CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học 1. Đặc điểm phân loại Các kết quả nghiên cứu về phân loại trong họ dẻ ở nước ta cũng rất khác nhau, mặc dù vậy các tác giả đều thống nhất quan điểm rằng họ dẻ là một trong 10 họ có nhiều loài lớn nhất nước ta (Nguyễn Tiến Bân, 2003). Chính vì vậy, họ dẻ là đối tượng nghiên cứu khá phức tạp, không những chúng có số loài lớn mà còn có vùng phân bố rộng, chủ yếu là cây gỗ lớn.
Theo Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978), trong Phân loại Thực vật học, tác giả cho rằng Fagaceae là họ duy nhất nằm trong bộ Fagales, ở Việt Nam có 5 chi: Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus và Quercus (dẫn theo Nông Văn Tiếp và Lương Văn Dũng, 2007). Năm 1993, Trần Đình Lý đã nhận xét Fagaceae có 5 chi gồm 100 loài, trong đó chủ yếu là các loài thuộc các chi Castanopsis, Lithocarpus và Quercus, đây là những loài cung cấp gỗ và cho hạt ăn được. Năm 1999, Lê Trần Chấn và cộng sự đã chỉ ra họ dẻ là một trong 10 họ có số loài lớn nhất Việt Nam với khoảng 213 loài. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000) trong giáo trình “Thực vật rừng” đã chỉ ra họ dẻ là một họ lớn gồm 7 chi với trên 600 loài, ở Việt Nam có 5 chi khoảng 120 loài.
Còn theo Phạm Hoàng Hộ (2000) ở Việt Nam có 215 loài thuộc họ dẻ. Trần Hợp (2002) trong cuốn “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” đã xác định họ dẻ là họ duy nhất thuộc bộ dẻ và tác giả cũng đã mô tả khá chi tiết về hình thái, đặc điểm sinh thái và vùng phân bố của 5 chi dẻ với 59 loài. Theo Nguyễn Tiến Bân (2003), họ dẻ ở Việt Nam có 6 chi: Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus, Quercus và Trigonobalanus với 216 loài, hiện nay ở nước ta sử dụng chủ yếu theo hệ thống phân loại này. Như vậy có thể thấy các nghiên cứu về phân loại họ dẻ ở nước ta được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với những kết quả Luan van 4 khác nhau, nhưng tựu chung lại đều cho thấy họ dẻ ở nước ta rất phong phú với hàng trăm loài.
Kết quả tổng hợp từ nhiều tài liệu cho thấy ở nước ta có nhiều loài dẻ ăn hạt, trong đó có một số loài cho hạt có giá trị dinh dưỡng, ẩm thực cao nên rất được quan tâm. Ở miền Bắc có 2 loài là Dẻ trùng khánh (Castanea mollissima Blume) có tên khác là Dẻ ván và loài thứ 2 là Dẻ yên thế (Castanopsis boisii Hicket et Camus), các nghiên cứu phát triển 2 loài dẻ này rất được quan tâm. Hình thái cây Dẻ trùng khánh b. Hình thái lá, quả Dẻ trùng khánh Hình 1.1: Hình thái thân, lá, quả Dẻ trùng khánh 1.
Đặc điểm hình thái Khi nghiên cứu về các loài dẻ ăn hạt ở khu vực miền Bắc các tác giả cho biết dẻ ăn hạt là cây gỗ nhỏ, cao 7 - 15m, thân hình trụ thường có múi, vỏ dầy màu xám nứt dọc, vết đẽo chảy nhựa tím nhạt sau đen, cành non nhẵn nhiều đốm trắng; Lá hình trái xoan hoặc ngọn giáo dài 9 - 16cm, rộng 3,5 - 5cm, đầu nhọn dần và hơi lệch, đuôi nêm; mép lá nguyên, gân song song, nổi rõ 10-15 đôi, lá kèm sớm rụng. Hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực tự bông đuôi sóc dài 4 - 7cm, hoa cái dài 4 - 7cm phủ lông mềm đầu nhụy xẻ 3; quả kiên bọc kín trong đấu, đường kính 1cm phủ lông vàng, gai dài hợp thành bó xếp xoắn ốc không phủ kín đấu. Hệ rễ hỗn hợp, rễ cọc và rễ ben đều phát triển. Dẻ ăn hạt có chu kỳ Luan van 5 sai quả là 2 năm, cây ra hoa tháng vào 9 - 11, quả chín vào tháng 8-10 năm sau, chu kỳ sai quả 2 năm.
Dẻ trùng khánh có tên khoa học là Castanea mollissima Blume. Có thể cao tới 15 - 20m, đường kính tới 1 m, vỏ cứng gồ ghề khó bóc tách. Cây phân cành mạnh, cành non có lông màu xám bạc, khi già chuyển màu hung với các vảy trắng nằm ngang. Lá đơn, mọc cách, hình trái xoan dài 14 - 20cm, rộng 5 - 7cm, mép có răng cưa nhọn, đầu lá có mũi nhọ, mặt dưới lá có lông tơ màu trắng, gân bên 15-17 đôi, cuống lá dài 1 - 2m.
Hoa thường ra vào vụ xuân, tạo thành chùm, thụ phấn nhờ gió và côn trùng. Quả dẻ to, đường kính khoảng 3 - 4cm, có vỏ dày với nhiều gai nhọn, cứng, khi chín sẽ tự nứt. Mỗi quả có từ 1 - 3 hạt. Hạt có vỏ gỗ hoá cứng, mặt trong vỏ hạt có lông tơ.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Kỹ thuật gây trồng, nuôi dưỡng, xúc tiến tái sinh rừng Dẻ Tại khu vực Địa Trung Hải, dẻ ăn hạt đã được gieo trồng ít nhất 3.000 năm, người Hy Lạp cổ đại được cho là những người đầu tiên gieo trồng cây hạt dẻ, đem hạt dẻ tới Châu Âu, Châu Á và Thổ Nhĩ Kỳ. Sau đó người La Mã đã mở rộng các diện tích trồng dẻ Castanea satira vào phía Tây Bắc và trung tâm Châu Âu.
Ở Mỹ dẻ đã từng là thành phần chính trong các khu rừng bản địa và chúng được đem đến New Zealand bởi những người định cư. Castanea crenata đã được gieo trồng ở Nhật Bản ít nhất là từ thế kỷ 11 và Castanea mollissima được trồng ở Trung Quốc từ cách đây 2. Dẻ đã được trồng ở Úc trong hơn 150 năm. Các ghi chép đầu tiên cho thấy dẻ ở Úc được trồng trong thập niên 1850 và thập niên 1860 trong thời gian con người đổ xô đến đây để tìm vàng.
Một số trong những cây còn đang phát triển ngày hôm nay. Các cây dẻ khác ở miền bắc bang Victoria được đưa vào từ châu Âu khoảng 120 năm tuổi và cao tới 60 m. Việc trồng dẻ thương mại ở Úc được tiến hành ít nhất là trong 25 năm trở lại đây. Luan van 6 Các loài dẻ ăn hạt đã được nghiên cứu khá hoàn chỉnh, từ chọn giống, nhân giống sinh dưỡng và biện pháp kỹ thuật gây trồng cho đến kỹ thuật thu hái chế biến hạt cho từng vùng.
Đặc biệt, một số loài dẻ ăn hạt có xuất xứ từ Trung Quốc như Dẻ ván đã nghiên cứu chọn được trên 300 giống và dẫn giống đến gây trồng trên 17 nước ở khắp các châu lục như Nhật Bản, Triều Tiên, Mỹ, Pháp, Úc, Mỹ La tinh, Việt Nam. a) Kỹ thuật nhân giống - Nhân giống hữu tính: Do tỷ lệ lượng nước trong hạt cao, tốc độ thoát hơi nước lớn nên trọng lượng hạt giảm rất nhanh. Cần bảo quản hạt ở chế độ lạnh ngay cả khi trưng bày để bán (David McLaren, 1999). Trong trường hợp không có máy làm lạnh thì có thể xử lý hạt bằng cách trong nước lạnh khoảng 20 giờ ngay sau khi thu hoạch, sau đó chúng được sấy khô trong bóng râm và rắc lớp cát khô lên.
Cách này có thể bảo quản hạt trong vài tháng (Jean Valnet và Maloine, 1977). - Nhân giống vô tính: Theo Park (1968) khi ghép giữa một số loài thuộc chi Castanea và chi Quercus cho tỷ lệ sống của chồi ghép từ 47 - 55%. Nhiều tác giả Moore và Walker (1981), Santamour (1988), Huang và cộng sự (1994), Craddock và Bassi (1999) cho rằng sự tương thích giữa cành ghép và gốc ghép quyết định sự thành công của kết quả ghép. Paul Vossen cho rằng ghép một số loài dẻ ăn hạt như Castanea crenata, C.
mollissima có mức độ tương thích rất thấp khi dùng cành ghép của loài này ghép vào gốc ghép của các loài khác; áp dụng phương pháp ghép mắt, ghép chữ T và ghép áp cho tỷ lệ sống khá cao tùy thuộc vào từng loài (http://anrcatalog. Seferoglu và Ertan (2003) cho biết sau khi ghép 45 - 60 ngày cây ghép đã liền sinh và phát triển tốt. Theo Cohen và cộng sự (2007) sự thành công của phương pháp ghép phụ thuộc vào vết tiếp hợp giữa cành ghép và gốc ghép. Thế hệ lai F1 giữa Castanea mollissima và C.
dentata đã tạo được 185 cá thể lai sinh trưởng phát triển tốt và kháng được bệnh Cryphonectria parasitica. Luan van 7 Nghiên cứu khác của Selime và Engin (2013) cho biết sau khi ghép 30 ngày cành ghép và gốc ghép đã tiếp hợp, sau 60 ngày đã tạo mô sẹo tại vết ghép. Andrew L Thomas (2015) khi tiến hành ghép chồi của loài Castanea ozarkensis lên gốc Castanea mollissima thì tỷ lệ sống của cành ghép trung bình đạt từ 56 - 83 % tùy theo mức độ hóa gỗ của chồi ghép, chồi bánh tẻ cho tỷ lệ sống cao nhất, trên 75 %, trong khi đó chồi non chỉ khoảng 38 %, kết quả theo dõi sau 6 năm chưa thấy có sự không tương thích giữa chồi ghép và gốc ghép. Trong một số nghiên cứu khác cho thấy thời điểm ghép vào buổi chiều tối ở mùa hè và mùa xuân cho tỷ lệ sống cao nhất và nên cắt gốc ghép trước 1 - 2 ngày để tránh sự tràn nhựa khi ghép.
Đối với giâm hom, ở Bồ Đào Nha, José Carlos Goncalves và cộng sự (1998) đã tiến hành nghiên cứu với loài dẻ ăn hạt lai (Castanea sativa x C. crenata), kết quả cho thấy nhúng hom vào dung dịch thuốc IBA nồng độ 1.000 ppm trong thời gian 1 phút cho tỷ lệ ra rễ khác nhau ở 2 môi trường 97 % thạch không có chất kích thích (auxin - free agar) và 77% chất nền chân trâu (perlite substrate). Heitz và Jacquiot (1972) đã thành công khi giâm hom từ rễ đối với một số loài dẻ ăn hạt. Năm 2008, nhóm tác giả ở Viện Lâm nghiệp Giang Tây, Trung Quốc sử dụng thuốc IBA với nồng độ 250mg/L đối với hom cành cho tỷ lệ ra rễ đạt 90 % khi nghiên cứu một số loài như Castanopsis fissa, C.
heryi, chiều dài hom từ 6 - 10cm cho tỷ lệ ra rễ tối ưu nhất (Luo và cộng sự, 2008). b) Về chế độ ánh sáng thích hợp: Cây dẻ có nhu cầu ánh sáng rất lớn (http://www. Một thí nghiệm được tiến hành ở Ohio (Nhật Bản) cho thấy sự cần thiết của ánh sáng để cây có thể phát triển tối ưu (Corinne McCament và Brian McCarthy, 2003). Cây con mới trồng nên được sơn bằng sơn trắng để đỡ bị cháy nắng khi còn nhỏ cho đến khi tán cây phát triển đầy đủ (David McLaren, 1999).
Cũng theo David McLaren (1999) thì về chế độ nước: Lượng mưa thích hợp cho vùng trồng cây dẻ là 800 mm/năm trở lên. Cây mới trồng cần được Luan van 8 che phủ trong mùa hè.