MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới, được thiên nhiên ưu đãi, thời tiết nóng ẩm quanh năm từ đó tạo nên nguồn tài nguyên dược liệu vô cùng phong phú. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước đã có truyền thống lâu đời về sử dụng các cây cỏ có sẵn để làm thuốc và bảo về sức khỏe và nêu cao chân lý: “Thuốc nam chữa bệnh người nam”. Theo tổ chức y tế thế giới hiện trên thế giới có 20.000 loài trong khoảng 250.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất làm thuốc.
Theo Nguyễn Tập (viện dược liệu) đến năm 2000, Việt Nam đã thống kê và sưu tầm được 3830 loài thuộc 296 họ loài thực vật được dùng làm thuốc. Theo số liệu của Nguyễn Duy Thuần (Viện dược liệu) công bố trong hội nghị dược liệu toàn quốc tổ chức vào tháng 3 năm 2003, nhu cầu sử dụng dược liệu ở nước ta khoảng 50.000 tấn/năm phục vụ cho 145 bệnh viện y học cổ truyền, 242 khoa y học cổ truyền và xuất khẩu. Theo công bố của Nguyễn Thượng Dong (Viện dược liệu) trên thế giới 15 tỷ USD/năm các thị trường lớn như Mỹ 4 tỷ; châu Âu 2,4 tỷ, Nhật Bản 2,7 tỷ và châu Á khoảng 3 tỷ USD/năm. Như vậy, cây dược liệu là cây vô cùng quý giá về giá trị chữa bệnh cũng như giá trị kinh tế.
Ngày nay Y tế phát triển, nhu cầu cây thuốc tạo nguyên liệu cho sản xuất thuốc và xuất khẩu ngày càng cao. Để đáp ứng yêu cầu đó, ngành dược liệu đã và đang phấn đấu không ngừng tìm hiểu thêm những dược liệu mới, công dụng mới giúp điều trị và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Cho nên, thúc đẩy và không ngừng phát triển công tác nghiên cứu trồng cây dược liệu là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Cây ích mẫu có tên khoa học là Leonurus heterophyllus Sweet thuộc họ hoa môi: c 2 Lamiaceae.
Là loại cây thuốc nam quan trọng đối với sức khỏe con người nhất là đối với phụ nữ. trên thị trường ích mẫu là cây được tiêu thụ lớn, theo số liệu điều tra của Phạm Thanh Huyền và cộng sự năm 2003 hàng năm tại thị trường Lãn Ông cung cấp khoảng 2.350 tấn, Nghĩa Trai 8. Cây ích mẫu là một cây mọc hoang dại song nó lại là một cây thuốc quý đã được biết đến từ nhiều đời nay nhất là trong các bài thuốc đông y. Hiện nay các bài thuốc từ cây ích mẫu được chế biến dưới nhiều dạng sản phẩm khác nhau.
Cây ích mẫu có rất nhiều tác dụng có lợi với Y học nói chung hay sức khỏe con người nói riêng đặc biệt đối với người phụ khi sinh nở. Mặc dù đã được trồng trong nhân dân nhưng chủ yếu sản phẩm của Ích mẫu vẫn được thu hái trong tự nhiên là chủ yếu. Do đó nguồn tài nguyên thiên nhiên này ngày càng bị cạn kiệt, không chủ động về nguồn dược liệu mặt khác sản phẩm khi chế biến không đồng đều điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng các sản phẩm. Vì vậy chúng ta cần quan tâm tới công tác chọn tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng như lựa chọn về mật độ trồng, chế độ chăm sóc.để có được sản phẩm dược liệu chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất.
Xuất phát từ những yêu cầu thiết nêu trên nên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng, phát triển cây ích mẫu Leonurus hecterophullus Sweet tại Yên Bái”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài Đánh giá đặc điểm sinh học bao gồm cấu tạo thân, lá, hoa, cành, hạt… Ích mẫu phục vụ công tác chọn tạo giống và lựa chọn được mật độ trồng thích hợp để cây sinh trưởng phát triển cho năng suất cao, đưa hiệu quả kinh tế trong sản xuất Ích mẫu thành sản phẩm hàng hóa. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được đặc điểm nông sinh học của cây Ích mẫu; - Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển của cây Ích mẫu; - Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại; - Đánh giá các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất của cây Ích mẫu; - Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng Ích mẫu.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài Là cơ sở cho các nghiêm cứu tiếp theo về cây Ích mẫu. Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể bổ sung thêm nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, chỉ đạo sản xuất, chọn tạo giống và nghiên cứu các các biện pháp kỹ thuật khác cũng như là cơ sở khoa học trong điều trị và chữa bệnh bằng cây thuốc nam. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài bước đầu đã phân biệt đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Ích mẫu, qua đó xác định được mật độ trồng cho cây Ích mẫu nhằm góp phần hoàn thiện kỹ thuật trồng cây Ích mẫu cho năng suất, chất lượng cao.
Đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa từ cây trồng bản địa. Góp phần tăng thêm thu hút đầu tư vào cây dược liệu để tạo vùng sản xuất cung cấp được nhiều loại cây thuốc có ích. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và mật độ trồng 2. Cơ sở của việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học - Việc chọn giống cây trồng là việc quan trọng để tìm tòi và phát hiện, phát triển giống mới.
Để làm được việc đó ta cần hiểu rõ hơn về cây, hiểu về thành phần, cấu tạo, đặc điểm chức năng của cây. - Mục tiêu của chiến lược của công tác chọn tạo giống là chọn tạo giống có năng suất cao, có chất lượng tốt về dinh dưỡng, chất lượng thương phẩm và chất lượng dược phẩm. Khả năng chống chịu sâu bệnh vầ các điều kiện bất thuận của tự nhiên. Đặc biệt là các nhà chọn tạo giống chọn tạo được giống có đặc tính sinh học đáp ứng được nhu cầu của các nhà sản xuất và người tiêu dùng: chiều cao cây, độ to nhỏ, thời gian sinh trưởng, khả năng thu hoạch, chế biến và bảo quản.
Muốn vậy các nhà nông học phải nắm vững được các đặc điểm hình thái, đặc tính sinh thái, đặc tính di truyền cũng như các tính trạng về chống chịu sâu bệnh, tính thích ứng của cây với môi trường xung quanh hay nói cách khác là các nhà khoa học phải năm được quy luật di chuyền và các gen quy định đúng tính trạng mong muốn [10]. Cơ sở khoa học xác định mật độ tới sinh trưởng và phát triển cây ích mẫu - Mật độ và khoảng cách gieo trồng là 2 yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển các cá thể làm cho quần thể cây khai thác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (khai thác nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được sản lượn cao nhất trên 1 đơn vị diện tích. - Mật độ càng cao thì sự cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt.
Dưới đất cây cạnh tranh nhau về nước, dinh dưỡng trong đất.Khi đất không cung cấp c 5 đủ cho nhu cầu của cây thì cây sẽ phát triển kém, cây nhỏ, không xanh tốt. Trên khoảng không gian, để có thể lấy được ánh sáng khi phải cạnh tranh với các cây khác cây sẽ phải tăng trưởng chiều cao 1 cánh tối đa sẽ làm thân nhỏ, yếu, lá bé, khả năng chống chịu kém trước các điều kiện ngoại cảnh, khả năng chống chịu kém, dễ đổ. - Khi trồng ở mật độ thấp cây sẽ không phải cạnh tranh nhiều do vậy cây sẽ có điều kiện phát triển tốt cho năng suất cá thể cao, nhưng năng suất quần thể lại giảm bên cạnh đó cây sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện ngoại cảnh do tính quần thể giảm. - Mật độ trồng cây thích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng được tối đa các điều kiện của đồng ruộng từ đó giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng, từ đó cây phát triển khỏe mạnh cho năng suất, chất lượng tốt nhất cũng như hiệu quả kinh tế cao nhất [16].
Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới Trải qua nhiều thế kỷ, con người vẫn luôn coi trọng cây cỏ như là một nguồn thuốc chủ yếu để phòng và chữa bệnh. Theo WHO đến năm 1985, trên thế giới đã có khoảng 20.000 loài thực vật được dùng trực tiếp để làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc. Trong đó, vùng nhiệt đới châu Á ước tính có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc.000 loài, Trung Quốc 5. Bên cạnh việc sử dụng cây thuốc ở dạng cổ truyền (cao, thuốc ngâm rượu, thuốc sắc,…); thì nhiều năm nay người ta đã chế được ra nhiều loại thuốc hiện đại có nguồn gốc từ tự nhiên.
Cho đến nay chưa có con số chính xác thống kê về tổng số lượng thực vật được sử dụng là bao nhiêu, chỉ đoán là rất lớn [1],[12]. Khuynh hướng phát triển sản phẩm dược hiện nay là sự giao thoa hai chiều giữa khoa học kĩ thuật của phương Tây và những nguyên lý kinh dịch phương Đông trong y học cổ truyền. Tỷ trọng các sản phẩm Đông dược tại c 6 Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam càng ngày càng chiếm tỷ trọng cân bằng hoặc cao hơn sản phẩm dược xuất xứ từ phương Tây. Theo thống kê của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 loài được sử dụng vào mục đích chữa bệnh.
Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong y học truyền thống [17],[18]. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ (WHO, IUCN & WWF, 1992). Thực tế cho thấy vấn đề này ngày càng phổ biến ở các nước phát triển, nhất là trong 20 năm gần đây.