MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tài liệu 1. Khái niệm côn trùng Côn trùng (insectum) là động vật thuộc về ngành không xương sống thuộc lớp Insecta. Chúng là nhóm lớn nhất trong ngành động vật chân đốt (N.
Cấu tạo côn trùng Côn trùng được xác định gồm các phần: đầu, ngực, bụng (Capinera, 2011). Hình ảnh mô tả cấu tạo chung của côn trùng được minh họa ở hình I. 1 Đặc điểm cấu tạo côn trùng (Capinera, 2011) Chú thích: (1) Đầu; (2) Ngực; (3) Bụng; (4) Miệng; (5) Chân trước; (6) Chân giữa; (7) Chân Sau; (8) Râu; (9) Mắt đơn; (10) Mắt kép; (11) Cánh trước; (12) Cánh sau; (13) Bộ phận sinh dục ngoài; (14) Lông đuôi Phần đầu nằm ở phía trước chứa các cơ quan cảm nhận và thu thập thức ăn quan trọng bao gồm: Râu đầu, mắt kép, mắt đơn và miệng. Phần lõm vào trong đó được gọi là sống nổi trong.
Các sống nổi này để cơ bám và tăng thêm độ cứng của vỏ đầu. Các ngấn phân chia vỏ đầu thành các khu và các mảnh, như khu trán-chân môi, khu cạnh- đỉnh đầu, khu ót, khu ót sau, khu dưới má, và đặc biệt môi trên và lưỡi cũng là một mảnh của vỏ đầu tạo thành. Trên đỉnh đầu ở giai đoạn ấu trùng thấy rất rõ ngấn lột xác hình chữ Y ngược (N. Phần ngực nằm ở ngay sau đầu và là vùng nối các khớp chân và đôi cánh.
Ngực được chia thành ba phân đoạn, được gọi là (từ trước ra sau) prothorax, mesothorax và metathorax. Đôi cánh được gắn vào trung bì và metathorax (hai cặp cánh), hoặc chỉ đến 2 mesothorax. Chân có sáu thành phần cơ bản bao gồm: hông, xương chày, xương đùi, ống chân, thân trước và xương trước (Capinera, 2011). Phần bụng là cơ quan chính thứ ba và lớn nhất chứa hầu hết các cơ quan tiêu hóa và cơ quan sinh sản (Capinera, 2011).
Ống tiêu hoá chia làm 3 phần: ruột trước, ruột giữa và ruột sau. Ranh giới ruột trước và ruột giữa là van Cacdia. Ranh giới ruột giữa và ruột sau là van Pilo. Các van Cacdia và Pilo ngăn không cho thức ăn đi ngược chiều và điều hoà sự vận chuyển thức ăn trong ruột (N.
Tổng quan về Bộ cánh màng Bộ Cánh Màng là một bộ lớn trong lớp côn trùng. Số loài đã biết trên 120000 loài. Tất cả những loài kiến, ong thường gặp hàng ngày đều thuộc bộ này, ngoài ra còn có nhiều loài ong kí sinh bé nhỏ khác. Đặc điểm chủ yếu của bộ cánh màng là: Miệng gậm nhai hoặc gậm hút.
Có 2 đôi cánh bằng chất màng, cánh trước thường lớn hơn cánh sau. Mép trước của cánh sau có một dãy móc câu nhỏ móc lên nếp cuốn của mép sau cánh trước, hệ thống mạch cánh thay đổi phức tạp. Các mạch dọc thường gấp khúc, có tên gọi là mạch quay. Có loài mạch cánh thoái hoá gắn hết, thậm chí có loài không còn cánh.
Chân phát triển bình thường, có 1-2 đốt chuyển. Đốt bụng thứ nhất thường nhập vào đối ngực. Trừ những loài thuộc họ phụ bụng không thất nhỏ, tất cả đều có đốt bụng thứ hai rất nhỏ tựa hình cuống. Nói chung con cái có ống đẻ trứng dạng răng cưa hoặc dạng ngòi châm.
Bộ Cánh màng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn. Sâu non phân nhiều có đầu phát triển, ngực chia 3 đốt, bụng chia 10 đốt. Sâu non loài ong ăn lá, đa số có 3 đời chín ngực và nhiều đôi chân bụng rất giống sâu non bộ cánh vẩy, nhưng cuối chân không có móng và từ đốt bụng thứ 2 đã có chân. Nhiều loài sâu non không có chân, mình mềm, màu trắng nhạt, có loài đầu không cũng lắm.
Có nhiều loài trước khi hoá nhộng nhả tơ làm kén. Bộ cánh màng là một trong những loài có sự đa dạng sinh học cao nhất, bao gồm các loài ăn thức ăn là cây cỏ, và một loạt các loài ký sinh trùng (LaSalle et al, 1993). Trong số các loài côn trùng có ích, các loài ong thuộc bộ Cánh Màng có số lượng rất lớn, nhiều loài có vai trò quan trọng trong việc tạo mật và kiềm hãm số lượng côn trùng gây hại cho cây trồng (Dowton et al, 2009). Họ ong Mật 3 Theo Viện từ điển học và bách khoa thư Việt Nam http://bachkhoatoanthu.vn Ong mật thuộc họ ong mật (Apidea), thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera) có đời sống xã hội và có khả năng sản xuất mật.
Trong một đàn ong mật sẽ bao gồm: Ong chúa, Ong thợ và ong đực. Ong chúa: thân dài khoảng 20 - 25 mm. Cánh ngắn, kim châm ngắn. Ong chúa có nhiệm vụ sinh sản.
Ong chúa có thể chủ động đẻ trứng thụ tinh để nở thành ong thợ hoặc trứng không thụ tinh để trở thành ong đực. Ong đực: thân dài khoảng 15 - 17 mm. Không có ngòi châm, cánh lớn. Ong đực chỉ có một tác dụng là giao phối với ong chúa.
Ong thợ: là những con ong cái mà bộ phận sinh dục bị thoái hoá, không có khả năng thụ tinh. Ong thợ thực hiện tất cả công việc của đàn ong: bảo vệ tổ, sản sinh sữa để nuôi ấu trùng, hút mật hoa luyện thành mật ong được mô tả ở hình I. 2 Đặc điểm và thành phần của ong mật (Viện từ điển học và bách khoa thư Việt Nam) Chú thích: 1. Tầng ong cắt dọc (a - Trứng, b - Ấu trùng, c - Tổ đã bịt nắp, d - Nhộng, e - Ong non) 1.
Họ ong Dú Ong Dú (Stingless bee) hay còn được gọi là ong không ngòi đốt, một trong ba phân họ của họ Apidae. Ong không đốt sống ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới trên khắp thế giới bao gồm: Châu Phi, Châu Úc, Trung và Nam Mỹ (hình I. Ong không đốt được cho là có nguồn gốc từ châu Phi (Kwapong et al. 3 Khu vực sống của Ong không đốt trên thế giới (Kwapong et al., 2010) Ong Dú dễ dàng phân biệt bởi có kích cỡ nhỏ, không đốt, tính hiền, an toàn với con người (Wille.
Tổ của Ong không đốt thường được tìm thấy trong các hốc của thân hoặc cành cây, những vết nứt trên tường nhà (Kwapong et al. 4 Tổ của một số loài ong không đốt (a.) (Kwapong et al., 2010) Vật liệu xây tổ của loài ong không đốt thường được sử dụng là gôm, nhựa, sáp. Một số loài khác có thể thêm cát, bùn, keo ong để xây tổ (Kwapong et al, 2010). Đời sống xã hội của Ong Dú cũng tương tự với ong mật, bao gồm: Ong chúa, Ong thợ (Wille.
Ong chúa là ong đứng đầu điều khiển tổ chức và hoạt động hàng ngày của tổ. Ong thợ thì làm các công việc như kiếm ăn, bảo vệ tổ và cho ấu trùng ăn (Kwapong et a. Theo khảo sát trên bộ dữ liệu NCBI tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2023, Ong Dú thuộc họ Meliponini có 54 chi khác nhau được thể hiện ở hình I. 5 Chi ong thuộc họ Meliponini (Taxonomy NCBI) 1.
Gen COI Gen COI (Cytochrome oxidase I) là gen thường trực trong ti thể, được sử dụng làm mô hình để kiểm tra sự tương đồng bên trong gen với tốc độ tiến hóa và ý nghĩa của nó đối với các phân tích tiến hóa của côn trùng (Lunt et al. Tiểu đơn vị COI chứa một hệ thống các gốc hữu cơ và kim loại, bao gồm các ion sắt, đồng và kẽm, được sắp xếp trong các cụm phức tạp để tạo thành trung tâm oxy hóa- reduction của enzyme cytochrome c oxidase. Trung tâm này chịu trách nhiệm cho việc chuyển đổi các phân tử oxy và proton thành nước và ATP trong quá trình hô hấp tế bào. Cấu trúc của tiểu đơn vị COI cũng có một số vùng đặc biệt, như vùng N-terminus, vùng transmembrane và vùng C-terminus, có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của enzyme cytochrome c oxidase.
6 Cấu trúc của tiểu đơn vị COI (Tsukihara. Gen EF-1α (elongation factor-1α) Theo nghiên cứu của Kumar và các cộng sự, 2011 sử dụng trình tự EF-1α nhằm phân tích mối quan hệ trong họ Apis thông qua khuếch đại nucleotide, giải trình tự và phân tích cây phát sinh loài, kết quả Cây cho thấy rằng chủng MSS2 được phân cụm cao với Apis florea và Apis cerana với 100% giá trị bootstrap. Ngoài ra, chủng MSS2 có khả năng đồng nhất trình tự tối đa (99%) với Apis niqrocincta và Apis cerana so với Apis dorsata (96%) và Apis florea(95%). Phân tích trình tự gen EF-1α của ong là một công cụ hiệu quả để phân loại các loài ong mật khác nhau.
Hệ thống phát sinh loài của ong đang được phát triển nhanh chóng, Theo nghiên cứu của Brady và các cộng sự, 2004 đã phát hiện vùng trình tự elongation factor-1α (EF- 1α) chỉ được phát hiện ở họ Colletidae phân họ của ong mật với độ dài từ 101bp đến 1044bp. Tác giả cũng đã chứng minh rằng đoạn trình tự EF-1α không xuất hiện ở bất kỳ loài côn trùng khác, kể cả một số nhóm có đặc tính giống với bộ cánh màng. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Vật Liệu Một số mẫu ong Dú do phòng CNSH Vật liệu và Nano, Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.
HCM cung cấp. Phương pháp nghiên cứu chính Nội dung 1: Ứng dụng một số công cụ tin sinh học để thu thập bộ dữ liệu gene COI và EF-1α của một số loài ong Khai thác dữ liệu, hệ thống tổng quan khoa học trên nguồn cơ sở dữ liệu của PubMed, PubMed Central (National Central for Biotechnology Information – NCBI), Google bằng cách tra cứu dựa vào một số từ khóa tiếng Anh: COI, elongation factor- 1α (EF-1α), Phylogenetic analysis,. - Tìm hiểu thông tin khoa học - Chọn lọc các báo cáo khoa học phù hợp với tiêu chí nghiên cứu - Trích xuất dữ liệu: tác giả, năm xuất bản; thông tin về loài ong: chủng tộc, cấu trúc phương pháp phân tích. - Trích xuất dữ liệu trình tự gene mục tiêu trên ngân hàng gene.
Nội dung 2: Khảo sát trên máy tính để thiết kế bộ mồi phù hợp, đặc hiệu trên vùng trình tự gene COI, EF-1α của một số loài ong Trên ngân hàng dữ liệu NCBI (http://www.gov/), thu thập thông tin thiết kế các trình tự mồi chuyên biệt trên vùng gene mục tiêu: gene COI, EF-1α từ những công trình nghiên cứu đã công bố trước. Khảo sát, thiết kế bộ mồi với trình tự gene mục tiêu: dự kiến là gene COI, EF-1α; trong trường hợp phù hợp với thời gian nghiên cứu sẽ tiếp tục khảo sát trên các gene mục tiêu còn lại: COII, ND5, 16S rRNA bằng các công cụ tin sinh học phù hợp: + Blast (http://Blast.cgi) với các thông số mặc định sẵn trên NCBI nhằm xác định độ đặc hiệu của mồi thiết kế. + Sử dụng phần mềm trực tuyến IDT analyzer (http://www.com/analyzer/applications/oligoanalyzer/) để xác định các thông số quan trọng của mồi như kích thước, %GC, nhiệt độ lai, khả năng tạo cấu trúc kẹp tóc.