Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm răng cối lớn thứ nhất hàm dưới 1. Đặc điểm hình thể ngoài 1. Thân răng Nhìn từ mặt ngoài: thân răng dạng hình thang hội tụ về phía cổ và phía xa, với kích thước gần xa lớn hơn kích thước nhai nướu và kích thước gần xa răng cối lớn (RCL) thứ nhất là lớn nhất.
Đặc điểm hội tụ về phía cổ ở răng cối lớn thứ nhất rõ hơn nên phần cổ răng nhìn có vẻ nhỏ hơn RCL thứ hai. Múi xa ngoài thấp và mặt xa cong lồi khiến các răng cối lớn có dạng nghiêng xa khi nhìn từ mặt ngoài, đây là đặc điểm để phân biệt RCL bên phải và bên trái. Nhìn từ mặt trong: chỉ nhìn thấy hai múi gần trong và xa trong do múi trong cao hơn múi ngoài, phân cách bởi rãnh trong. Rãnh trong không lan qua mặt trong như ở hàm trên.
Mặt trong nhỏ hơn mặt ngoài nên nhìn thấy được mặt gần và mặt xa. Nhìn từ phía xa: có thể thấy được các đỉnh múi, gờ bên gần cũng như một phần mặt ngoài và mặt trong. Gờ bên gần có dạng cong lõm theo chiều ngoài trong. Gờ bên xa RCL thứ nhất rất ngắn có dạng khuyết chữ V, nằm phía xa và trong múi xa.
Nhìn từ phía gần: đường viền phía nhai của mặt gần được tạo bởi hai múi gần ngoài và gần trong hơi cao hơn. Đường viền phía ngoài có chỗ lồi nhẹ ở phần ba cổ mặt ngoài tạo, tạo thành gờ cổ răng ngoài. Ở phía trên gờ này đường viền ngoài nghiêng nhiều vào trong về phía đỉnh múi gần ngoài. Đường viền phía trong phẳng ở phần ba cổ, sau đó lồi đều về phía đỉnh múi gần trong.
Nhìn từ mặt nhai: có dạng viền hình thang với cạnh ngoài lớn hơn cạnh trong. Có năm múi, ba múi ngoài và hai múi trong. Gờ bên và các gờ múi nối 4 kết nhau tạo thành bản nhai. Có ba trũng, lớn nhất là trũng giữa, nhỏ nhất là trũng tam giác.
Đáy trũng thường có hố là nơi dễ xảy ra sâu răng [14]. Vùng chẻ Thân răng dạng hình thang hội tụ về phía cổ răng, ở RCL thứ nhất là rõ nhất. Mặt ngoài đường cổ răng khá phẳng nhưng đôi khi ở cổ răng có nhô men từ đường nối men – xê măng lấn sâu xuống vùng chẽ, dễ hình thành túi nha chu và tạo sang thương vùng chẽ răng. Ở phía gần đường cổ răng cong lõm nhẹ, phía xa có dạng phẳng [14].
Vùng chẽ chân răng (CCR) là vùng giữa hai chân răng (CR), nơi một thân chung chia ra 2 chân. Các vấn đề về nha chu có liên quan tới RCL thứ nhất hàm dưới là mất một phần hoặc toàn bộ phần mô quanh răng giữa hai chân răng. Khoảng cách trung bình từ đường nối men-xê măng đến vùng chẽ ở mặt má là 3mm, ở mặt lưỡi là 4mm [24]. 1: Khoảng cách từ đường nối men xê măng đến vùng chẽ (Nguồn: Carranza's clinical periodontology, 2015 [41]) Thân chung chân răng là một phần của phức hợp chân răng, thân chung chân răng có thể được định nghĩa là khoảng cách giữa thân răng và nơi phân chia chân răng (Muller và Eger, 1999).
Đánh giá kích thước thân chung chân răng có ý nghĩa quan trọng trong khi chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị bệnh nha chu (McClain và Schallhorn, 2000). Theo Schallhorn, thân chung chân răng 5 ngắn ảnh hưởng đến cơ chế bệnh sinh của sang thương vùng chẽ, thân chung chân răng càng ngắn thì càng dễ bị tổn thương vùng chẽ hơn [24]. Chân răng RCL thứ nhất hàm dưới thường có 2 CR, thường thấy chân gần và chân xa rõ rệt. Chân gần mỏng, có hình thù giống như cái đĩa lõm 2 mặt, chân xa cong và thường bền vững hơn.
Chân gần có 2 ống tủy ngoài và trong, nối với nhau qua buồng tủy. Mặt xa của các chân gần thường có rãnh sâu. Độ cong và rãnh có thể làm tăng khả năng xuyên thủng CR trong khi điều trị nội nha hoặc làm phức tạp cho việc hoàn thiện khi làm phục hình. Phần chóp của chân xa cong về phía xa và đó là một khó khăn khi cắt CR, chỉ có chân gần là dễ nhổ.
Chân xa thuôn hơn, nó thường chỉ có một ống tủy CR do đó ít thất bại về nội nha hơn và dễ phục hình răng giả hơn vì nó song song với răng cối nhỏ phía trước [14] [28]. 2: Đặc điểm hình thái răng cối lớn thứ nhất hàm dưới (Nguồn: Wheeler's Dental Anatomy, Physiology, and Occlusion, 2018 [52]) 1. Đặc điểm hình thể trong Trên thiết đồ gần xa, thấy có hai sừng tủy, sừng gần ngoài lớn hơn sừng xa ngoài. Hai ống tủy rất hẹp và cong theo dạng gọng kềm của chân răng.
Trên thiết đồ ngoài trong cũng thấy hai sừng tủy, sừng gần ngoài nhỏ hơn sừng gần trong. Có hai ống tủy trong chân gần. Buồng tủy tương đối nhỏ so với độ cao 6 của các sừng tủy. Trên thiết đồ ngang, buồng tủy gần như hình chữ nhật, hai cạnh gần, xa bằng nhau [14].
Đặc điểm lâm sàng, X quang tổn thương răng cối lớn thứ nhất hàm dưới 1. Tổn thương mô cứng của răng Các loại tổn thương thân răng thường gặp: rạn nứt thân răng, vỡ, mất các thành của thân răng; gãy ngang thân răng: có thể gãy 1/3 đến 1/2 hoặc toàn bộ thân răng; gãy thân-chân răng; gãy thân răng-gãy gần cổ răng dưới nướu; mất một phần thân răng do sâu răng. Các loại tổn thương trên có thể kèm theo: viêm tủy, lộ tủy, viêm quanh chóp [2]. Nứt, gãy thân răng: Hiệp hội các bác sĩ nội nha Hoa Kỳ phân ra 5 loại: đường rạn, vỡ múi, nứt răng, chia tách răng, gãy dọc [50].3: Hai loại nứt gãy răng thường gặp ở răng cối lớn (Nguồn: American Association of Endodontists: Cracked teeth, 2017 [50]) Nguyên nhân gây tổn thương mô cứng thường gặp là do sâu răng.
Theo điều tra của Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (1990) dưới sự giúp đỡ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì tỷ lệ sâu răng của Việt Nam là 57-72% và đến năm 1990-2000 tỷ lệ này là 75-89% [4]. Sang thương vùng quanh chóp * Đặc điểm lâm sàng 7 Viêm quanh chóp (VQC) là tổn thương viêm và phá hủy mô quanh chóp, là đáp ứng đề kháng của cơ thể đối với sự xâm nhập của vi khuẩn. Nguyên nhân có thể do viêm tủy, nhiễm khuẩn tủy; thất bại trong điều trị nội nha như trám ống tủy ra ngoài chóp răng, lấy tuỷ hoặc trám ống tủy không khít theo chiều ngang hay chiều dọc; không thể nội nha do bất thường về cấu trúc giải phẫu như chân răng cong, gấp khúc ở 1/3 chóp, vôi hóa ống tủy, có sạn tủy, hệ thống ống tủy phụ phức tạp ở phần chóp; sai lầm trong điều trị nội nha: gãy dụng cụ trong ống tủy, khoan thủng CR, thủng sàn tủy; răng có tủy bình thường nhưng bị chấn thương khớp cắn do miếng trám cao hay do nghiến răng. Sang thương quanh chóp có thể là u hạt, u hạt biểu mô, nang hoặc áp xe, sự tiến triển tùy mức độ viêm và phản ứng [5].
- Viêm quanh chóp cấp + Toàn thân: mệt mỏi, sốt cao ≥ 38˚C, có dấu hiệu nhiễm trùng. + Cơ năng Đau tự nhiên, liên tục, tăng khi nhai, ít đáp ứng với thuốc giảm đau. Cảm giác trồi răng: răng đau chạm trước khi cắn. + Thực thể Vùng da tương ứng sưng nề, đỏ, không rõ ranh giới, ấn đau.
Răng có thể đổi màu hoặc không đổi màu. Tổn thương do sâu, răng đã được điều trị nội nha, tổn thương khác. Răng lung lay rõ, thường độ 2 hoặc 3. Gõ dọc răng đau dữ dội so với gõ ngang.
Niêm mạc ngách lợi vùng chóp răng sưng, đỏ, ấn đau, mô lỏng lẻo. Thử nghiệm tủy: âm tính với thử điện, nhiệt do tủy đã hoại tử [3]. - Viêm quanh chóp mạn + Tiền sử đau đợt viêm tủy cấp, VQC cấp, áp xe quanh chóp cấp. + Thực thể: 8 Răng đổi màu.
Vùng ngách lợi tương ứng quanh chóp răng có thể hơi nề, có lỗ hoặc sẹo dò vùng chóp. Gõ răng không đau hoặc đau nhẹ ở vùng chóp răng. Răng có thể lung lay khi tiêu xương ổ răng nhiều. Các thử nghiệm tủy âm tính.
* Đặc điểm X quang: Viêm quanh chóp cấp: mờ vùng chóp, ranh giới không rõ, dãn rộng dây chằng quanh chóp. Viêm quanh chóp mạn: đưa gutta percha qua lỗ rò trong miệng có thể thấy hình ảnh nguồn gốc ổ mủ trên phim X quang. Tiêu xương ranh giới không rõ (áp xe quanh chóp mạn tính), ranh giới rõ (u hạt và nang) [5]. Sang thương vùng chẽ Vùng CCR có tổn thương bệnh lý thường gặp do vấn đề về nha chu, do nơi này vi khuẩn dễ bám vào bề mặt của rãnh CR và nơi chia nhánh của CR tạo điều kiện cho bệnh lý dễ xảy ra [24].
* Nguyên nhân tổn thương vùng chẽ chân răng - Độ dài của thân chung chân răng: thân chung chân răng ngắn dễ dàng thực hiện các biện pháp phẫu thuật hơn. - Độ phân kỳ của chân răng: là một yếu tố quan trọng. Chân răng chụm hoặc song song gây khó khăn cho việc lấy vôi răng, nạo túi nha chu và phẫu thuật. Chân răng phân kỳ điều trị dễ dàng hơn.
- Giải phẫu vùng CCR: sự phân nhánh 2 hoặc 3 của chân răng, rãnh trên chân răng, chỗ lõm của CCR, sự có mặt của các ống tủy phụ. - Nhô men: đôi khi nhô men từ đường nối men – xê măng lấn xuống vùng chẽ, dễ hình thành túi nha chu và tạo sang thương vùng chẽ chân răng [6]. 9 Thăm khám lâm sàng là điểm mấu chốt. Thăm dò túi nướu cẩn thận để phát hiện sự hiện diện và mức độ mất bám dính của vùng CCR, vị trí của chỗ bám dính liên quan đến vùng CCR và độ lan rộng cũng như hình thể tổn thương vùng CCR.
Tình trạng mất xương theo chiều ngang đã được phân loại như sau: * Phân loại theo chiều ngang Lindhe (1983) - Loại I: mất xương vùng chẽ ≤1/3 (khoảng 3mm), phim tia X chưa thấy tiêu xương trầm trọng. - Loại II: mất xương vùng chẽ >1/3 nhưng thám trâm chưa xuyên qua, phim tia X có thấu quang bên dưới chân vùng chẽ. - Loại III: mất xương toàn bộ vùng chẽ, thám trâm xuyên qua, phim tia X có vùng thấu quang rất rộng dưới vùng chẽ [34].4: Phân loại tiêu xương theo chiều ngang của Linhde (1983) (Nguồn: Furcation Involvement Classification: A Comprehensive Review and a New System Proposal, 2018 [44]) * Phân loại theo chiều dọc Tarnow và Fletcher (1984) - Độ A: tiêu đến 1/3 xương ổ giữa CR (sâu 1-3mm). - Độ B: tiêu 2/3 xương ổ giữa CR (sâu 4-6mm).
- Độ C: tiêu đến 1/3 chóp gốc răng (sâu >7mm) [34].