PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, có nhiều loại đất thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp, trong đó có những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao. Việc phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp góp phần phân bổ lại dân cư và lao động giữa các vùng, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức WTO đã thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng, giá trị xuất khẩu tăng, một số ngành đứng trong tốp đầu của thế giới.
Để đạt được thành tựu trên, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đến phát triển kinh tế nông nghiệp, coi đây là một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Là một đất nước với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông, vì thế hàng nông sản và các sản phẩm từ nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trước đây, gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Chúng ta luôn tự hào là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới.
Tuy nhiên, với việc giá lúa gạo bấp bênh, tình hình xuất khẩu gạo gặp khó khăn thì việc giảm diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả để chuyển sang trồng cây khác ở Đồng bằng sông Cửu Long đang là việc làm cấp bách. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm tăng hiệu suất, giá trị và lợi nhuận cho nông dân đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long tính toán thực hiện. Sau một thời gian chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng các loại cây khác ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long bước đầu cho thấy cây hoa màu, cây ăn quả đạt hiệu quả cao hơn cây lúa, đặc biệt là cây ăn quả. Do cây lúa cho thu nhập bấp bênh, hiệu quả thấp, nông dân thường xuyên đối mặt với điệp khúc “trúng mùa, mất giá” nên việc tái cơ cấu nông nghiệp nhằm đa 21 Luan van 22 dạng hóa cây trồng, vật nuôi là hướng đi đúng được lãnh đạo các ngành, các cấp và địa phương khuyến khích nông dân thực hiện.
Tiền Giang là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long với điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho nông nghiệp, cụ thể: khí hậu thuận lợi, đất phù sa màu mỡ thích hợp xây dựng các vùng chuyên canh cây ăn quả, là vùng có sản lượng trái cây lớn nhất cả nước,trở thành đầu mối chủ lực cung cấp cho thị trường trái cây trong nước và xuất khẩu. Trong đó có nhiều loại trái cây ngon nổi tiếng được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng như: xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng Ngũ Hiệp, thanh Long Chợ Gạo, khóm Tân Phước.Trong những năm gần đây, Khóm Tân Phước đang được chú trọng phát triển để đáp ứng nhu cầu của thị trường khó tính. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, vẫn bó hẹp trong vài thị trường quen thuộc, không tránh khỏi cạnh tranh gay gắt và rào cản từ nước nhập khẩu. Cây khóm (dứa) được xác định là cây trồng đặc sản có lợi thế cạnh tranh của tỉnh Tiền Giang.
Những địa phương có diện tích cây khóm tập trung lớn bao gồm: Huyện Tân Phước, thị xã Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành…đặc biệt là Huyện Tân Phước. Tỉnh Tiền Giang đang có những chính sách nhằm phát triển kinh tế dựa trên những lợi thế sẵn có của mình là nông nghiệp thông qua việc đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm chế biến từ nông nghiệp; đồng thời tạo ra nhiều việc làm cho người dân, hỗ trợ phát triển các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp. Cây khóm đang nổi bật lên với giá trị tiêu dùng và giá trị kinh tế cao, được thị trường yêu thích. Cây khóm là một trong 12 sản phẩm cây ăn trái chủ lực của Nam bộ theo quy hoạch chiến lược của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Tiền Giang là một trong những tỉnh có diện tích trồng khóm lớn của cả nước.
Giá khóm trong những năm gần đây tăng cao, với năng suất đạt khoảng 190 tấn/ha mang lại thu nhập rất tốt cho người nông dân và các tác nhân khác trong chuỗi liên kết cung ứng và tiêu thụ sản phẩm; đồng thời có đóng góp không nhỏ vào kinh tế xã hội của tỉnh Tiền Giang. 22 Luan van 23 Về chất lượng, trái khóm đủ khả năng cạnh tranh với các loại trái cây trong nước và cả nước ngoài. Tuy nhiên để hội nhập hoàn toàn và thành công, cây khóm còn đối diện với nhiều thách thức. Hiện tại, trái khóm đã xuất khẩu đến được một số thị trường như Đức, Canada, Hà Lan, Nga, bước đầu chinh phục được một số thị trường khó tính như Nhật, Pháp.
Tuy nhiên, số lượng vẫn còn hạn chế, tại Tiền Giang, trái khóm được cung cấp cho thị trường trong tỉnh và cả ngoài tỉnh thông qua trung gian là các bạn hàng, hợp tác xã nước khóm đóng hộp cũng có nhiều đơn đặt hàng nhưng chưa đủ khả năng đáp ứng. Nhìn chung, thị trường còn hạn hẹp trong tỉnh và các tỉnh lân cận, chưa đủ khả năng đáp ứng lượng cầu cho thị trường trong nước, hiện tượng cung chưa đủ cầu. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập thế giới, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là một trong những yếu tố cần thiết để tồn tại và mở rộng thị trường. Chúng ta cần tận dụng lợi thế về chất lượng, về khí hậu, đất đai, nguồn nước, lao động, mùa vụ thu hoạch để phát triển ngành sản xuất trái khóm, hơn thế nữa là việc đưa nước khóm đóng hộp ra thị trường thế giới.
Với mong muốn mở rộng hơn thị trường xuất khẩu nước khóm đóng hộp của Việt Nam, cũng như Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của tỉnh Tiền Giang nói riêng trong thời gian tới, vượt qua sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các thị trường truyền thống. Ở nước ta, khóm trồng từ Bắc đến Nam, diện tích trồng cả nước hiện nay khoảng 40.000 ha với sản lượng khoảng 500.000 tấn trong đó 90% là phía Nam. Các tỉnh trồng khóm nhiều ở miền Nam là Kiên Giang, Tiền Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Long An… miền Bắc có Thanh Hóa, Ninh Bình, Tuyên Quang, Phú Thọ… miền Trung có Nghệ An, Quảng Nam, Bình Định… Năng suất quả bình quân một năm ở các tỉnh phía Bắc khoảng 10 tấn, phía Nam 15 tấn/ha.Tình hình phát triển cây khóm là tương đối ổn định và cho năng suất cây trồng cao. (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2015) Cây khóm cho năng suất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế cao.
Tạo được nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu 23 Luan van 24 cầu lớn về xuất khẩu và cũng như tiêu dùng trong nước, cây khóm được coi là cây trồng mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực đồng băng sông Cửu Long. Tiền Giang là tỉnh với điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho nông nghiệp, cụ thể: khí hậu thuận lợi, đất phù sa màu mỡ thích hợp xây dựng các vùng chuyên canh cây ăn quả, là vùng có sản lượng trái cây lớn nhất cả nước, trở thành đầu mối chủ lực cung cấp cho thị trường trái cây trong nước và xuất khẩu. Trong đó có nhiều loại trái cây ngon nổi tiếng được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng như: xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng Ngũ Hiệp, thanh Long Chợ Gạo, khóm Tân Phước.
Hiện nay, mô hình trồng cây ăn quả ở tỉnh Tiền Giang được nâng lên theo hướng chuyên canh, chất lượng cao, người trồng cây ăn quả ở địa phương đa phần đều có cuộc sống khá giả. Trên thế giới, khóm được xếp vào một trong những loại cây ăn trái quan trọng đứng hàng thứ 3 sau chuối và cây có múi, với sản lượng hiện đạt trên 21 triệu tấn/năm. Riêng tỉnh Tiền Giang khóm là một loại quả nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng, giá trị năng lượng cao và mùi vị rất hấp dẫn. Về chất lượng, trái khóm đủ khả năng cạnh tranh với các loại trái cây trong nước và cả nước ngoài.Tuy nhiên để hội nhập hoàn toàn và thành công, trái khóm còn đối diện với nhiều thách thức.Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập thế giới, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là một trong những yếu tố cần thiết để tồn tại và mở rộng thị trường.
Chúng ta cần tận dụng lợi thế về chất lượng, về khí hậu, đất đai, nguồn nước, lao động, mùa vụ thu hoạch để phát triển trái khóm, hơn thế nữa là việc trái khóm ra thị trường thế giới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề ra những giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của trái khóm. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài: “ Phát triển cây khóm (dứa) trên địa bàn tỉnhTiền Giang ”. Các nghiên cứu trước liên quan Việc phát triển khóm chỉ mới được quan tâm trong thời gian gần đây.
Do đó những công trình nghiên cứu về mảng đề tài này còn chưa nhiều. Một số công trình đã nghiên cứu trong khoảng thời gian qua như sau: 24 Luan van 25 -Năm 2010, viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã có đề tài cấp bộ: Rà soát quy hoạch vùng khóm nguyên liệu chế biến công nghiệp. Đề tài đã đề cập nội dung: rà soát xác định đúng thực trạng sản xuất vùng nguyên liệu phục vụ chế biến công nghiệp. Phân tích các thuận lợi, khó khăn trong phát triển khóm nguyên liệu đồng thời xác định khả năng, xây dựng phương án sản xuất khóm cung cấp cho nhà máy để chế biến công nghiệp.
Từ đó, xây dựng phương án sản xuất khóm nguyên liệu chế biến công nghiệp, các giải pháp đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên đề tài chưa đưa ra giải pháp về tổ chức sản xuất và tiêu thụ, về hoàn thiện phương thức thu mua và chính sách giá cả, cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cây khóm cụ thể cho từng vùng, từng nhà máy. -Ngoài ra cũng có đề tài cấp trường: “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất khóm xuất khẩu ở Đồng Giao - Ninh Bình”, của tác giả Nguyễn Văn Tuân, năm 2012.