉ số đánh giá mức độ hoạt động bệnh

3.8. Mối tương quan giữa tổng điểm siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 với một số chỉ số lâm sàng

3.9. Mối tương quan giữa tổng điểm siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 với các thang điểm đánh giá mức độ hoạt động bệnh

3.10. Tính độ nhạy, độ đặc hiệu của siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 trong đánh giá mức độ hoạt động bệnh

3.11. So sánh tổng điểm siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 với các chỉ số viêm

3.12. Theo dõi hiệu quả điều trị tại thời điểm sau 03 tháng (T1) và sau 06 tháng (T2) của bệnh nhân nghiên cứu

3.13. Theo dõi hiệu quả điều trị bằng siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7

3.14. Theo dõi hiệu quả điều trị bằng các chỉ số đánh giá mức độ hoạt động bệnh

3.15. Khảo sát một số yếu tố có giá trị tiên lượng bệnh ở bệnh nhân nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng trước điều trị

4.1.3. Đặc điểm cận lâm sàng trước điều trị

4.1.4. Chỉ số DAS28, SDAI và CDAI trước điều trị

4.2. Đặc điểm siêu âm, âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 ở bệnh nhân nghiên cứu tại thời điểm ban đầu T0

4.2.1. Đặc điểm siêu âm 7 khớp (GSUS)

4.2.2. Đặc điểm siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp (PDUS)

4.2.3. Đặc điểm viêm gân trên siêu âm 7 khớp (GSUS) và siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp (PDUS)

4.2.4. Bào mòn xương trên GSUS và X-quang

4.2.5. Mối tương quan giữa siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 với các chỉ số đánh giá mức độ hoạt động bệnh

4.2.6. Độ nhạy, độ đặc hiệu của siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 trong đánh giá mức độ hoạt động bệnh

4.3. Các công cụ theo dõi hiệu quả điều trị của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại thời điểm sau 03 tháng (T1) và sau 06 tháng điều trị (T2)

4.3.1. Theo dõi hiệu quả điều trị bằng siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7

4.3.2. So sánh theo dõi hiệu quả điều trị bằng thang điểm siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp (US7) và bằng các chỉ số hoạt động bệnh trên lâm sàng DAS28, CDAI và SDAI

4.3.3. Giá trị tiên lượng của siêu âm, siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp theo thang điểm US7 với đáp ứng điều trị

4.4. Các yếu tố liên quan đến cải thiện bệnh tốt theo tiêu chuẩn EULAR

4.5. Các yếu tố liên quan đến bào mòn xương ở bệnh nhân

CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý khớp viêm mạn tính, có tính chất tự miễn, thường gặp ở phụ nữ trung niên. Tỷ lệ mắc bệnh ở Việt Nam khoảng 0,5% trong dân số và 20% trong số bệnh nhân khớp điều trị tại bệnh viện. Tổn thương chính của VKDT là viêm màng hoạt dịch, dẫn đến xơ hóa và biến dạng khớp. Việc đánh giá mức độ hoạt động của bệnh và theo dõi hiệu quả điều trị là rất quan trọng để quyết định chiến lược điều trị phù hợp. Các thang điểm hiện tại như DAS28, CDAI, SDAI có những hạn chế nhất định, do đó cần có các phương pháp đánh giá chính xác hơn như siêu âm Doppler năng lượng.

1.1. Dịch tễ học của VKDT

VKDT có mặt ở khắp nơi trên thế giới, chiếm khoảng 1% dân số. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh là 0,5% và chủ yếu gặp ở nữ giới. Nghiên cứu cho thấy bệnh thường xuất hiện ở độ tuổi từ 36 đến 65. VKDT có tính chất gia đình trong một số trường hợp, cho thấy sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền trong bệnh lý này.

1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân gây VKDT chưa được xác định rõ ràng, nhưng có thể liên quan đến yếu tố di truyền và môi trường. Phản ứng miễn dịch xảy ra ở màng hoạt dịch đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh. Các tế bào lympho T và B tham gia vào quá trình viêm, sản xuất ra các cytokine gây tổn thương khớp. Hậu quả là hình thành màng máu và hủy hoại sụn khớp, dẫn đến biến dạng khớp.

II. Phương pháp đánh giá hiệu quả điều trị

Đánh giá hiệu quả điều trị VKDT là một phần quan trọng trong quản lý bệnh. Các thang điểm như DAS28, CDAI, và SDAI thường được sử dụng, nhưng có những hạn chế nhất định. Siêu âm Doppler năng lượng (siêu âm Doppler) là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá tổn thương khớp và theo dõi hiệu quả điều trị. Thang điểm siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp (German US7) cho phép khảo sát tổn thương ở các khớp chính, giúp phát hiện sớm viêm màng hoạt dịch và bào mòn xương.

2.1. Thang điểm siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp

Thang điểm German US7 cho phép đánh giá tổn thương ở các khớp bàn tay và bàn chân, bao gồm khớp cổ tay, khớp bàn ngón tay II, III, và khớp bàn ngón chân II, V. Đây là thang điểm đầu tiên kết hợp đánh giá tổn thương xương khớp và phần mềm, giúp theo dõi hiệu quả điều trị một cách chính xác hơn.

2.2. So sánh với các phương pháp khác

Siêu âm Doppler có độ nhạy cao hơn so với X-quang trong việc phát hiện tổn thương viêm màng hoạt dịch và bào mòn xương. Nghiên cứu cho thấy siêu âm Doppler có thể phát hiện tổn thương sớm gấp 7 lần so với X-quang, từ đó giúp cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân VKDT.

III. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng thang điểm siêu âm Doppler năng lượng 7 khớp có thể giúp đánh giá chính xác mức độ hoạt động của VKDT. Các chỉ số siêu âm cho thấy mối tương quan chặt chẽ với các thang điểm đánh giá lâm sàng như DAS28, CDAI, và SDAI. Kết quả cho thấy siêu âm Doppler không chỉ giúp phát hiện tổn thương mà còn theo dõi hiệu quả điều trị qua các thời điểm khác nhau.

3.1. Đặc điểm siêu âm tại thời điểm ban đầu

Tại thời điểm ban đầu, các chỉ số siêu âm cho thấy tổn thương viêm màng hoạt dịch và bào mòn xương ở nhiều khớp. Kết quả cho thấy sự hiện diện của viêm màng hoạt dịch ở 80-100% bệnh nhân, cho thấy thang điểm US7 có giá trị trong việc phát hiện tổn thương sớm.

3.2. Theo dõi hiệu quả điều trị

Theo dõi hiệu quả điều trị sau 3 tháng và 6 tháng cho thấy sự cải thiện rõ rệt ở các chỉ số siêu âm. Sự giảm điểm số siêu âm Doppler cho thấy hiệu quả của các phương pháp điều trị đang được áp dụng, từ đó khẳng định giá trị của siêu âm Doppler trong quản lý VKDT.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương bệnh viêm khớp dạng thấp 1. Dịch tễ bệnh VKDT VKDT gặp ở mọi nơi trên thế giới, chiếm khoảng 1% dân số [8],[9],[10],[11]. Theo nghiên cứu của tổ chức kiểm tra sức khỏe quốc gia Mỹ (USNHES- United State National Health Examination Survey) (1960-1962) tỷ lệ mắc VKDT là 0,3% ở người lớn dưới 35 tuổi và hơn 10% ở người lớn trên 65 tuổi.

Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc là 0,5% trong nhân dân và 20% số bệnh nhân mắc bệnh khớp điều trị tại bệnh viện [1],[12]. Trong một nghiên cứu về tình hình bệnh tật ở khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ 1991- 2000, bệnh VKDT chiếm tỉ lệ 21,94% trong các bệnh khớp, trong đó chủ yếu là nữ giới (92,3%), tuổi trung bình 49,2 và lứa tuổi chiếm đa số là từ 36 - 65 (72,6%) [8]. Có thể nói, VKDT là bệnh của phụ nữ tuổi trung niên, vì 70 - 80% là nữ và 60 - 70% có tuổi lớn hơn 30 [2]. Bệnh có tính chất gia đình trong một số trường hợp [1],[11],[13].

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng, viêm khớp dạng thấp được coi là một bệnh tự miễn với sự tham gia của nhiều yếu tố như nhiễm khuẩn hoặc di truyền [2]. Một số giả thuyết cho rằng, một số virus hay vi khuẩn phổ biến tác động vào yếu tố cơ địa thuận lợi hoặc yếu tố môi trường làm khởi phát bệnh. Cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp còn chưa rõ. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy phản ứng miễn dịch xảy ra ở màng hoạt dịch đóng một vai trò cơ bản trong bệnh viêm khớp dạng thấp.

Kháng nguyên là các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây khởi phát một chuỗi các phản ứng miễn dịch, trong đó các tế bào lympho T đóng vai trò then chốt. Các tế bào 4 lympho T, sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, sẽ tập trung nhiều ở các khớp bị ảnh hưởng và giải phóng ra các cytokin: IL-1, IL-4, IL-6, IL-10, TNF- alpha. Vai trò của các cytokin này là tác động lên các tế bào khác, trong đó có 3 loại tế bào chủ yếu là lympho B, đại thực bào và tế bào nội mô mạch máu màng hoạt dịch. Dưới tác động của các cytokin trên, các tế bào lympho B sẽ sản xuất ra yếu tố dạng thấp có bản chất là các imunoglobulin, từ đó tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng đọng trong khớp và gây tổn thương khớp.

Tế bào lympho B là tế bào chính sản xuất ra yếu tố dạng thấp đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh [14]. Các cytokin cũng hoạt hoá đại thực bào sản xuất ra các cytokin khác gây kích thích các tế bào màng hoạt dịch, tế bào sụn, nguyên bào xơ… tăng sinh, xâm lấn vào sụn tạo thành màng máu. Hậu quả của các quá trình này là hình thành màng máu, huỷ hoại sụn khớp, đầu xương dưới sụn, cuối cùng dẫn đến xơ hoá, dính và biến dạng khớp. Cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp [14] 5 1.

Triệu chứng học bệnh VKDT 1. Triệu chứng lâm sàng Bệnh diễn biến mạn tính với các đợt tiến triển. Trong đợt tiến triển bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, kèm theo sốt và có thể có các biểu hiện nội tạng [2].  Biểu hiện tại khớp - Vị trí khớp tổn thương: thường gặp nhất là các khớp ngón gần, bàn ngón, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân.

Một số nghiên cứu tại Việt Nam [2], [15],[16] cho thấy: các khớp xuất hiện tổn thương sớm nhất là khớp cổ tay (50 - 60%), khớp bàn ngón tay, khớp gối gặp tỷ lệ tương đương là 10 – 15%. Những khớp như khớp vai, khớp khuỷu hiếm khi gặp ở giai đoạn khởi phát đầu tiên (2,4%). - Tại thời điểm toàn phát, các vị trí khớp viêm thường gặp là: khớp cổ tay (80- 100%), khớp bàn ngón (70 - 85%), khớp đốt ngón gần (70 - 75%), khớp gối (55-75%), khớp cổ chân (40 - 75%), khớp khuỷu (20 - 50%), khớp vai (24 - 60%), đôi khi có tổn thương ở khớp háng, tổn thương cột sống cổ vị trí đốt đội trục. Khớp viêm thường đối xứng hai bên.

- Tính chất khớp tổn thương: trong các giai đoạn tiến triển, các khớp sưng đau, nóng, ít khi đỏ. Đau kiểu viêm. Các khớp thường bị cứng vào buổi sáng. Trong các đợt tiến triển, dấu hiệu cứng khớp buổi sáng này thường kéo dài trên một giờ [2].

Thời gian này ngắn, dài tùy theo mức độ viêm. Ở giai đoạn muộn các khớp ở bàn tay biến dạng: bàn tay gió thổi, ngón tay hình thoi, ngón tay cổ cò, hình ngón tay của người thợ thùa khuyết, ngón cái hình chữ z. Biến dạng ngón I và IV Hình 1. Ngón tay hình thoi (BN.

Hình ảnh biến dạng bàn chân của bệnh nhân VKDT [2]  Biểu hiện toàn thân và ngoài khớp: Hội chứng thiếu máu: gặp ở 30% bệnh nhân VKDT và có liên quan đến mức độ hoạt động của bệnh và thường do quá trình viêm mạn tính [17]. Hạt dưới da (hạt dạng thấp - Rheumatoid nodules) Có thể có một hoặc nhiều hạt. Vị trí xuất hiện của hạt này thường ở trên xương trụ gần khuỷu, trên xương chày gần khớp gối hoặc quanh các khớp nhỏ ở bàn tay. Các bệnh nhân ở Việt Nam ít gặp các hạt này (chỉ khoảng 4% số bệnh nhân có hạt dưới da) [2],[13].

Viêm mao mạch Biểu hiện dưới dạng hồng ban ở gan chân tay, hoặc các tổn thương hoại tử tiểu động mạch ở quanh móng, đầu chi… 7 Gân, cơ, dây chằng và biểu hiện nội tạng Các cơ cạnh khớp teo do giảm vận động. Có thể gặp triệu chứng viêm gân (thường gặp gân Achille), đôi khi có đứt gân. Các biểu hiện nội tạng (phổi, viêm màng phổi, cơ tim, van tim, màng ngoài tim.) hiếm gặp, thường xuất hiện trong các đợt tiến triển. Triệu chứng cận lâm sàng 1.

Hội chứng viêm sinh học Hội chứng viêm sinh học, biểu hiện bởi các thông số sau: - Tốc độ máu lắng: tăng trong các đợt tiến triển, mức độ thay đổi của tốc độ lắng máu phụ thuộc tình trạng viêm khớp. - Tăng các protein viêm: ferritin, protein C phản ứng (CRP) tăng nhanh khi cơ thể phản ứng lại các tác nhân gây viêm sau đó giảm nhanh khi quá trình viêm được thoái lui. Trong VKDT và một số bệnh khớp nói chung đều tăng CRP trong giai đoạn tiến triển của bệnh [18],[19]. Các xét nghiệm miễn dịch - Yếu tố dạng thấp (Rheumatoid Factor-RF): Năm 1940 Waaler và Rose (1947) phát hiện ra yếu tố dạng thấp bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu cừu, do đó phản ứng tìm yếu tố dạng thấp mang tên hai tác giả này: phản ứng Waaler - Rose và/hoặc latex.

Ngày nay, có rất nhiều phương pháp định tính và định lượng RF, xong chủ yếu dùng phương pháp hấp thụ miễn dịch, ngưng kết hạt latex, hoặc quang kế miễn dịch. Đánh giá kết quả: 50 - 75% bệnh nhân VKDT có RF dương tính [13]. - Kháng thể kháng CCP (anti - cyclic citrulinated peptide antibodies: anti - CCP): Độ nhậy của của anti - CCP trong VKDT khoảng từ 40 - 70%, nhưng độ đặc hiệu có thể cao tới 98%, nhất là khi sử dụng những bộ test thế hệ mới (như CCP- 2). Ở những bệnh nhân có viêm khớp chưa rõ ràng, kháng thể kháng CCP dương tính là một yếu tố tiên đoán quan trọng đối với bệnh VKDT; 90% những bệnh nhân này sẽ tiến triển thành VKDT trong 8 vòng 3 năm.

Anti - CCP được dùng như một yếu tố để tiên lượng bệnh. Những bệnh nhân VKDT có mặt đồng thời cả RF và anti - CCP thường có tiên lượng xấu hơn về chức năng vận động và tổn thương trên X- quang. Một số nghiên cứu cho thấy các bệnh nhân có dương tính với một hoặc cả hai kháng thể RF và/hoặc Anti - CCP có đáp ứng tốt với trị liệu sử dụng thuốc kháng tế bào B (Rituximab) [13],[15],[20]. Chẩn đoán hình ảnh Chụp X- quang thường quy Năm 1949, Steinbrocker đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá giai đoạn tổn thương khớp trong viêm khớp dạng thấp [21].

Những tổn thương trên X-quang đã được công nhận là một tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp và được áp dụng phổ biến từ nhiều năm nay. Những tổn thương trên X-quang quyết định chức năng vận động cũng như mức độ biến dạng của khớp. Tuy nhiên X- quang có hạn chế là độ nhậy thấp trong việc phát hiện những tổn thương bào mòn ở giai đoạn sớm của bệnh (15- 20%), đặc biệt là X-quang không phát hiện được sự thay đổi của quá trình viêm màng hoạt dịch của khớp. Các tổn thương điển hình trên X-quang ở bệnh nhân VKDT là hình ảnh mất chất khoáng đầu xương, hình bào mòn xương, khe khớp hẹp, dính và biến dạng khớp [2],[22].

Hình ảnh bào mòn xương trên phim chụp X - quang cổ tay - bàn tay của bệnh nhân VKDT [21] 9 Tổn thương X-quang được chia làm 4 giai đoạn theo Steinbrocker [21],[23]. - Giai đoạn I: X-quang chưa có thay đổi, chỉ có hình ảnh loãng xương. - Giai đoạn II: hình bào mòn xương, hình hốc trong xương, khe khớp hẹp. - Giai đoạn III: khe khớp hẹp, nham nhở, dính khớp một phần.

- Giai đoạn IV: dính và biến dạng khớp trầm trọng, bán trật khớp, lệch trục khớp. Mất chất khoáng phần đầu xương cạnh khớp: các bè xương thô, vỏ xương trở nên mỏng và xương tăng thấu quang; Tổn thương bào mòn xương (erosion): là những tổn thương dạng khuyết xuất hiện tại bờ rìa khớp vị trí màng hoạt dịch, bề mặt khớp, hoặc tổn thương dạng giả nang (hình hốc trong xương); Hẹp khe khớp: là tình trạng ngắn lại khoảng cách giữa các đầu xương tạo nên diện khớp bị hẹp lại. Trong bệnh VKDT hẹp khe khớp đặc trưng là hẹp đồng đều, mép vỏ xương dưới sụn còn nguyên vẹn, điều này giúp phân biệt với thoái hóa khớp và viêm khớp nhiễm khuẩn; Các biến dạng ở giai đoạn muộn: Trên X-quang biểu hiện là những tổn thương hủy đầu xương, khe khớp hẹp nham nhở, dính khớp, bán trật khớp, lệch trục khớp. Cộng hưởng từ khớp tổn thương Năm 1996, Ostergaard và Mc Queen [24], đã tiến hành chụp cộng hưởng từ khớp cổ tay ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp để đánh giá tình trạng viêm màng hoạt dịch.

Cộng hưởng từ phát hiện những tổn thương xương sớm hơn, nhậy hơn trên X-quang thường quy, hơn nữa cộng hưởng từ còn phát hiện những tổn thương phần mềm như viêm màng hoạt dịch, tràn dịch khớp, tổn thương sụn mà X- quang không phát hiện được, cộng hưởng từ có giá trị trong chẩn đoán sớm viêm khớp dạng thấp [25]. Hình ảnh bào mòn xương trên phim cộng hưởng từ khớp cổ tay [25] 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị viêm khớp dạng thấp bằng thang điểm siêu âm Doppler 7 khớp German US7 là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc ứng dụng kỹ thuật siêu âm Doppler để đánh giá hiệu quả điều trị viêm khớp dạng thấp. Phương pháp này giúp theo dõi chính xác tình trạng viêm và tổn thương khớp, từ đó tối ưu hóa phác đồ điều trị cho bệnh nhân. Nghiên cứu này mang lại giá trị lớn cho các bác sĩ lâm sàng và nhà nghiên cứu trong việc cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh lý khác, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới WHO năm 2013, hoặc Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng Xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương, tình trạng vitamin D và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố Cần Thơ cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về các vấn đề liên quan đến xương khớp.