CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn 1. Lịch sử phát hiện kháng sinh Trước đầu thế kỷ 20, điều trị nhiễm trùng chủ yếu dựa trên các phương pháp y học dân gian. Các hợp chất với các đặc tính kháng khuẩn đã được sử dụng trong điều trị nhiễm khuẩn đã được phát hiện cách đây hơn 2000 năm (Lindblad, 2008).
Nhiều nền văn hóa cổ, bao gồm Hy Lạp cổ đại và Ai Cập cổ đại sử dụng nấm mốc được chọn lọc đặc biệt, nguyên liệu thực vật và các chiết xuất để trị nhiễm khuẩn (Forrest, 1982; Wright, 1999). Các nghiên cứu mới đây trong phòng thí nghiệm vi sinh đã phát hiện các kháng sinh tự nhiên được tạo ra từ vi sinh vật (Kingston, 2008). Năm 1895, Vincenzo Tiberio, nhà vật lý học ở đại học Naples đã phát hiện nấm mốc (Penicillium) trong nước có hoạt động kháng khuẩn tốt. Sau khi hợp chất trị liệu ban đầu tỏ ra có hiệu quả, những hợp chất khác cũng được quan tâm, nhưng không được sử dụng cho đến năm 1928 khi Alexander Fleming quan sát kháng sinh chống lại vi khuẩn từ một loài nấm trong chi Penicillium.
Ban đầu ông miêu tả một số đặc tính sinh học của nó, và sử dụng các điều chế thô để điều trị một số trường hợp nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, phải đến khi các nhà khoa học khác trên thế giới bắt đầu nghiên cứu, công nghệ sản xuất kháng sinh mới thật sự phát triển (Fleming, 1980; Sykes, 2001). Đặc tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Khả năng kháng thuốc là sức đề kháng của vi sinh vật với một loại kháng sinh mà ban đầu có hiệu quả để điều trị các bệnh nhiễm trùng. Vi sinh vật kháng (bao gồm 19 vi khuẩn, nấm, virus và ký sinh trùng) có thể chịu được sự tấn công của các loại thuốc kháng sinh như các loại thuốc kháng khuẩn (ví dụ như thuốc kháng sinh), thuốc kháng nấm, thuốc kháng virus, và thuốc chống sốt rét.
Do tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn mà phương pháp điều trị tiêu chuẩn trở nên không còn hiệu quả và nhiễm trùng trở nên kéo dài, làm tăng nguy cơ lây lan trong cộng đồng. Sự tiến hóa của các chủng kháng thuốc là một hiện tượng tự nhiên xảy ra khi có sự sai sót trong quá trình tự nhân bản hoặc truyền tính kháng thuốc giữa các vi sinh vật. Việc sử dụng và lạm dụng các loại thuốc kháng sinh làm tăng tốc độ xuất hiện của các chủng kháng thuốc. Thực hành kiểm soát nhiễm trùng kém, điều kiện vệ sinh không đầy đủ cũng góp phần làm lây lan khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn (http://www.int/mediacentre/factsheets/fs194/en/).
Vi khuẩn trở nên kháng kháng sinh qua một loạt các cơ chế (Wright, 2005): thay đổi áp suất thẩm thấu của thành tế bào vi khuẩn qua đó giới hạn khả năng xâm nhập của kháng sinh vào vùng đích của tế bào; hoạt hóa kênh bơm đẩy kháng sinh ra khỏi tế bào; thay đổi enzyme của kháng sinh; phân hủy các hoạt chất kháng sinh; thu nhận các con đường trao đổi chất thay thế các con đường bị ức chế bởi kháng sinh; thay đổi đích tác động của kháng sinh; gia tăng sản xuất enzyme đích. Phân loại kháng sinh Kháng sinh thường được phân loại dựa theo cấu trúc hoặc chức năng Theo cấu trúc: các kháng sinh có vòng beta lactam, các kháng sinh aminoglycoside thay đổi tùy theo chiều của chuỗi phân tử Theo chức năng: 20 - Các kháng sinh ức chế tổng hợp thành tế bào: các beta lactam (penicillins, cephalosporin, monolactam, carbapenem), các glycopeptide, các fosfomycin - Kháng sinh ức chế tổng hợp protein: aminoglycoside, tetracycline, glycylcycline, phenicol, oxazolidinone, ansamicin - Kháng sinh ức chế các chức năng của màng tế bào: lipopeptide, polymyxin - Kháng sinh ngăn cản quá trình trao đổi chất - Kháng sinh ức chế quá trình tổng hợp axit nucleic: quinolone, furane 1. Carbapenem và đặc tính kháng carbapenem của vi khuẩn 1. Kháng sinh Carbapenem Kháng sinh đầu tiên được phát hiện ra, penicillin là một beta lactam.
Kháng sinh này được Alexander Flemming phát hiện ra một cách tình cờ từ nấm Penicillium notatum (Flemming, 1929). Sau đó, rất nhiều kháng sinh beta lactam đã được nghiên cứu sản xuất. Các kháng sinh beta lactam là các kháng sinh có vòng beta lactam trong cấu trúc phân tử. Kháng sinh họ beta lactam bao gồm penicillin và các dẫn xuất cephalosporin, carbapenem, monobactam, các chất ức chế beta lactamase (Queenan, 2007).
Cấu trúc phân tử của carbapenem Hın Nguồn: (Williams, 1987) 21 Các thuốc kháng sinh nhóm penicilin đều là dẫn xuất của acid 6- aminopenicilanic (viết tắt là 6-APA). Trong các kháng sinh nhóm penicilin, chỉ có penicilin G là kháng sinh tự nhiên, được chiết xuất từ môi trường nuôi cấy Penicilium. Các kháng sinh còn lại đều là các chất bán tổng hợp. Các cephalosporin bán tổng hợp tiếp tục được chia thành 4 thế hệ.
Sự phân chia này không căn cứ trên cấu trúc hóa học mà chủ yếu dựa vào phổ kháng khuẩn của kháng sinh. Xếp theo thứ tự từ thế hệ 1 đến thế hệ 4, hoạt tính trên vi khuẩn Gram dương giảm dần và hoạt tính trên vi khuẩn Gram âm tăng dần (hình 1.Nghiên cứu biến đổi cấu trúc hóa học của penicilin và cephalosporin đã tạo thành một nhóm kháng sinh beta lactam mới, có phổ kháng khuẩn rộng, đặc biệt có hoạt tính rất mạnh trên vi khuẩn Gram- âm, đó là kháng sinh nhóm carbapenem. Tên thuốc và phổ tác dụng của một số kháng sinh trong nhóm này được trình bày trong bảng 1.vn/content/cac- nhom-thuoc-khang-sinh-va-tac-dung-1334. Kháng sinh carbapenem và phổ tác dụng Nguồn: (http://bacsinoitru.vn/content/cac-nhom-thuoc-khang-sinh-va-tac-dung-1334.html) 22 Carbapenem có khả năng khuếch tán dễ dàng trong vi khuẩn nên chúng được xem là có phổ kháng khuẩn rộng.
Kháng sinh thuộc nhóm carbapenem có cấu trúc tương tự như penicillin nhưng nguyên tố lưu huỳnh được thay thể bằng nguyên tố các bon ở vị trí 1 (hình 1. Điều này cho phép chúng có khả năng tiêu diệt các vi khuẩn kháng kháng sinh phổ rộng sinh men beta lactamase (ESBL) bằng cách ức chế quá trình tổng hợp vỏ ngoài của tế bào vi khuẩn. Imipenem và meropenem là hai đại diện được sử dụng rộng rãi. Kháng sinh monobatam có công thức phân tử chứa beta lactam đơn vòng.
Các chất ức chế beta lactamase như clavulanic acid tuy không có vòng beta lactam và không có hoạt tính kháng khuẩn nhưng chúng được dùng kết hợp với các kháng sinh beta lactam để ức chế enzym beta lactamase do vi khuẩn tiết ra. Các kháng sinh beta lactam ức chế sự tổng hợp thành tế bào vi khuẩn bằng cách bám vào protein gắn penicillin (PBP-penicillin-binding protein) của vi khuẩn và ngăn cản sự hình thành peptidoglycan, qua đó ngăn cản sự hình thành màng tế bào. Hệ quả của quá trình này là làm thành tế bào vi khuẩn bị yếu đi và bị ly giải hoặc chết dưới tác dụng của áp suất thẩm thấu (Kotra, 1998). Đặc tính kháng Carbapenem của vi khuẩn Enzyme của vi khuẩn đầu tiên được tìm thấy có khả năng phá hủy kháng sinh đầu tiên penicillin được gọi là AmpC β-lactamase của E.
Khả năng kháng lại kháng sinh beta lactam của vi khuẩn ngày càng gia tăng và trở thành một hiện trạng thường được ghi nhận. Vi khuẩn kháng kháng sinh theo một vài cơ chế khác nhau. Cơ chế thường thấy và quan trọng nhất là do vi khuẩn có khả năng tiết ra enzyme beta lactamase như ESBL-extended-spectrum β-lactamase, enzyme AmpC qua plasmid trung gian, và beta lactamase ly giải carbapenem (Jacoby, 2009). Họ beta lactamase được phân loại dựa trên chức năng hoặc đặc tính phân tử và được chia thành 4 nhóm chính từ A đến D.
Các nhóm này chủ yếu phân loại dựa theo 23 chức năng hoạt động chứ không liên quan đến hoạt lực enzyme. Nhóm A, C và D bao gồm các beta lactamase với serine ở trung tâm hoạt động, trong khi đó nhóm B là các metallo enzyme cần phải có zinc cho hoạt động ly giải (Bush, 2010; Drawz, 2010). Vi khuẩn ngoài việc sử dụng enzyme beta lactamases để ly giải kháng sinh còn có thể kháng bằng cách sở hữu khả năng thay đổi PBP (Penicilline binding protein). Qua đó, các kháng sinh beta lactam không thể bám vào thụ thể PBP và làm cho kháng sinh hoạt động kém hiệu quả (Bradford, 2001).
Mặc dù penicillinase mã hóa trên plasmid xuất hiện khá sớm ở Staphylococcus aureus, khi penicilline được đưa vào hoạt động, beta lactamase mã hóa qua trung gian plasmid đầu tiên đã được phát hiện ra vào những năm 1960 trên vi khuẩn Gram âm (Datta, 1965). Ngày nay, hơn 1150 beta lactamase trên chromosome, plasmid và các gen nhảy đã được ghi nhận (Bush, 2010). Dựa trên hoạt động ly giải của enzyme có thể chia thành các các nhóm hẹp, trung bình, rộng và phổ rộng hơn (ESBL). Các enzyme kháng kháng sinh phạm vi rộng có thể kháng lại penicillin và cephalosporin mà không bị ức chế bởi các chất ức chế như clavulanic acid hay tazobactam.
Enzyme kháng kháng sinh phổ rộng (ESBL) có khả năng kháng lại penicillin, cephalosporin thế hệ 1, 2 và 3 và aztreonam, nhưng không kháng lại carbapenem và có thể bị ức chế bởi các chất ức chế beta lactamase. Trong một vài năm gần đây, các gen kháng kháng sinh vi khuẩn thu nhận được mang gen mã hóa ESBL đang trở thành một vấn đề nan giải trên toàn cầu (Bradford, 2001). Hiện nay, carbapenem là kháng sinh thuộc nhóm “lựa chọn cuối cùng” để điều trị cho các trường hợp nhiễm trùng với các vi khuẩn kháng kháng sinh phổ rộng như E. Tuy nhiên do việc sử dụng rộng rãi đã tạo áp lực chọn lọc cho vi khuẩn kháng lại kháng sinh này.
24 Dựa trên các nghiên cứu sâu về sinh học phân tử, có hai kiểu đề kháng của vi khuẩn với carbapenem: (1) tạo ra các enzyme serine tác động vào amino axit serine tại vị trí hoạt động trong cấu trúc phân tử của kháng sinh nhóm carbapenem; (2) sinh các enzyme Metallo beta lactamase (MBLs), các enzyme này hoạt hóa khi có sự tham gia của các ion kim loại có hóa trị 2, thông thường là kẽm. Các enzyme serine bao gồm NmcA, Sme 1-3, ImI-1, KPC1-3, GES-2, OXA 23-29, OXA40 và OXa 48 là nguyên nhân gây kháng carbapenem ở mức độ trung gian ở các vi khuẩn đường ruột và Acinetobacter. Các enzyme này có khả năng ly giải carbapenem ở mức độ yếu và thường được mã hóa bởi các gen nằm trong nhiễm sắc thể (Naas, 1994; Bush, 2001). Klebsiella pneumoniae kháng đa kháng sinh trong nhiễm khuẩn bệnh viện 1.
Vai trò gây bệnh K. pneumoniae có thể gây viêm và xuất huyết kèm hoại tử làm tổn thương phổi nặng. Những vi khuẩn này xâm nhập vào cơ thể khi hít phải giọt khí dung có chứa vi khuẩn xuống đường hô hấp dưới. Thông thường, nhiễm trùng Klebsiella được ghi nhận chủ yếu ở những người có hệ miễn dịch suy yếu.