Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Theo đánh giá của Tổ chức An ninh Lương thực và Giảm nghèo (Cifpen), nuôi ong lấy mật là một trong những mô hình sản xuất bền vững ở quy mô nông hộ, đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng thu nhập cho người dân tại các khu vực miền núi. Nghề nuôi ong có đặc thù không đòi hỏi nguồn vốn lớn, không tốn nhiều diện tích đất chuyên dụng và có thể tận dụng tốt nguồn lao động nhàn rỗi cũng như diện tích vườn đồi sẵn có. Đồng thời, hoạt động nuôi ong mật còn hỗ trợ tích cực cho ngành trồng trọt nhờ khả năng thụ phấn tự nhiên cho cây ăn quả và hoa màu.

Xã Trung Thành là một xã vùng thấp của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, nằm cách trung tâm huyện 12 km về phía Đông Nam. Xã có vị trí địa lý tiếp giáp thị trấn Nông trường Việt Lâm, xã Ngọc Linh, xã Bạch Ngọc và xã Đồng Tâm (huyện Bắc Quang), có tuyến Sông Lô chảy dọc theo chiều dài địa bàn. Trung Thành sở hữu tiềm năng đa dạng về đất nông - lâm nghiệp và cây ăn quả (cam sành, nhãn, vải). Trong những năm gần đây, mô hình nuôi ong lấy mật hộ gia đình đã được hình thành và nhân rộng tại địa phương. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: sản xuất mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ theo phong tràu, kỹ thuật chăm sóc chưa đồng đều, năng suất mật còn thấp, hiện tượng ong bốc bay hoặc chết do ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng còn xảy ra, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định và chưa xây dựng được thương hiệu.

Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Tìm hiểu mô hình nuôi ong lấy mật tại các hộ gia đình ở xã Trung Thành, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang" được thực hiện nhằm phân tích thực trạng kinh tế của mô hình và xác định các giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá sự phát triển kinh tế mà mô hình nuôi ong mang lại cho các hộ gia đình, từ đó đề xuất các giải pháp, định hướng nhân rộng mô hình, rút ra bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao thu nhập và giải quyết việc làm cho người lao động.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thực trạng hoạt động nuôi ong lấy mật tại các hộ gia đình trên địa bàn xã Trung Thành.
    2. Phân tích vấn đề tiêu thụ và giải quyết đầu ra cho sản phẩm mật ong.
    3. Xác định nguyên nhân tồn tại và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển mô hình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình nuôi ong lấy mật tại các hộ gia đình (khảo sát trực tiếp mẫu 40 hộ nuôi ong tại 5 thôn: Trung Sơn, Bản Tàn, Minh Thành, Thôn Tấng và Cốc Héc).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Trung Thành, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện thực tập và thu thập dữ liệu từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018; chuỗi số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2015 – 2017; số liệu sơ cấp điều tra nông hộ năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lập luận dựa trên lý thuyết kinh tế nông nghiệp và các đặc điểm sinh học côn trùng học ứng dụng:

  • Khung lý thuyết về hiệu quả kinh tế:

    • Hiệu quả kinh tế được tiếp cận là một phạm trù phản ánh tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được (đầu ra: sản lượng, doanh thu, giá trị gia tăng, lợi nhuận) và lượng chi phí nguồn lực bỏ ra (đầu vào: chi phí sản xuất, lao động, vốn, đất đai).
    • Tác giả phân định rõ hai khái niệm cấu thành: Hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency - số lượng sản phẩm tối đa đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào trong điều kiện kỹ thuật nhất định) và Hiệu quả phân bổ (Allocative/Price efficiency - giá trị sản xuất thu thêm trên một đồng chi phí đầu vào có tính đến quan hệ giá cả đầu ra và đầu vào). Hiệu quả kinh tế chỉ đạt được khi thỏa mãn đồng thời cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
    • Phân biệt giữa "kết quả kinh tế" (đại lượng vật chất/giá trị thuần túy) và "hiệu quả kinh tế" (chất lượng quản lý, sự tối ưu hóa chi phí để đạt kết quả).
  • Cơ sở sinh học và giá trị của mật ong:

    • Tổng quan phân loại bộ Cánh màng (Hymenoptera), giống ong mật Apis. Ở Việt Nam phổ biến hai loài chính: ong nội (Apis cerana) với năng suất mật trung bình 16,25 kg/đàn/năm (hoặc mức bình quân phổ biến 15 kg/đàn/năm) và ong ngoại (Apis mellifera) đạt 42,15 kg/đàn/năm.
    • Cấu trúc xã hội đàn ong gồm: ong chúa (đẻ bình quân 400 trứng/ngày đêm, tuổi thọ 2–3 năm), ong đực (vài trăm đến 2.000 con, có vai trò giao phối và ổn định đàn), và ong thợ (tiết enzym invertase và gluco-oxydase chuyển hóa đường saccaroza thành glucoza).
    • Thành phần hóa học và dược lý: Mật ong chứa đường hấp thu nhanh (glucose, fructose), albumin, acid panthotenic có tính kháng khuẩn tự nhiên, hỗ trợ điều trị viêm loét niêm mạc và các bệnh đường hô hấp.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:

    • Phương pháp thống kê mô tả: Hệ thống hóa, phân loại thông tin thành các bảng biểu, biểu đồ cơ cấu và biểu đồ phát triển để phân tích thực trạng.
    • Phương pháp phân tổ thống kê: Phân chia các hộ theo nhóm chỉ tiêu kinh tế (thu nhập, lao động, tư liệu sản xuất) để so sánh các yếu tố ảnh hưởng.
    • Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Tham vấn ý kiến cán bộ khuyến nông huyện, cán bộ chuyên trách UBND xã và các hộ có kinh nghiệm lâu năm.
    • Phương pháp điều tra chọn mẫu: Điều tra trực tiếp bằng phiếu khảo sát đối với 40 hộ nuôi ong tại 5 thôn tiêu biểu trên địa bàn xã.
  • Nguồn dữ liệu:

    • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu thống kê đất đai và phát triển nông nghiệp giai đoạn 2015 – 2017 của UBND xã Trung Thành.
    • Dữ liệu sơ cấp: Số liệu điều tra thực tế từ 40 hộ nuôi ong năm 2017.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của mô hình nuôi ong lấy mật đối với xóa đói giảm nghèo vùng trung du miền núi và thực trạng nuôi ong nông hộ tại xã Trung Thành. Xác định rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu (40 hộ nuôi ong), phạm vi không gian (xã Trung Thành), thời gian nghiên cứu (15/01/2018 – 30/05/2018) và các phương pháp thống kê, điều tra khảo sát được áp dụng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

  • Hệ thống hóa các khái niệm, bản chất và ý nghĩa của hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ trong sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường.
  • Phân tích đặc điểm sinh học loài ong mật (Apis cerana, Apis mellifera), cấu tạo giải phẫu, vòng đời, tập tính sống bầy đàn và giá trị kinh tế, dược liệu của mật ong.
  • Tổng quan lịch sử phát triển nghề nuôi ong trên thế giới (từ đõ cố định thời cổ đại đến phát minh thùng nuôi khung cầu di động và kỹ thuật quay mật ly tâm của Dadant năm 1863), lịch sử nuôi ong tại Việt Nam và thực trạng phát triển nghề nuôi ong tại tỉnh Hà Giang.

Phần 3: Kết quả thực tập

Trình bày toàn bộ số liệu điều tra, phân tích thực trạng kinh tế - xã hội và đánh giá mô hình nuôi ong tại xã Trung Thành:

1. Khái quát địa bàn nghiên cứu

  • Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích đất tự nhiên của xã năm 2017 là 5.639,54 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 4.457,25 ha (86,97%), đất phi nông nghiệp 429,91 ha (7,63%), đất chưa sử dụng 304,05 ha (5,40%). Đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn với 3.580,70 ha (73,06% đất nông nghiệp). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa hàng năm trên 600 mm; có hệ thống suối Cốc Héc, Bản Tàn hợp lưu ra Sông Lô và hai hồ lớn (Thủy Lâm, Bản Tàn).
  • Dân số và lao động: Toàn xã có 12 thôn, tổng số 1.429 hộ với 6.429 nhân khẩu; quy mô hộ trung bình 4,06 người/hộ; mật độ dân số 93 người/km²; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,15%. Tổng số lao động là 3.925 người (chiếm 70% nhân khẩu), trong đó lao động nam là 2.065 người (52,61%), lao động nữ 1.860 người (47,39%).
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2015 – 2017: Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 81,4% (2015) xuống 79,7% (2016) và 75,0% (2017), bình quân giảm 3,2%/năm. Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng từ 11,2% (2015) lên 15,0% (2017). Dịch vụ - thương mại tăng từ 7,4% (2015) lên 10,0% (2017).
Chỉ tiêu đất đai (Ha) Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Cơ cấu 2017 (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 5.763,00 5.634,72 5.639,54 100,00
I. Đất nông nghiệp 5.117,18 4.900,76 4.457,25 86,97
- Đất sản xuất nông nghiệp 1.542,82 1.474,64 1.234,58 25,19
+ Đất trồng cây hàng năm 790,68 687,61 800,09 14,20
+ Đất trồng cây lâu năm 752,14 787,03 434,49 10,99
- Đất lâm nghiệp 3.614,14 3.614,14 3.580,70 73,06
- Đất nuôi trồng thủy sản 28,40 28,40 85,48 1,74
II. Đất phi nông nghiệp 147,50 215,68 429,91 7,63
III. Đất chưa sử dụng 430,14 430,14 304,05 5,40

2. Tình hình phát triển đàn ong toàn xã giai đoạn 2015 – 2017

Quy mô và giá trị sản xuất từ đàn ong của xã tăng trưởng qua các năm:

Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 So sánh 2016/2015 So sánh 2017/2016
Số hộ nuôi (hộ) - - 60 - -
Số lượng đàn (đàn) 609 646 778 +37 +132
Sản lượng mật (kg) 1.175 1.190 2.539 +15 +1.349
Năng suất mật (kg/đàn/năm) 2,85 2,95 3,37 +0,10 +0,42
Doanh thu bán mật (triệu đồng) 293,75 297,50 634,75 +3,75 +337,25
Doanh thu bán giống (triệu đồng) 0,00 50,00 48,75 +50,00 -1,25
Tổng giá trị (triệu đồng) 293,75 347,50 683,50 +53,75 +336,00

Ghi chú: Giá bán mật ong ổn định ở mức 250.000 đồng/kg (hoặc lít); giá bán giống bình quân 750.000 đồng/đàn (năm 2017 xuất bán 65 đàn giống). Năm 2016 đàn ong tăng chậm do hiện tượng bốc bay làm mất đàn.

3. Thực trạng sản xuất tại 40 hộ điều tra (Năm 2017)

  • Cơ cấu thu nhập hộ: Tổng thu nhập của 40 hộ đạt 4.923,2 triệu đồng, bình quân đạt 123,27 triệu đồng/hộ/năm. Hoạt động nuôi ong đóng góp 14,66 triệu đồng/hộ (chiếm 11,89%), đứng sau thu nhập khác (21,75%), trồng trọt (19,88%), chăn nuôi gia súc gia cầm (18,66%) và làm thuê (15,37%).
Nguồn thu nhập Bình quân hộ (Triệu đồng) Tỷ lệ cơ cấu (%)
Nuôi ong lấy mật 14,66 11,89
Trồng trọt 24,41 19,88
Chăn nuôi 23,01 18,66
Thủy sản 15,43 12,51
Làm thuê 18,95 15,37
Thu nhập khác 26,81 21,75
Tổng cộng 123,27 100,00
  • Đặc điểm lao động: Độ tuổi trung bình của chủ hộ nuôi ong là 50 tuổi (dao động từ 30 đến 90 tuổi). Trình độ văn hóa bình quân đạt 7 – 9 năm đi học; trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp. Quy mô nhân khẩu bình quân đạt 4,09 người/hộ; số lao động bình quân đạt 3,13 lao động/hộ (lao động nam chiếm 1,83 người tương đương 58,43%; lao động nữ chiếm 1,30 người tương đương 41,57%). Lao động nông nghiệp chiếm chủ đạo với 77,71% (2,43 lao động/hộ).
  • Tình hình sử dụng đất đai: Tổng diện tích đất bình quân của hộ là 9,89 ha, trong đó đất dành cho nuôi ong chỉ chiếm 0,01 ha/hộ (tương đương 0,06% tổng diện tích đất), chủ yếu tận dụng diện tích vườn nhà và bóng mát của cây ăn quả (vải, nhãn).
  • Trang bị tư liệu sản xuất: Tổng giá trị tư liệu sản xuất phục vụ nuôi ong bình quân của 40 hộ đạt 5,24 triệu đồng/hộ.
Loại tư liệu Đơn vị tính Tổng số lượng Bình quân SL/hộ BQ giá trị (Tr.đ/hộ) Thời hạn sử dụng (Năm)
Thùng quay mật Thùng 21 0,47 0,47 20
Thùng nuôi Thùng 778 10,57 4,37 5
Lưới mặt Cái 40 1,00 0,07 5
Dao cắt vít nắp Cái 40 1,00 0,06 5
Chai đựng mật Chai 2.839 53,57 0,27 -
Tổng cộng - 8.839 65,66 5,24 -
  • Tình hình vốn vay: Tổng số vốn vay của 40 hộ điều tra là 189 triệu đồng (bình quân 3,57 triệu đồng/hộ). Tuy nhiên, 100% nguồn vốn vay được sử dụng cho chăn nuôi bò, lợn, gà, dê; không có hộ nào vay vốn chuyên biệt cho hoạt động nuôi ong, dù địa phương có các kênh tín dụng chính sách (Nghị quyết 209, Nghị quyết 86 của HĐND tỉnh Hà Giang; Nghị định 55, Nghị định 75 của Chính phủ).

Phần 4: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp những kết quả đạt được về mặt kinh tế của mô hình nuôi ong tại xã Trung Thành, khẳng định tính hiệu quả trong việc tận dụng đất vườn và lao động nông nhàn; đồng thời nêu các kiến nghị đối với chính quyền địa phương, trạm khuyến nông và ngân hàng chính sách trong việc hỗ trợ vốn, chuyển giao kỹ thuật và xúc tiến thương mại.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tăng trưởng sản lượng và quy mô: Từ năm 2015 đến năm 2017, tổng số đàn ong toàn xã Trung Thành tăng từ 609 đàn lên 778 đàn (tăng 27,75%); sản lượng mật tăng từ 1.175 kg lên 2.539 kg (tăng 116,08%); năng suất mật bình quân tăng từ 2,85 kg/đàn/năm lên 3,37 kg/đàn/năm; tổng giá trị sản xuất tăng từ 293,75 triệu đồng lên 683,5 triệu đồng.
  • Hiệu quả kinh tế nông hộ: Nuôi ong mang lại thu nhập bình quân 14,66 triệu đồng/hộ/năm cho các hộ điều tra (đóng góp 11,89% vào tổng thu nhập hộ gia đình), tạo sinh kế bổ trợ hiệu quả với mức đầu tư tư liệu sản xuất ban đầu thấp (bình quân 5,24 triệu đồng/hộ) và diện tích đất sử dụng tối thiểu (0,01 ha/hộ).
  • Kênh tiêu thụ: Giá bán mật ong duy trì ổn định ở mức 250.000 đồng/kg (hoặc lít), giá bán ong giống đạt 750.000 đồng/đàn; tiêu thụ chủ yếu qua thương lái đến tận nhà hoặc bán trực tiếp cho người tiêu dùng địa phương.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Giải pháp sản xuất và kỹ thuật: Duy trì và mở rộng Nhóm sở thích nuôi ong thôn Minh Thành để trao đổi kinh nghiệm; áp dụng kỹ thuật tạo chúa và chia đàn nhân tạo; kiểm soát tốt dịch bệnh và hiện tượng bốc bay; điều chỉnh lịch cho ăn bổ sung vào vụ đông và thời kỳ khan hiếm nguồn hoa; phối hợp thời điểm phun thuốc bảo vệ thực vật trên cây ăn quả để tránh ngộ độc đàn ong.
  • Giải pháp tiêu thụ: Xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu tập thể cho mật ong xã Trung Thành; hình thành tổ hợp tác/hợp tác xã để liên kết bao tiêu sản phẩm, tránh phụ thuộc vào thương lái tự do.
  • Giải pháp vốn và chính sách: Hướng dẫn các hộ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi theo Nghị quyết 209, Nghị quyết 86 của HĐND tỉnh Hà Giang và Nghị định 55, Nghị định 75 của Chính phủ để đầu tư nâng cấp thùng nuôi, thùng quay mật ly tâm bằng inox/nhôm.
  • Giải pháp tập huấn: Tăng cường các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ của cán bộ khuyến nông huyện tại các thôn bản.

Đóng góp của đề tài

Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng định lượng chi tiết về hạch toán chi phí tư liệu sản xuất, cơ cấu thu nhập và thực trạng sử dụng nguồn lực (lao động, đất đai, vốn vay) của mô hình nuôi ong lấy mật nông hộ tại một xã vùng thấp của tỉnh miền núi Hà Giang; chỉ rõ điểm nghẽn về việc chưa khai thác nguồn vốn vay chính sách cho phát triển đàn ong.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát sơ cấp mới thực hiện trên mẫu 40 hộ tại 5/12 thôn của xã Trung Thành; chuỗi số liệu khảo sát chi tiết về chi phí và thu nhập tập trung chủ yếu vào năm 2017; chưa có điều kiện so sánh sâu giữa các nhóm quy mô đàn khác nhau (hộ nuôi dưới 10 đàn và hộ nuôi trên 20 đàn).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá chuỗi giá trị và liên kết tiêu thụ mật ong đạt chuẩn VietGAP/OCOP trên phạm vi toàn huyện Vị Xuyên; nghiên cứu định lượng tác động thụ phấn của đàn ong nuôi đối với năng suất và chất lượng các vùng chuyên canh cam sành, cây ăn quả tại địa phương.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế nông thôn; cán bộ khuyến nông và chính quyền cơ sở đang xây dựng đề án sinh kế giảm nghèo miền núi.
  • Nội dung giá trị: Phương pháp thiết kế bảng hỏi và tổng hợp số liệu thực tế về cơ cấu thu nhập hộ nông dân; hệ thống định mức trang bị tư liệu sản xuất (thùng quay, thùng nuôi, lưới bảo hộ); các số liệu hạch toán thực tế về năng suất và doanh thu của mô hình chăn nuôi kết hợp vườn đồi.

Câu hỏi thường gặp

1. Năng suất mật ong bình quân và giá bán tại xã Trung Thành giai đoạn 2015 – 2017 đạt bao nhiêu?
Năng suất mật ong bình quân toàn xã tăng từ 2,85 kg/đàn/năm (2015) lên 2,95 kg/đàn/năm (2016) và đạt 3,37 kg/đàn/năm (2017). Giá bán mật ong giữ ổn định ở mức 250.000 đồng/kg (hoặc lít), giá bán ong giống đạt khoảng 750.000 đồng/đàn.

2. Thu nhập từ nghề nuôi ong chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong cơ cấu thu nhập của 40 hộ khảo sát năm 2017?
Thu nhập từ nuôi ong bình quân đạt 14,66 triệu đồng/hộ/năm, chiếm tỷ lệ 11,89% trên tổng thu nhập bình quân của hộ (123,27 triệu đồng/hộ/năm).

3. Cơ cấu trang bị tư liệu sản xuất phục vụ nuôi ong của các hộ điều tra gồm những gì?
Bình quân mỗi hộ trang bị tư liệu sản xuất trị giá 5,24 triệu đồng, bao gồm: 10,57 thùng nuôi (trị giá 4,37 triệu đồng, THSD 5 năm), 0,47 thùng quay mật (trị giá 0,47 triệu đồng, THSD 20 năm, dùng chung 21 thùng cho 40 hộ), 1 lưới mặt (0,07 triệu đồng), 1 dao cắt vít nắp (0,06 triệu đồng) và bình quân 53,57 chai đựng mật (0,27 triệu đồng).

4. Tình hình tiếp cận vốn vay cho hoạt động nuôi ong của các hộ khảo sát như thế nào?
Tổng vốn vay bình quân của 40 hộ là 3,57 triệu đồng/hộ (tổng số 189 triệu đồng từ Ngân hàng NN&PTNT và Ngân hàng Chính sách xã hội). Tuy nhiên, 100% số vốn này được vay để phục vụ chăn nuôi bò, lợn, gà, dê; tỷ lệ vay vốn dành riêng cho nuôi ong là 0%.

5. Nguyên nhân nào khiến số lượng đàn ong của xã năm 2016 tăng chậm hơn so với năm 2017?
Năm 2016 đàn ong toàn xã chỉ tăng thêm 37 đàn (đạt 646 đàn) do thời tiết bất lợi và đàn ong bị bốc bay làm mất trắng ở một số hộ, dẫn đến số hộ tiếp tục duy trì đàn bị hạn chế. Đến năm 2017, người nuôi khắc phục được kỹ thuật và kiểm soát đàn tốt hơn nên số lượng đàn tăng thêm 132 đàn (đạt 778 đàn).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thu Trang đã phản ánh toàn diện bức tranh thực trạng và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ong lấy mật nông hộ tại xã Trung Thành, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015 – 2017. Kết quả nghiên cứu khẳng định nuôi ong là nghề phụ có hiệu quả kinh tế rõ rệt, tận dụng tối đa diện tích vườn đồi (0,01 ha/hộ) và lao động nông nhàn để đóng góp 11,89% thu nhập cho hộ gia đình. Đồng thời, công trình đã chỉ ra những nút thắt căn bản về kỹ thuật kiểm soát bốc bay, rủi ro ngộ độc thuốc trừ sâu, thị trường tiêu thụ thụ động và đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về kỹ thuật, vốn vay và xây dựng thương hiệu mật ong địa phương.