Phần mở đầu: 5 trang (trang 1 đến trang 5). Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 26 trang (trang 6 đến trang 31). - Chương 2: Thời gian, địa điểm, vật liệu và phương pháp nghiên cứu: 14 trang (trang 32 đến trang 45). - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 61 trang (trang 46 đến trang 106).
- Kết luận và kiến nghị: 2 trang (trang 107 đến trang 108). - Danh mục các bài báo đã công bố có liên quan đến luận án: 2 trang (trang 109 đến trang 110). - Tài liệu tham khảo: 90 tài liệu với 38 tài liệu tiếng Việt và 52 tài liệu tiếng nước ngoài (trang 111 đến trang 118). - Phụ lục số liệu và phụ lục ảnh đi kèm.
6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Chim yến tổ trắng 1. Vị trí phân loại Theo Tim Penulis [86], họ yến có 4 giống (genus) gồm: giống Hyrundapus (có 3 loài), giống Apus (có 3 loài), giống Collocalia (có 14 loài) và giống Aerodramus có 3 loài: Yến tổ trắng A. fuciphagus, Yến tổ đen (Yến xiêm) A.
maximus và Yến Ấn Độ A. Theo tác giả thì Chim yến tổ trắng thuộc: Lớp Chim Aves Bộ Yến Apodiformes Họ Yến điển hình Apodidae Giống Yến nhỏ phát ra âm dội Aerodramus Loài Chim yến tổ trắng Aerodramus fuciphagus 1. Đặc điểm hình thái cấu tạo Chiều dài trung bình cơ thể Chim yến tổ trắng khoảng 12cm (10-16cm). Lông chim phân bố trên lưng màu nâu phớt đen, ở dưới bụng màu xám hoặc nâu, hông có vệt xám.
Lông đuôi chỉ hơi lõm, không chẻ đuôi sâu. Màu mắt nâu tối, mỏ đen, chân đen. Tiếng hót ríu rít và cao. Có khả năng phát ra âm thanh dò đường trong hang tối (âm dội).
Chim có đôi cánh khỏe, dài hẹp và uốn cong, có thể bay liên tục 40 giờ không nghỉ, tốc độ bay đạt tới 80-100 km/giờ. Chân yếu không đậu được, chỉ đu bám bằng các móng chân sắc nhọn. Trứng màu trắng dễ vỡ, thường đẻ 2 quả, kích thước trung bình (13x22)mm. Tổ làm từ nước bọt [75, 76].
Nhìn chung, rất khó phân biệt loài Yến tổ trắng với Yến tổ đen và Yến Himalaya khi chúng bay trong không trung. Vùng sống và nơi làm tổ Loài Chim yến tổ trắng hay sống thành quần đàn, thích làm tổ từng cặp riêng rẽ, thích sống chỗ gần nước (sông, hồ, biển) có đồng ruộng, rừng cây thấp và ít đến các khu rừng rậm. Chim yến tổ trắng là loài chim có thể bay lượn xa và 7 cao, nhưng ít khi chúng bay xa đến các vùng có độ cao trên 1500m để kiếm mồi. Theo những điều tra ở Việt Nam thì yến tổ trắng tại Khánh Hòa có thể lên đến Lâm Đồng, Phan Rang để kiếm ăn.
Bình thường chim kiếm ăn ở khoảng cách xa hang động hoặc nhà của chúng đến 50 km. Khi tìm kiếm thức ăn ở những nơi khan hiếm, chim thường bay vòng quanh tại một vị trí và là xuống rất thấp. Chim cũng kiếm mồi ở những nơi có nhiều cây cao và trong khoảng không có các côn trùng nhỏ nhưng thường bay ở độ cao dưới 30m, do khi lên cao mật độ côn trùng bay trong không khí giảm dần. Thỉnh thoảng chim bay là vào trong nước, đó là để tắm và uống nước, chúng uống nước và bắt mồi trong khi bay [26,75].
Môi trường sống thích hợp để Chim yến tổ trắng kiếm mồi là vùng có đủ thức ăn cho chim yến trong suốt cả năm, vùng mà chim có thể bắt các loại côn trùng bay suốt từ sáng sớm đến chiều tối. Đặc điểm của một vùng kiếm ăn lý tưởng là có 50% diện tích cây thấp dưới 1m như ruộng lúa, đồng cỏ.vv; 30% diện tích cây cao trên 5m như keo dậu, xà cừ, tràm, cọ, dừa.vv; và 20% mặt nước thoáng. Chim rời tổ từ lúc 5h sáng và về tổ từ lúc 16h30’ đến 19h30’ (tùy mùa) [36,76]. Nơi chim làm tổ cũng là nơi chim yến trở về để ngủ nghỉ, đu bám, xây tổ, đẻ trứng và nuôi con.
Là một nơi chim có thể bay vào bay ra dễ dàng, làm tổ dễ dàng, yên tĩnh, che khuất để chim cảm thấy an toàn và ít sự đe dọa của động vật gây hại (các hang đá cheo leo ngoài đảo). Nơi đó có điều kiện nhiệt độ từ 24- 310C, ẩm độ trong phạm vi 75-95%, ánh sáng từ tối đến mờ tối (0-2lux), có đối lưu không khí, thoáng mát. Các điều kiện này là cần và đủ bảo đảm cho chim sinh sản [35,76]. Tình hình nghiên cứu về loài Chim yến tổ trắng trên thế giới và Việt Nam 1.
Nghiên cứu về sinh học, sinh thái * Trên thế giới Trong lĩnh vực này thì có rất ít các nghiên cứu và thiếu hệ thống, một số nghiên cứu về sinh học, sinh thái của chim yến như: 8 Nghiên cứu về sinh học sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của chim yến ở hang Niah, Sarawak [42]. Một số nghiên cứu đi sâu về cấu trúc tổ và đẻ trứng của các loài yến cho tổ ăn được trong giống Aerodramus và ứng dụng trong khai thác tổ yến được được sử dụng rộng rãi hiện nay là của Nugroho [75,76,77] trên các quần thể chim yến tại Indonesia. Thomassen, 2005 [88] đã đi sâu phân tích đặc điểm tiếng kêu và phân tích sự tiến hóa của hệ thống âm định vị của các loài yến trong giống Collocallini. Theo Tim Penulis, 1979 [87] thì chu kỳ sống của Chim yến tổ trắng được tóm tắt theo sơ đồ hình 1.
Chu kỳ sống của Chim yến tổ trắng (Nguồn Tim Penulis, 1979 [87]) 9 Langham (1980) [70] là tác giả có nhiều nghiên cứu tương đối sâu về chim yến tổ trắng. Tác giả nghiên cứu sinh học sinh sản và dinh dưỡng của phân loài yến C. fuciphaga amechanus ở Malaysia (tác giả dùng tên khoa học của loài là Aerodramus fuciphagus mà hiện nay vẫn thường dùng). Tài liệu cho thấy thành phần thức ăn cơ bản của chim yến là các loài côn trùng, loài yến này đẻ quanh năm, chim non ở tổ 43 ngày, cũng như xác định tỉ lệ trứng nở, số chim đẻ lại, chim non rời tổ…vv.
Đây là tài liệu khá chi tiết để tham khảo, tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu trong một năm nên có nhiều vấn đề chưa làm sáng tỏ, nhất là về sinh thái học. Nugroho, 2000 [76] thì môi trường sống vĩ mô và hoạt động theo giờ trong một ngày của chim yến được tóm tắt bằng sơ đồ hình 1. Sơ đồ môi trường vĩ mô và hoạt động trong ngày của Chim yến tổ trắng (Nguồn E. Nugroh, 2000 [76]) 10 * Ở Việt Nam Ở Việt Nam thì có một số nghiên cứu về sinh học, sinh thái chim yến như Sallet (1930) [82] có xuất bản cuốn sách chuyên khảo về chim yến, giới thiệu khá đầy đủ về các vấn đề từ chim yến, tổ yến, lịch sử nghề yến Việt Nam cũng như một số món ăn, bài thuốc từ tổ chim yến.
Tuy nhiên phần sinh học, sinh thái thì tác giả chỉ điểm qua khá sơ lược và không rõ ràng. Từ năm 1980, Nguyễn Quang Phách đã có nhiều công trình nghiên cứu về chim yến ở Việt Nam, chủ yếu tập trung trên đàn chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa. Ngoài luận án Phó tiến sĩ về chim yến năm 1993 [25], sách chuyên khảo “Loài Chim yến tổ trắng và tổ đen” xuất bản năm 2002 [81] đã tập hợp hầu hết các nghiên cứu về chim yến của tác giả Nguyễn Quang Phách, đây có thể coi là một ấn phẩm khoa học rất có giá trị về chim yến ở Việt Nam và các vùng phụ cận. Tác giả đã tập trung nghiên cứu các đặc trưng về sinh học sinh thái trên đàn chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa như các đặc điểm sinh trưởng phát triển cá thể, đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản, sự thay lông và tình hình khai thác nguồn lợi.
Theo Nguyễn Quang Phách, 1991 [24], phân bố của chim yến tổ trắng ở Việt Nam là từ Quảng Bình trở vào các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên, những công trình công bố sau này của tác giả đã xác định chim yến cho tổ ăn được chỉ phân bố từ tỉnh Quảng Nam (quần đảo CLC) trở vào các tỉnh phía Nam. Đường bay đi kiếm ăn của chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa được Nguyễn Quang Phách mô tả từ các hang đảo vịnh Nha Trang bay xa vào trong đất liền, lên đến các tỉnh như Phú Yên, Đăc Lắc, Lâm Đồng để kiếm ăn. Kết quả phân tích thành phần thức ăn của chim yến đảo tỉnh Khánh Hòa của Nguyễn Quang Phách cho thấy có sự khác nhau giữa chim trống, chim mái và chim non (bảng 1.
Kết quả cho thấy chim yến hàng ăn các loại côn trùng bay trong không gian, trong đó có nhiều loài gây hại cho cây trồng nên chim yến còn là một trong những loài chim có ích cho nông nghiệp. Thành phần thức ăn của Chim yến tổ trắng Việt Nam Chim đực Chim cái Chim non Loại côn % tổng Tần số % tổng Tần số % tổng Tần số trùng Số (%) số (%) số (%) Ong, kiến 56,1 94,0 68,8 88,2 6,2 100,0 Mối cánh 12,7 25,5 17,4 35,3 0,5 20,0 Ruồi, muỗi 13,4 20,0 0,6 7,0 20,5 100,0 Bọ rầy 5,6 29,4 4,8 35,3 50,5 100,0 Bọ rùa, mọt 5,1 58,8 4,7 64,7 2,0 81,5 Chuồn chuồn 5,1 29,4 2,1 17,6 0,2 40,7 Bọ xít đỏ 5,4 47,0 2,1 29,4 4,8 92,5 Bướm đêm 0,6 5,5 - - 0,2 32,8 Cánh tơ - - - - 2,5 11,1 Cào cào - - - - 2,5 11,1 Mẫu nát - - - - 9,5 - (Nguồn: Phach et al. 2002 [81]) Năm 2011, Hồ Thế Ân và nnk [2] đã xuất bản sách chuyên khảo về lịch sử nghề bảo vệ, khai thác và sử dụng tổ yến ở Việt Nam, tập trung chủ yếu trên quần thể chim yến đảo của tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, phần sinh học, sinh thái của chim yến thì được nhắc đến rất ít và thiếu hệ thống.
Năm 2007, trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội đã có khảo sát về đa dạng sinh học đảo CLC, trong đó có khảo sát bước đầu về nơi ở của quần thể chim yến đảo CLC, kết quả được đăng trong Kỷ yếu CLC [38]. Kết quả cho thấy chim yến tổ trắng tại CLC sống tập trung trong một số hang đá cheo leo phía Đông của các đảo hòn Khô, hòn Lao và hòn Tai. Năm 2011, Đinh Thị Phương Anh và nnk [1] đã có nghiên cứu về một số yếu tố môi trường, sinh thái tại các hang chim yến làm tổ ở đảo CLC. Kết quả bước đầu cho thấy những hang chim yến sống và làm tổ có nhiệt độ thấp hơn, ẩm độ cao hơn và cường độ ánh sáng yếu hơn bên ngoài hang.