Đặt vấn đề Cây hồng (Diospyros kaki T.) là một trong những loại cây ăn quả quan trọng của các nước châu Á thuộc miền ôn đới như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam. Ở Việt Nam, quả hồng là một loại quả quý rất được ưa dùng bởi vị ngọt mát, đậm đà, phù hợp với mọi lứa tuổi. Ngoài các chất bổ dưỡng trong quả, các bộ phận khác của cây hồng có mặt trong nhiều bài thuốc của Y học phương Đông: "thị đế" - tai hồng, "thị tất" - nước ép quả hồng, "thị sương" đường tiết ra từ quả hồng khi làm mứt. Quả ngon, mà còn đẹp nên hồng thường được sử dụng nhiều trong các ngày lễ long trọng của dân tộc.
Cây hồng được người xưa mệnh danh là "thất tuyệt" bởi nhiều ưu điểm mà các cây trồng khác không có như: dễ trồng, chịu khô hạn, chịu đất xấu ít thâm canh, ít sâu bệnh, cây bền, lá to tán rộng cho nhiều bóng mát. Năng suất cây ổn định, phẩm vị quả ngon cho nên trồng hồng cho thu nhập cao hơn nhiều so với các loại cây khác. Hiện nay, cây hồng ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường và được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. là hồng không hạt là sản phẩm đặc sản của huyện Quản Bạ là giống bản địa đã có từ rất lâu đời, hiện nay vẫn còn có những cây hồng khoảng trên 300 năm tuổi tại xã Nghĩa Thuận.
Sự thơm ngon nức tiếng của loại quả này được tạo thành nhờ các yếu tố tự nhiên của khu vực địa lý Quản Bạ. Quản Bạ có độ cao trung bình trên 1.000 m so với mực nước biển, địa hình khá bằng phẳng, có nơi có độ dốc dưới 20 độ, tầng đất dày, ít bị xói mòn. Khí hậu ở đây mát mẻ quanh năm nên hồng không hạt cho chất lượng tốt, năng suất cao và ổn định. Quả to bằng quả trứng gà, vỏ xanh chen lẫn những ánh vàng, sau khi ngâm vài hôm.
Thịt quả ăn giòn, vị ngọt đậm, mùi thơm đặc trưng, nhiều bột mịn và thơm hơn các giống hồng khác. Khi chín cả vỏ và thịt quả màu vàng, quả nặng khoảng 50-150 g, quả hồng chín vào khoảng rằm tháng bảy đến rằm tháng tám âm lịch. 2 Nhờ những ưu điểm trên mà hồng không hạt Nghĩa Thuận rất được ưa chuộng trên thị trường, quả dễ bán và được giá hơn so với các giống hồng khác. Đặc biệt hồng chín vào đúng dịp trung thu sẽ bán được giá rất cao.
Trồng hồng Nghĩa Thuận kết hợp với các biện pháp kỹ thuật cải tạo đất thay thế cây giá trị thấp và làm cạn kiệt đất là hướng đi đúng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ tài nguyên đất. Mặt khác hồng không hạt Nghĩa Thuận là giống địa phương nên rất thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất, người dân am hiểu và có nhiều kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây. Do những đặc điểm trên nên cây hồng là một trong những cây trồng chủ lực trong chủ trương thay đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện xóa đói giảm nghèo trong nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Hà Giang. Những năm gần đây, nhiều hộ dân trong xã đã phá bỏ các cây trồng hiệu quả thấp, đưa giống hồng Nghĩa Thuận vào trồng trên diện rộng và bước đầu đem lại hiệu quả cao.
Là sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, em rất quan tâm đến lĩnh vực cây ăn quả, đặc biệt là hướng bảo tồn, phát triển và giá trị kinh tế của các loại cây đặc sản ở nước ta nói chung và ở quê hương em nói riêng. Do vậy em chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế cây hồng không hạt tại xã Nghĩa Thuận, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế hồng không hạt góp phần thúc đẩy chương trình thay đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tăng thu nhập cho người dân tại tỉnh Hà Giang.
Trên cơ sở đó rút ra những kết luận và đề xuất một số giải pháp đúng đắn có cơ sở khoa học. Mục tiêu cụ thể - Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất cây hồng không hạt trên địa bàn xã Nghĩa Thuận, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế hồng không hạt tại xã Nghĩa Thuận, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó trong thực tiễn. - Đi thực tế tại khu vực nghiên cứu là điều kiện thuận lợi giúp sinh viên tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. - Rèn luyện kỹ năng thu thập và xử lý số liệu, viết báo cáo. - Giúp hiểu thêm về quá trình sản xuất các sản phẩm và tình hình kinh tế, xã hội và môi trường tại địa bàn nghiên cứu.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho người dân, chính quyền địa phương xây dựng hướng phát triển, giải quyết những khó khăn trở ngại nhằm phát triển cây ăn quả nói chung và cây hồng không hạt nói riêng hướng tới phát triển kinh tế bền vững. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm có liên quan 2. Khái niệm đánh giá (Dương Văn Sơn, 2000) [11] 2.
Đánh giá - Đánh giá là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện các hoạt động khuyến nông, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của hoạt động trong mới quan hệ nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu. - Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được. - Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt động khuyến nông hay dự án so với kế hoạch ban đầu. - Trong đánh giá các hoạt động khuyến nông hay dự án người ta có thể hiểu như sau: + Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định: - Liệu các hoạt động đó có đạt được các kết quả và tác động hay không - Mức độ mà hoạt động đã đạt được so với mục tiêu ban đầu đã đề ra.
+ Đánh giá sử dụng các phương pháp nghiên cứu để điều tra những vấn đề có thể làm chậm tiến độ thực hiện các hoạt động khuyến nông hay dự án nếu như các vấn đề này không được giải quyết kịp thời. + Đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có chiến lược lấy mẫu theo phương pháp thống kê. + Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo thời gian. + Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động.
Các loại đánh giá Đánh giá có nhiều dạng khác nhau. Phạm vi ở đây có thể sắp xếp thành 3 loại chính như sau: * Đánh giá tiền khả thi/khả thi: Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của các hoạt động khuyến nông hay dự án, để xem xét xem liệu hoạt động, dự án có thể thực hiện được hay không 5 trong điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài chợ thực hiện. Tổ chức tài chợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của dự án hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt xem dự án hay hoạt động có được đưa vào thực hiện hay không.
* Đánh giá thực hiện - Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho những hoạt động, dự án dài hạn. Tùy theo các hoạt động hay dự án mà có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là 3 tháng, 6 tháng hay một năm một lần. Mục đích của đánh giá định kỳ là nhằm tìm ra những điểm mạnh điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn trong một thời kỳ nhất định để có những thay đổi hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoạn tiếp theo.
- Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi đã kết thúc các hoạt động hay dự án. Đây là đánh giá toàn diện tất cả các hoạt động và kết quả của nó. Mục đích của đánh giá cuối kỳ là nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện, những thế mạnh, điểm yếu, những thành công và chưa thành công, nguyên nhân của từng vấn đề, đưa ra những bài học cần phải rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho dự án hay hoạt động khác. - Đánh giá tiến độ thực hiện: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai thực hiện nội dung của dự án hay hoạt động có đúng với thời gian dự định hay không, nhanh chậm thế nào để còn điều chỉnh.
- Đánh giá tình hình chi tiêu tài chinh: Là xem xét lại việc sử dụng kinh phí chi tiêu tiền có đúng theo nguyên tắc đã được quy định hay không để có những điều chỉnh và rút kinh nghiệm. - Đánh giá về tổ chức thực hiện: Đánh giá về tổ chức phối hợp thực hiện giữa các thành phần tham gia, xem xét và phân tích công tác tổ chức, cách phối hợp các thành phần tham gia. Ngoài ra có thể xem xét việc phối kết hợp giữa các dự án hay hoạt động trên cùng một địa bàn và hiệu quả của sự phối hợp đó. 6 - Đánh giá kỹ thuật: Là xem xét lại những kỹ thuật mà dự án hay hoạt động đã đưa vào có phải là mới hay không.
Quá trình thực hiên các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không. - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Hiện nay vấn đề môi trường đang là vấn đề bức xúc của toàn cầu, vì vậy chúng ta đều phải quan tâm tới vấn đề môi trường. - Đánh giá khả năng mở rộng: Là quá trình xem xét kết quả dự án đó có thể áp dụng rộng rãi được hay không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì không. - Đánh giá tác động 2.
Hiệu quả kinh tế 2.