MỞ ĐẦU Ở Việt Nam hiện nay có nhiều loài dược liệu thuộc chi Adenosma được sử dụng trong việc phòng và điều trị viêm gan như Nhân trần (Adenosma caeruleum R.) [7][16][20], Bồ bồ (Adenosma indianum (Lour. Cả ba loài dược liệu trên đều được đưa vào các chuyên luận Dược điển Việt Nam và các tài liệu chính thống về cây thuốc Việt Nam [2]. Trong đó dược liệu Bồ bồ, được nghiên cứu khá nhiều về thành phần cũng như tác dụng sinh học của tinh dầu có trong dược liệu này và được sử dụng khá phổ biến ở miền Bắc. Tuy nhiên ở miền Nam, Nhân trần tía hay còn được gọi là Nhân trần Tây Ninh được sử dụng khá phổ biến.
Trên lâm sàng cũng cho thấy có tác dụng trong điều trị viêm gan, bệnh viện Nhiệt Đới đã từng dùng dược liệu này chữa cho hơn 4.000 trường hợp viêm gan do virus và đạt kết quả tốt, bệnh viện Y học Dân tộc Tây Ninh đã dùng để chữa hơn 100 trường hợp xơ gan cổ trướng cho kết quả khỏi bệnh là 24% và tiến triển khá tốt là 46,6% [16]. Thêm vào đó nhóm nghiên cứu Đại Học Y Dược TPHCM đã nghiên cứu sàng lọc 56 dược liệu, trong đó dược liệu Nhân trần tía cho tác dụng chống oxy hoá cao, trên cả 4 mô hình thử nghiệm [12]. Bên cạnh các nghiên cứu được đánh giá cao về tác dụng trị liệu, thì việc nghiên cứu về thành phần hóa học cũng như các phương pháp theo dõi, đánh giá thành phần, hàm lượng các hợp chất chính, để có thể đánh giá, đảm bảo chất lượng cho dược liệu được sử dụng, tiêu chuẩn hóa dược liệu trong chăm sóc sức khỏe người dân một cách an toàn, hiệu quả và khoa học vẫn còn rất ít nghiên cứu [18][40][42]. Nhằm mục đích nâng cao giá trị sử dụng, cũng như những hiểu biết về dược liệu Nhân trần tía.
Đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học về cây Nhân trần tía (Adenosma bracteosum Bonati- Scrophulariaceae)” được thực hiện với các mục tiêu: Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử. Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn. Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh. 2 Mục tiêu nghiên cứu: 1.
Nghiên cứu về đặc điểm thực vật của cây Nhân trần tía 2. Nghiên cứu về hóa học của cây Nhân trần tía - Khảo sát thành phần hóa thực vật dược liệu Nhân trần tía. - Phân lập hợp chất hoá học có trong tinh dầu và trong dược liệu Nhân trần tía - Xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được 3. Xây dựng quy trình định lượng - Xây dựng quy trình định lượng hai flavonoid có trong dược liệu Nhân trần tía.
- Xây dựng quy trình định lượng carvacrol có trong tinh dầu Nhân trần tía. Khảo sát tác dụng sinh học - Khảo sát tác dụng chống oxy hóa in vitro của cao chiết và một số hợp chất tinh khiết phân lập được từ Nhân trần tía bằng mô hình DPPH - Khảo sát tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Nhân trần tía Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử. Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn. Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
THỰC VẬT HỌC Chi Adenosma 1. Vị trí phân loại thực vật Chi Adenosma thuộc họ Scrophulariaceae được phân loại theo hệ thống phân loại thực vật có hoa của A.Takhtajan (2009) có vị trí phân loại như sau [28]: Giới thực vật (Plantae) ÄPhân giới Thực vật bậc cao (Cormobionta) ÄNgành Ngọc lan (Magnoliophyta) ÄLớp Ngọc lan (Magnoliopsida) ÄPhân lớp Hoa môi (Lamiidae) ÄBộ Hoa môi (Lamiales) ÄHọ Hoa mõm sói (Scrophulariaceae) ÄChi Adenosma (Robert Brown) Trước đây Scrophulariaceae được nhiều tác giả xếp vào Scrophulariales, sau đó A.Takhtajan (2009) [28] và APG III [95] nhập chung các họ thuộc Scrophulariales vào Lamiales. Bentham (1876) đã chia Scrophulariaceae thành 3 phân họ là Pseudosolaneae, Antirrhinoideae and Rhinanthoideae. Phân họ Pseudosolaneae được xác định là có liên quan đến Solanaceae [94].
Pennell (1935) đã chứng minh những đặc điểm của Scrophulariaceae thật sự không tương đồng với Solanaceae, nên đã loại trừ phân họ Pseudosolaneaea và thay thế bằng phân họ Antirrhinoideae. Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử. Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn. Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
4 Năm 2001 Olmstead (2001) và Oxelmen cùng cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng Scrophulariaceae là một chuỗi các họ dựa vào bằng chứng phân tử. Olmstead (2001) đã nhận ra rằng có 5 nhóm họ thực vật đơn lẻ trong họ Scrophulariaceae đó là: Calceolariaceae, Orobanchaceae, Scrophulariaceae, Stilbaceae và Veronicaceae. Năm 2001, Olmstead và cộng sự, đã tách riêng Scrophulariaceae và Veronicaceae (=Plantaginaceae sensu APG II) để Scrophulariaceae thành ‘scroph I’ and ‘scroph II’ theo APG II (2003) [94]. Theo APG II một phần các cây thuộc họ Scrophulariaceae trước đây cũng đã được chuyển sang Orobanchaceae và Plantaginaceae dựa vào chuỗi ADN của lục lạp (Olmstead và cộng sự (2001))[ 94].
Tank và cộng sự, (2006) đã tách Scropulariaceae thành 7 họ thực vật dựa trên nghiên cứu về phân tử và sự phát sinh loài. Các họ này là: Scrophulariaceae, Veronicaceae [=Plantaginaceae theo APG II], Orobanchaceae, Phrymaceae, Stilbaceae, Linderniaceae và Calceolariaceae. Theo một trong những nghiên cứu gần đây về họ và chi do Oxelman và cộng sự (2005) biên soạn, Scrophulariaceae được chia thành tám tông: Aptosimeae, Buddlejeae, Hemimerideae, Leucophylleae, Limoselleae, Myoporeae, Scrophularieae và Teedieae. Sự phân chia này dựa vào chuỗi phân tử ADN [36].
Hiện nay, họ Scropulariaceae trên thế giới có khoảng 220 chi, khoảng 4500 loài. Ở Trung Quốc 61 chi và có 415 loài đặc hữu [102]. Chỉ có sáu chi của họ là hoàn toàn giới hạn trong cựu thế giới bao gồm Adenosma (Đông Á), Deinostema (Đông Á), Dopatrium (Châu Phi / Đông Á), Hydrotriche (Madagascar), Limnophila (Đông Châu Á, Châu Phi, Úc) và Morgania (Australia). Nhóm nghiên cứu Liu, Zhu và Yang (2016) tìm thấy khoảng 15 loài ở châu Á [89].
Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử. Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn. Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh. Đặc điểm hình thái chi Adenosma Cây sống lâu năm.
Thân thảo đứng hoặc thân leo, thường bị sẫm màu khi khô, có lông tiết và có mùi thơm. Lá đơn, mọc đối, có cuống hay không, có mép nhăn. Hoa đơn độc ở nách lá hoặc mọc thành chùm có lá, hoặc là cụm hoa đầu hay dạng bông. Hai lá bắc con dạng sợi nằm ngay dưới đài.
Đài có 5 lá đài không đều, 3 cái ngoài lớn hơn có hình ngọn giáo rộng tới hình tim hay hình trứng, 2 cái ở trong có hình dải hay ngọn giáo. Tràng hình trụ, có 2 môi, môi trên (ở ngoài) hình bầu dục tới tròn, nguyên hay lõm; môi dưới (ở trong) có 3 thùy. Nhị 4, không thò, 2 trội; bao phấn 2 ô rời nhau, trong cả 4 nhị chỉ có 2 nhị sinh sản. Vòi dạng sợi; đầu nhụy dạng đấu.
Quả nang có hình trứng, hình nón hay bầu dục, thon hẹp nhiều ở đỉnh, có 2 rãnh, mở cắt vách hay mở ô bởi 4 van; hạt nhiều, nhỏ, hình bầu dục hay hình trụ ngắn; vỏ có vân mạng [7], [8]. Nhân trần Tên khác: Nhân trần cái (miền Bắc). Tên khoa học: Adenosma glutinosum var. Họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).
Loài Nhân trần này được Carolus Linnaeus (1707- 1778), đặt tên lần đầu tiên là Gerardia glutinosa (Gertn. Vào năm 1810 Robert Brown đã đổi tên chi này thành Adenosma và Nhân trần được đặt lại tên là: Adenosma caeruleum R. Một số nhà thực vật khác như: Bonati, P.Tsoong xếp lại loài Nhân trần này vào các thứ khác nhau: Adenosma caerulea R. Bonati; Adenosma caerulea R.
Bonati; Adenosma caerulea R. Bonati; Adenosma cordifolis Bonati; Adenosma glutinosum var. Tsoong; Adenosma glutinosa (L. Nhân trần cũng còn được xếp vào các chi khác như Pterostigma grandiflorum bởi Bentham và hay được xếp nhầm lẫn vào chi khác Digitalis sinensis bởi Loureiro.
Theo các tài liệu hiện nay thì Nhân trần thường được gọi với tên khoa học là: Adenosma glutinosum (L.) Druce (1914) hay Adenosma caeruleum R. Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử. Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn. Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
6 Nhân trần Adenosma caerulea là loại cây thảo nhất niên: cao 0,3 - 1 m, hình trụ đơn hay phân nhánh. Thân tròn, có lông trắng mịn, ít phân cành. Lá hình trứng, phía dưới mọc đối, lá phía trên có khi mọc so le, hình trái xoan nhọn, chín tai bèo hay răng cưa, cuống dài 4-15 mm. Hoa mọc đơn độc ở nách lá thành chùm hay bông có thể dài tới 40-50 cm.
Đài hoa hình chuông, xẻ thành 5 thuỳ. Tràng màu tía hay lam, chia hai môi, môi trên hình lưỡi, môi dưới xẻ thuỳ, nhị bốn, bầu có nôi nhụy hơi dãn ra ở đỉnh. Quả nang dài hình trứng, có mỏ ngắn nở thành bốn van. Hạt nhiều, bé, hình trứng [8][16].) Druce “Nguồn: Võ Văn Chi, 2002” [8].
Dược liệu có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt, thơm nhẹ.Bộ phận dùng của Nhân trần là thân, cành mang lá và hoa đã phơi hay sấy khô của cây Nhân trần (Herba Adenosmatis caerulei). Thu hái khi cây đang ra hoa, phơi trong bóng râm hay sấy ở 40-50 °C đến khô. Tránh sấy quá nóng làm bay mất tinh dầu. Bồ bồ Tên khác: Nhân trần đực, Nhân trần hoa đầu, chè nội, chè cát.
Tên khoa học: Adenosma indianum (Lour. Bồ bồ được công bố vào 1790, bởi nhà thực vật học Loureiro, với tên: Manulea indiana Merr., họ Hoa mõm chó Scrophulariaceae. Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử. Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh. 7 Trước đây còn gọi dưới các tên: Adenosma capitatum (Bentham) Bentham ex Hance. Pterostigma capitatum Bentham ; Adenosma indianum (Lour. Soc (1935); Adenosma bilabiatum (Roxb.
Adenosma indianum (Loureiro) Merrill. Mô tả: Bồ bồ cao 15-70 cm, mang nhiều cành ngang từ gốc. Thân tròn nhẵn hay hơi có lông, lá hình mác, phía cuống hẹp, mọc đối, mép lá răng cưa. Cụm hoa tận cùng dày đặc, hình cầu hay hình trụ tròn.
Hoa hình môi, môi trên nguyên, môi dưới chia thùy. Cánh hoa thường rụng, chỉ còn lại lá bắc và đài [8][16]. Dược liệu có mùi thơm hắc, vị đắng hơi cay. Bộ phận dùng Bồ bồ là toàn cây (Herba Adenosmatis indiani).
Bồ bồ được thu hái và khi đang ra hoa. Dược liệu sau khi thu hái phơi ở trong bóng râm hay sấy ở 40-50 °C đến khô. Phân bố của chi Adenosma Theo Zipcodezoo có khoảng 61 loài trên khắp thế giới.