Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở các mức độ khác nhau, khởi phát hoặc lần đầu tiên được ghi nhận trong thời gian mang thai. Quá trình thai nghén làm gia tăng nồng độ các hormone đối kháng insulin từ bánh nhau, dẫn đến hiện tượng đề kháng insulin sinh lý và rối loạn chuyển hóa đường, kéo theo nhiều nguy cơ xuất hiện các biến cố sản khoa bất lợi cho cả người mẹ và thai nhi. Khi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán mới năm 2011 của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA), tỷ lệ ghi nhận ĐTĐTK tại Hoa Kỳ đã tăng từ mức 5 - 6% lên khoảng 15 - 20%, phản ánh một tỷ lệ đáng kể các trường hợp trước đây chưa được phát hiện. Trên phạm vi quốc tế, thử nghiệm HAPO (Hyperglycemia and Adverse Pregnancy Outcomes) tiến hành trên 23.000 thai phụ tại 9 quốc gia đã xác nhận mối liên quan mật thiết giữa tăng đường huyết với các kết cục xấu: tỷ lệ mổ lấy thai là 24,6%, tiền sản giật 4,8%, thai to 9,5%, sinh non 6,9%, hạ đường huyết sơ sinh 2,1% và sang chấn sản khoa 1,3%. Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2012 của Nguyễn Khoa Diệu Vân cũng ghi nhận tỷ lệ tiền sản giật - sản giật là 2,2%, đa ối 1,1% và con to 3,3%.
Bệnh viện Từ Dũ là cơ sở chuyên khoa đầu ngành về Sản Phụ khoa tại khu vực phía Nam. Mặc dù các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam đã tiếp cận vấn đề tỷ lệ mắc và quy trình tầm soát, song tại Bệnh viện Từ Dũ vẫn thiếu các công trình theo dõi dọc nhằm tổng hợp đầy đủ và khái quát toàn bộ các kết cục thai kỳ bất lợi ở nhóm bệnh nhân ĐTĐTK nội trú. Xuất phát từ thực tiễn lâm sàng đó, khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ Y đa khoa của nhóm tác giả Lê Thanh Nghị, Nguyễn Thị Cẩm Nhung, Vũ Thị Thùy Trang, Lê Đức Minh Trí và Nguyễn Thị Yến (dưới sự hướng dẫn của ThS.BS. Trần Huy Dũng, Khoa Y - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, thực hiện tháng 05/2018) đã tiến hành đề tài: "Khảo sát đặc điểm kết cục thai kỳ những trường hợp đái tháo đường thai kỳ nhập viện và điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ".
Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra: "Tỷ lệ các kết cục thai kỳ bất lợi của những trường hợp ĐTĐTK nhập viện và điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ là bao nhiêu?"
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua hai mục tiêu:
- Mục tiêu chính: Xác định tỷ lệ các kết cục thai kỳ bất lợi ở những trường hợp ĐTĐTK nhập viện và điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ.
- Mục tiêu phụ: Xác định tỷ lệ các yếu tố nguy cơ của những trường hợp ĐTĐTK nhập viện và điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu, nhập viện điều trị và kết thúc thai kỳ tại khoa Sản A, Bệnh viện Từ Dũ.
- Phạm vi không gian: Khoa Sản A và các khoa phòng chức năng liên quan thuộc Bệnh viện Từ Dũ, TP. Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và theo dõi số liệu tiến cứu từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 01 năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa quốc tế từ Nhóm Dữ liệu Đái tháo đường Quốc gia Hoa Kỳ (NDDG 1979), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 1999) và Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2015). Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐTK được phân tích qua bộ ba hiện tượng: tăng tiết insulin máu, phản ứng "mau đói" (do thai nhi tiêu thụ glucose liên tục khiến mức chuyển hóa của mẹ sau 12 - 14 giờ nhịn đói tương đương người bình thường nhịn 24 - 36 giờ) và sự gia tăng đề kháng insulin ngoại vi do các hormone bánh nhau bài tiết (human placental lactogen, estrogen, progesterone, prolactin và cortisol; trong đó cortisol ở cuối thai kỳ tăng gấp 3 lần bình thường).
Về chẩn đoán và điều trị, khóa luận căn cứ theo:
- Tiêu chuẩn chẩn đoán: Nghiệm pháp dung nạp 75g glucose đường uống (OGTT) ở tuần thứ 24 - 28 theo tiêu chuẩn ADA 2011 và Nhóm Nghiên cứu Quốc tế về Đái tháo đường và Thai kỳ (IADPSG 2010). Chẩn đoán xác định khi có từ một giá trị đường huyết trở lên đạt hoặc vượt ngưỡng: đường huyết đói ≥ 92 mg/dl (5,1 mmol/l), sau 1 giờ ≥ 180 mg/dl (10,0 mmol/l), sau 2 giờ ≥ 153 mg/dl (8,5 mmol/l).
- Tiêu chuẩn phân loại kết cục: Tiền sản giật theo tiêu chuẩn Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG 2014); đa ối xác định bằng siêu âm với chỉ số ối AFI > 25 cm hoặc chiều sâu khoang ối lớn nhất SDP > 80 mm (ACOG 2012); sinh non theo phân loại WHO 2016 (< 37 tuần); thai to theo ACOG (> 4000g hoặc cân nặng trên bách phân vị thứ 90 theo tuổi thai); hạ đường huyết sơ sinh theo hướng dẫn của Bộ Y tế 2015 (< 2,6 mmol/l hay 47 mg/dl); tăng bilirubin sơ sinh (> 12 mg/dl hay 205 µmol/l); ngạt sơ sinh theo thang điểm Apgar < 7 điểm; khuyến cáo tăng cân thai kỳ theo chỉ số khối cơ thể (BMI) của Viện Y học Hoa Kỳ (IOM).
Thiết kế và phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát mô tả dạng báo cáo loạt ca tiến cứu.
- Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ các thai phụ ĐTĐTK nhập viện tại khoa Sản A đáp ứng tiêu chí nghiên cứu trong khoảng thời gian xác định.
- Tiêu chuẩn chọn vào: Thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK bằng nghiệm pháp OGTT 75g ở tuần 24 - 28 theo ADA 2011; đồng ý tham gia nghiên cứu bằng văn bản; thực hiện sinh con tại Bệnh viện Từ Dũ.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Đã có chẩn đoán đái tháo đường từ trước khi mang thai; mắc các bệnh lý ảnh hưởng đến chuyển hóa đường (cường giáp, suy giáp, hội chứng Cushing, u tủy thượng thận, to đầu chi, buồng trứng đa nang, bệnh lý suy gan, suy thận); đang sử dụng các thuốc gây rối loạn đường huyết (corticosteroid, salbutamol, thuốc chẹn giao cảm, thuốc lợi tiểu nhóm thiazide).
- Quy mô mẫu: Trong thời gian nghiên cứu có 121 sản phụ đủ điều kiện nhập viện; 20 trường hợp bị mất dấu hoặc không theo dõi được trọn vẹn đến lúc xuất viện, do đó cỡ mẫu phân tích chính thức gồm 101 sản phụ và trẻ sơ sinh tương ứng.
- Nguồn dữ liệu: Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân qua bảng câu hỏi có cấu trúc kết hợp trích xuất hồ sơ bệnh án nội trú, kết quả siêu âm, theo dõi tim thai - cơn gò (CTG), xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, hồ sơ cuộc sinh và khám lâm sàng/sinh hóa sơ sinh. Nghiên cứu được Hội đồng Y đức Khoa Y - ĐHQG TP.HCM và Bệnh viện Từ Dũ phê duyệt, bảo đảm tính ẩn danh và bảo mật thông tin.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan y văn
Chương này tổng thuật toàn diện các khái niệm, cơ chế bệnh sinh phân tử và chuyển hóa của ĐTĐTK. Tác giả đối chiếu các mốc lịch sử tầm soát từ nghiệm pháp 50g của O'Sullivan và Mahan (1973), ngưỡng Carpenter - Coustan (1982), NDDG (1979) cho đến tiêu chuẩn IADPSG (2010) và ADA (2011). Tổng quan tập trung phân tích cơ chế hình thành các biến cố sản khoa:
- Trên người mẹ: Tăng nguy cơ mổ lấy thai do thai to, bất tương xứng đầu chậu, suy thai; tăng huyết áp thai kỳ và tiền sản giật do tổn thương nội mô mạch máu; đa ối do thai tăng bài niệu thẩm thấu thứ phát sau tăng đường huyết; nguy cơ chuyển dạ sinh non và vỡ ối sớm.
- Trên thai nhi và trẻ sơ sinh: Hiện tượng thai to tập trung tích tụ mô mỡ ở vai, ngực, bụng dẫn đến nguy cơ kẹt vai và tổn thương đám rối thần kinh cánh tay (liệt Erb); hạ đường huyết sau sinh do nồng độ insulin thai nhi còn cao sau khi bị cắt nguồn glucose đột ngột từ mẹ; suy hô hấp sơ sinh do insulin ức chế cortisol làm giảm sản xuất surfactant tại phế nang; hạ canxi máu và tăng bilirubin do đa hồng cầu; các bất thường bẩm sinh về tim mạch và thần kinh.
- Quản lý điều trị: Nguyên tắc dinh dưỡng (1800 - 2500 calo/ngày, ưu tiên carbohydrate hấp thu chậm), tập thể dục 30 phút/ngày; chỉ định insulin (regular, NPH, lispro, aspart, detemir) khi thất bại sau 1 - 2 tuần tiết chế hoặc khi đường huyết đói > 110 mg/dl, sau ăn 1 giờ > 140 mg/dl, tăng cân > 12 kg; mục tiêu kiểm soát đường huyết nghiêm ngặt trong thai kỳ và kiểm tra lại bằng OGTT sau sinh 6 tuần.
Chương 2: Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu loạt ca tiến cứu tại Bệnh viện Từ Dũ. Tác giả xây dựng lưu đồ tiếp nhận bệnh nhân, giải thích thông tin và thu thập phiếu đồng thuận tham gia. Chương này định nghĩa tường minh hệ thống các biến số nghiên cứu:
- Biến số độc lập (dịch tễ và tiền sử): Tuổi mẹ, nghề nghiệp, nơi cư trú, trình độ học vấn, BMI trước mang thai, mức tăng cân trong thai kỳ, tiền căn thai nghén (con so/con rạ), tiền căn sản khoa bất thường (sinh con to, sảy thai, thai lưu, ĐTĐTK lần trước, tiền sử gia đình mắc đái tháo đường).
- Biến số phụ thuộc (kết cục sản khoa): Tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, đa ối, thiểu ối, sinh non, phương pháp sinh (sinh thường, sinh giúp bằng forceps, mổ lấy thai), băng huyết sau sinh.
- Biến số phụ thuộc (kết cục sơ sinh): Cân nặng lúc sinh, con to (> 4000g hoặc > bách phân vị thứ 90), thai nhỏ so với tuổi thai (< bách phân vị thứ 10), ngạt sơ sinh theo chỉ số Apgar tại thời điểm 1 phút và 5 phút, hạ đường huyết, tăng bilirubin máu, dị tật bẩm sinh và tử vong chu sinh.
- Kiểm soát sai số và y đức: Đặt ra tiêu chuẩn loại trừ cụ thể nhằm loại bỏ các yếu tố gây nhiễu chuyển hóa đường; bảo mật dữ liệu bệnh án theo quy định của Hội đồng Y đức.
Chương 3: Kết quả
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thống kê thu thập từ 101 sản phụ ĐTĐTK theo dõi hoàn chỉnh:
- Đặc điểm đối tượng: Tuổi trung bình là 31 ± 4,9 tuổi (18 - 43 tuổi); nhóm tuổi 30 - 34 chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,6%; tỷ lệ thai phụ từ 25 tuổi trở lên chiếm 92,1%. Về nghề nghiệp, công nhân viên chiếm 39,6% và nội trợ chiếm 24,8%. Học vấn từ trung học phổ thông trở lên chiếm 87,1%. Địa bàn sinh sống gồm TP.HCM chiếm 43,6% và các tỉnh khác chiếm 56,4%.
- Thể trạng và tiền căn: BMI trung bình trước mang thai là 21,5 ± 2,5 kg/m2; trong đó thể trạng bình thường chiếm 69,3%, thừa cân 14,9%, béo phì 9,9% và nhẹ cân 5,9%. Mức tăng cân vượt khuyến cáo IOM xuất hiện ở 27,1% nhóm BMI bình thường, 53,3% nhóm thừa cân và 70,0% nhóm béo phì. Tỷ lệ có tiền căn gia đình mắc đái tháo đường là 12,9%; tiền căn thai lưu 16,9%; tiền căn ĐTĐTK 6,9%; tiền căn sinh con to 4,0%. Phân nhóm yếu tố nguy cơ ghi nhận: nguy cơ trung bình chiếm 66,3%, nguy cơ cao chiếm 28,7%, nguy cơ thấp chỉ có 5,0%.
- Kết cục trên mẹ: Có 72 trường hợp (71,3%) gặp kết cục thai kỳ bất lợi. Phương pháp sinh mổ chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,5% (55/101 ca), sinh thường chiếm 37,6% (38/101 ca), sinh giúp bằng forceps chiếm 7,9% (8/101 ca). Sinh non chiếm 13,9% (14 ca; gồm 1 ca sinh cực non < 28 tuần, 1 ca sinh rất non 28 - 31 tuần, 12 ca sinh non muộn 34 - 36 tuần; tuổi thai trung bình khi sinh là 38,0 ± 2,0 tuần). Rối loạn huyết áp thai kỳ chiếm 9,9% (10 ca, tất cả đều là tiền sản giật). Tỷ lệ đa ối là 3,0% (3 ca), thiểu ối 2,0% (2 ca), băng huyết sau sinh 3,0% (3 ca). Chỉ định mổ lấy thai hàng đầu là do thai to (18,2%), tiếp đến là ngôi thai bất thường (14,5%), suy thai (10,9%), vết mổ cũ (10,9%), giục sinh thất bại (10,9%), bất thường khung chậu (9,1%) và bất xứng đầu chậu (7,3%).
- Kết cục trên con: Cân nặng sơ sinh trung bình đạt 3244 ± 531g (800g - 4500g). Trẻ có cân nặng bình thường chiếm 80,2%; con to theo bách phân vị > 90 chiếm 12,9% (13 trẻ); con to > 4000g chiếm 9,9% (10 trẻ); trẻ nhẹ cân (< 2500g) chiếm 6,9% (7 trẻ). Thai nhỏ hơn so với tuổi thai chiếm 5,0% (5 trẻ, trong đó 3 trẻ xác định chậm tăng trưởng trong tử cung có bất thường doppler mạch máu). Tỷ lệ ngạt sơ sinh theo Apgar 1 phút < 7 điểm là 7,9% (8 trẻ), sau hồi sức tại phút thứ 5 còn 2,0% (2 trẻ). Tỷ lệ dị tật bẩm sinh là 3,0% (2 ca dị tật tim, 1 ca dị tật chi trên). Tỷ lệ tăng bilirubin máu sơ sinh là 2,0% (2 trẻ); hạ đường huyết sơ sinh là 2,0% (2 trẻ). Có 1 trường hợp tử vong chu sinh (1,0%) do sinh cực non ở tuần thứ 26 kết hợp dị tật tim nặng. Tỷ lệ chung có kết quả thai kỳ bất lợi (trên mẹ hoặc con) là 77,2%.
Chương 4: Bàn luận
Chương này so sánh các chỉ số thu được với các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:
- Về đặc điểm dịch tễ: Tuổi trung bình của thai phụ (31 ± 4,9 tuổi) tương đồng với kết quả của Jane tại Bệnh viện Hùng Vương (31,21 ± 4,16), Lê Thị Thanh Tâm tại Vinh (29,9 ± 5,4) và Hale tại Thổ Nhĩ Kỳ (29,3 ± 3,4). Tỷ lệ 92,1% thai phụ từ 25 tuổi trở lên củng cố khuyến cáo coi tuổi ≥ 25 là yếu tố nguy cơ cần sàng lọc ĐTĐTK. Trình độ học vấn cao (87,1% tốt nghiệp cấp 3 trở lên) phản ánh khả năng tiếp thu kiến thức tiết chế và tuân thủ điều trị. Sự phân bố đồng đều giữa bệnh nhân cư trú tại TP.HCM (43,6%) và các tỉnh (56,4%) minh chứng vai trò tuyến tiếp nhận chuyên sâu của Bệnh viện Từ Dũ.
- Mối liên quan thể trạng: Tỷ lệ thừa cân, béo phì (24,8%) tương tự nghiên cứu của Vũ Bích Nga tại Hà Nội (25,8%) và Lê Thị Thanh Tâm (22,7%). Tình trạng tăng cân vượt mức tỷ lệ thuận với mức BMI trước mang thai, tương đồng với phát hiện của Erika Ota (2011) và Lê Thanh Tùng (2010).
- Về kết cục thai kỳ: Tỷ lệ mổ lấy thai trong nghiên cứu (54,5%) cao hơn đáng kể so với nghiên cứu HAPO (24,6%) và nghiên cứu của Hale (42,3%). Đáng chú ý, thai to là nguyên nhân chỉ định mổ lấy thai nhiều nhất (18,2%), khác biệt với kết quả của Lê Thị Thanh Tâm (chỉ chiếm 3,7%). Tỷ lệ tiền sản giật (9,9%) cao hơn nghiên cứu HAPO (4,8%) và Nguyễn Khoa Diệu Vân (2,2%). Tỷ lệ con to (12,9%) tương đương nghiên cứu của Lê Thị Thanh Tâm (14,6%) và nghiên cứu của WHO, nằm giữa nghiên cứu HAPO (9,5%) và Nguyễn Thế Bách (17,4%). Nghiên cứu nhấn mạnh việc phát hiện 5% thai nhỏ so với tuổi thai và 3% thai chậm tăng trưởng trong tử cung, chỉ ra rằng tổn thương vi mạch ở mẹ ĐTĐTK cũng có thể dẫn đến suy giảm tưới máu bánh nhau.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ về tần suất xuất hiện các biến cố sản khoa và sơ sinh trên nhóm thai phụ ĐTĐTK điều trị nội trú tại Bệnh viện Từ Dũ.
Bảng tổng hợp tỷ lệ các kết cục bất lợi trên người mẹ và so sánh với y văn:
| Kết cục sản khoa trên mẹ |
Nghiên cứu tại BV Từ Dũ (n=101) |
Nghiên cứu Hale và cs (2014) |
Nghiên cứu HAPO (2008) |
Nghiên cứu Nguyễn Khoa Diệu Vân (2012) |
| Mổ lấy thai |
54,5% |
42,3% |
24,6% |
- |
| Rối loạn huyết áp / Tiền sản giật |
9,9% |
7,0% |
4,8% |
2,2% |
| Sinh non |
13,9% |
8,2% |
6,9% |
- |
| Đa ối |
3,0% |
4,7% |
- |
1,1% |
| Sinh giúp (forceps) |
7,9% |
- |
- |
- |
| Băng huyết sau sinh |
3,0% |
- |
- |
- |
| Thiểu ối |
2,0% |
- |
- |
- |
Bảng tổng hợp tỷ lệ các kết cục bất lợi trên thai nhi và trẻ sơ sinh:
| Kết cục bất lợi trên con |
Tỷ lệ trong nghiên cứu (n=101) |
Số liệu so sánh từ y văn được trích dẫn |
| Con to (> 4000g hoặc > bách phân vị 90) |
12,9% (theo bách phân vị) / 9,9% (> 4000g) |
HAPO: 9,5%; Crowther: 10%; Lê Thị Thanh Tâm: 14,6%; Nguyễn Thế Bách: 17,4% |
| Thai nhỏ so với tuổi thai (< bách phân vị 10) |
5,0% (trong đó 3,0% chậm tăng trưởng tử cung) |
- |
| Trẻ nhẹ cân (< 2500g) |
6,9% |
- |
| Ngạt sơ sinh (Apgar 1 phút < 7 điểm) |
7,9% (Apgar 5 phút < 7 điểm còn 2,0%) |
- |
| Dị tật bẩm sinh |
3,0% (2 ca tim, 1 ca chi trên) |
Arieh Riskin: 5% |
| Tăng bilirubin máu sơ sinh |
2,0% |
Hale: 2,1% |
| Hạ đường huyết sơ sinh |
2,0% |
HAPO: 2,1%; Vũ Bích Nga: 4,9%; Wielandt: 15,3%; Nguyễn Thế Bách: 20,59% |
| Tử vong chu sinh |
1,0% (do sinh cực non 26 tuần + dị tật tim) |
- |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở các điểm sau:
- Xác lập bức tranh lâm sàng có hệ thống đầu tiên về toàn bộ các kết cục thai kỳ của bệnh nhân ĐTĐTK nhập viện tại Bệnh viện Từ Dũ, chỉ ra tỷ lệ kết cục bất lợi chung lên tới 77,2%.
- Làm rõ nguyên nhân mổ lấy thai ở thai phụ ĐTĐTK, khẳng định con to là chỉ định mổ hàng đầu (18,2%), cung cấp bằng chứng cho các nhà sản khoa trong việc tiên lượng chuyển dạ.
- Chỉ ra mối liên quan lâm sàng giữa tình trạng thừa cân/béo phì trước mang thai với mức độ tăng cân quá mức khuyến cáo của IOM trong thai kỳ ĐTĐTK (lên đến 70,0% ở nhóm béo phì).
- Ghi nhận tỷ lệ 5% thai nhỏ và 3% thai chậm tăng trưởng trong tử cung, cung cấp dữ liệu thực tế để các bác sĩ lưu ý không bỏ sót nguy cơ thai kém phát triển bên cạnh nguy cơ con to kinh điển.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định và ghi nhận các giới hạn nghiên cứu sau:
- Thiết kế nghiên cứu thuần túy là mô tả loạt ca, không thiết lập nhóm chứng gồm các thai phụ có đường huyết bình thường để so sánh và tính toán các chỉ số nguy cơ tương đối (RR hoặc OR).
- Quy mô mẫu còn khiêm tốn (n = 101 sau khi loại trừ 20 ca mất dấu), làm giảm sức mạnh thống kê ở các biến cố có tần suất xuất hiện thấp như tử vong chu sinh, dị tật bẩm sinh hay hạ đường huyết sơ sinh.
- Chưa tiến hành phân tích so sánh đối đầu giữa phân nhóm kiểm soát đường huyết tốt và phân nhóm kiểm soát đường huyết kém nhằm định lượng vai trò can thiệp của việc điều trị tiết chế và insulin.
- Các xét nghiệm sinh hóa sơ sinh như đường huyết và bilirubin chỉ được thực hiện khi trẻ có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ (bú kém, run giật, vàng da sớm) chứ không làm thường quy cho toàn bộ 101 trẻ, do đó có thể bỏ sót các trường hợp rối loạn sinh hóa thể nhẹ hoặc không triệu chứng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được nhóm tác giả đề xuất:
- Triển khai các nghiên cứu phân tích chuyên sâu nhằm xác định mối liên quan và cơ chế giữa ĐTĐTK với kết cục thai chậm tăng trưởng trong tử cung, từ đó xây dựng phác đồ theo dõi doppler mạch máu và can thiệp kịp thời.
- Thiết kế các nghiên cứu có nhóm chứng, theo dõi can thiệp so sánh hiệu quả kiểm soát đường huyết đạt mục tiêu đối với việc làm giảm tỷ lệ mổ lấy thai và con to.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên Y đa khoa, học viên sau đại học và bác sĩ nội trú chuyên ngành Sản Phụ khoa: Cung cấp khung lý thuyết tổng hợp về sinh lý bệnh học chuyển hóa đường trong thai kỳ, các tiêu chuẩn chẩn đoán cập nhật theo ADA/IADPSG và phác đồ theo dõi đường huyết chu sinh.
- Các bác sĩ sản khoa và quản lý lâm sàng tại các bệnh viện sản: Cung cấp số liệu tham khảo thực tế về tỷ lệ mổ lấy thai, phân bố nguyên nhân chỉ định mổ và các tai biến thường gặp tại một trung tâm sản khoa lớn phía Nam để xây dựng quy trình giám sát thai kỳ nguy cơ cao.
- Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là các bảng dữ liệu chi tiết về mối liên hệ giữa BMI trước mang thai với mức tăng cân theo khuyến cáo IOM (Biểu đồ 3.1) và bảng cơ cấu nguyên nhân mổ lấy thai (Bảng 3.8).
Câu hỏi thường gặp
1. Phương pháp sinh nào chiếm tỷ lệ cao nhất ở sản phụ ĐTĐTK trong nghiên cứu và nguyên nhân chỉ định mổ hàng đầu là gì?
Phương pháp mổ lấy thai chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,5% (55/101 ca), kế đến là sinh thường chiếm 37,6% (38/101 ca) và sinh giúp bằng forceps chiếm 7,9% (8/101 ca). Trong 55 trường hợp mổ lấy thai, nguyên nhân hàng đầu được ghi nhận là do thai to, chiếm 18,2% (10 ca), bao gồm các trường hợp thai to trên 4500g mổ chủ động, thai to kết hợp vết mổ cũ, con quý hiếm hoặc nghiệm pháp lọt thất bại.
2. Nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn và nghiệm pháp nào để chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ?
Khóa luận áp dụng tiêu chuẩn của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2011 (ADA 2011) dựa trên nghiệm pháp dung nạp 75g glucose đường uống (OGTT) thực hiện ở tuần thai thứ 24 - 28. Thai phụ được chẩn đoán mắc bệnh khi có từ một giá trị đường huyết trở lên đạt hoặc vượt các ngưỡng: đường huyết đói ≥ 92 mg/dl (5,1 mmol/l), sau 1 giờ ≥ 180 mg/dl (10,0 mmol/l), sau 2 giờ ≥ 153 mg/dl (8,5 mmol/l).
3. Tỷ lệ con to và đặc điểm cân nặng của trẻ sơ sinh trong nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
Cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh là 3244 ± 531g (dao động từ 800g đến 4500g). Cân nặng bình thường chiếm 80,2%. Tỷ lệ con to chiếm 12,9% (13 trẻ) khi xét theo tiêu chuẩn cân nặng lớn hơn bách phân vị thứ 90 theo tuổi thai, hoặc chiếm 9,9% (10 trẻ) khi tính theo tiêu chuẩn cân nặng lúc sinh > 4000g. Trẻ nhẹ cân (< 2500g) chiếm tỷ lệ 6,9% (7 trẻ).
4. Mức tăng cân trong thai kỳ của các sản phụ phân bố như thế nào theo chỉ số khối cơ thể (BMI) trước mang thai?
Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tăng cân vượt quá khuyến cáo của IOM tăng dần theo chỉ số BMI tiền thai kỳ: nhóm nhẹ cân không có trường hợp nào tăng cân vượt mức (0%), nhóm BMI bình thường có 27,1%, nhóm thừa cân có 53,3% và nhóm béo phì có tỷ lệ tăng cân vượt khuyến cáo lên đến 70,0%.
5. Khóa luận ghi nhận những kết cục bất lợi nghiêm trọng nào liên quan đến dị tật và tử vong chu sinh?
Nghiên cứu ghi nhận 3 trường hợp trẻ có dị tật bẩm sinh (tỷ lệ 3,0%), bao gồm 2 ca dị tật tim bẩm sinh và 1 ca dị tật ở chi trên (dị tật tay). Có 1 trường hợp tử vong chu sinh (tỷ lệ 1,0%) xuất hiện ở thai phụ sinh cực non tại tuần thứ 26 của thai kỳ kết hợp với trẻ mắc dị tật tim nặng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của nhóm tác giả đã mô tả toàn diện đặc điểm lâm sàng và kết cục thai kỳ trên 101 sản phụ ĐTĐTK nội trú tại Bệnh viện Từ Dũ, ghi nhận tỷ lệ xuất hiện kết cục bất lợi chung là 77,2%. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ mổ lấy thai ở mức cao (54,5%) với nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ biến chứng thai to (18,2%), đồng thời ghi nhận sự hiện diện của các tai biến khác như tiền sản giật (9,9%), sinh non (13,9%) và thai chậm tăng trưởng trong tử cung (3,0%). Mặc dù còn hạn chế về thiết kế mô tả loạt ca và chưa đối chiếu giữa các phân nhóm kiểm soát đường huyết, công trình đã đóng góp cơ sở dữ liệu thực tiễn có giá trị phục vụ công tác theo dõi, tiên lượng và quản lý thai kỳ nguy cơ cao tại cơ sở sản khoa tuyến đầu.