MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam với bờ biển dài 3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, phong phú về thành phần loài và đa dạng về hệ sinh thái do vậy biển Việt Nam có nguồn tài nguyên biển dồi dào và tiềm năng khai thác biển rất lớn. Cho đến nay, các nghiên cứu ở vùng ven biển của Việt Nam chủ yếu về thành phần loài, phân bố và các ghi nhận mới, bổ sung cho thành phần loài cá vùng ven biển. Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái đặc trƣng cho các vùng phân bố chƣa đƣợc biết đến nhiều.
Do vị trí địa lí, địa hình và khí hậu, vùng biển nƣớc ta có tính đa dạng sinh học cao so với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới về cấu trúc thành phần loài, đa dạng hệ sinh thái, và đa dạng nguồn gen. Những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các vùng cửa sông cũng nhƣ khu vực ven biển Việt Nam. Các nghiên cứu này chủ yếu về thành phần loài nhƣ Đinh Thị Phƣơng Anh (2010) ở nam bán đảo Sơn Trà; Võ Văn Quang và cs. (2013) ở Khánh Hòa; Biện Văn Quyền và Võ Văn Phú (2017) ở ven biển Hà Tĩnh.
Ngoài ra còn một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sự phát triển của các loài có giá trị kinh tế. Cá phèn có giá trị dinh dƣỡng cao, chứa nhiều protein, khoáng, vitamin có lợi cho sức khỏe con ngƣời. Chính những giá trị thực tế đó, cá phèn đã đƣợc ngƣời dân khai thác từ lâu. Tuy nhiên, việc sử dụng và khai thác bền vững nguồn lợi cá ở địa phƣơng còn nhiều bất cập, vấn đề bảo tồn hầu nhƣ không có, quá trình khai thác chủ yếu mang tính bộc phát ở các hộ dân, không có kế hoạch và quy mô cụ thể.
Bên cạnh đó là tình trạng đánh bắt quá mức, dùng lƣới cào không đúng quy định vẫn còn diễn ra, vì vậy sản lƣợng của nhiều loài hiện nay đã suy giảm. Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm hình thái quần thể các loài trong giống Upeneus Cuvier and Valenciennes, 1829 ở vùng biển Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đƣợc tính đa dạng và đặc điểm hình thái phân loại của các loài trong giống Upeneus ở vùng biển Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Nội dung nghiên cứu - Xác định thành phần loài trong giống Upeneus ở vùng biển Thị xã Nghi Sơn.
- Phân tích đặc điểm hình thái phân loại và biến dị của các loài; - Xây dựng khóa định loại các loài.Tổng quan về họ Cá phèn Mullidae Họ Cá phèn (Mullidae) là các loài cá biển dạng cá vƣợc sinh sống ở vùng nhiệt đới. Hiếm khi bắt gặp ở vùng nƣớc lợ, các loài cá phèn nói chung gắn liền với các bãi đá ngầm trong Đại Tây Dƣơng, Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng. Đặc điểm đặc trƣng của họ cá Phèn: Thân thon dài, hơi dẹp bên; vảy lớn dạng vảy lƣợc; trừ phía trƣớc mõm ra, còn lại đều có vảy; đƣờng bên hoàn toàn; miệng bé ở phía trƣớc và thấp,có thể co duỗi đƣợc; xƣơng hàm trên có thể bị che khuất, không có xƣơng hàm phụ; dƣới cằm có một đôi râu tựa vào nhau và không chia nhánh và ở chỗ nỗi khít hàm, xƣơng nắp mang trƣớc trơn láng hoặc hơi có răng cƣa, xƣơng nắp mang hoặc có 1 gai hoặc không, màng mang tách rời với bộ phận eo, 2 vây lƣng hoàn toàn tách rời nhau, gai cứng của vây lƣng có thể đặt vào trong rãnh, gai cứng thứ nhất thƣờng nhỏ và nằm sâu trong rãnh; bộ phân tia vây lƣng hoặc tia vây hậu môn giống nhau. Vây ngực thƣờng ngắn và nhọn, có vảy nách, vây đuôi chẻ sâu, xƣơng chẩm và xƣơng đỉnh phát triển.
Tổng quan nghiên cứu về cá phèn trên thế giới, ở Việt Nam và khu vực nghiên cứu 1. Trên thế giới Loài cá phèn phân bố rộng chủ yếu ở các bãi đá ngầm trong Đại Tây Dƣơng, Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng. 3 Năm 2007 Barman và Mishra xem xét lại về phân loại học của 19 loài trong họ Mullidae ở vùng biển Ấn Độ, nghiên cứu đã xây dựng khóa định loại, mô tả đặc điểm hình thái phân loại, cũng nhƣ cung cấp các hình vẽ minh họa, ảnh màu của 19 loài [16]. Năm 2014, Bos đã mô tả loài mới Upeneus nigromarginatus ở Philippin dựa trên các mẫu vật thu ở chợ cá Panabo City, Mindanao, Philippines [17].
Năm 2016 Mahmoud et al. có nghiên cứu về hình thái của hai loài Mullus sermuletus và Mullus barbatus ở vùng biểnAlexandria, Ai Cập (Địa Trung Hải), các biến dị hình thái của loài và giữa hai loài đã đƣợc so sánh [20]. Năm 2012, Markevich và Balanov đã mô tả hình thái của loài Upeneus japonicus, đây là loài rất hiếm ghi nhận đƣợc ở vùng biển của Nga, nghiên cứu cũng so sánh với các quần thể của loài này ở vùng biển và ven biển Nhật Bản [21]. Năm 2012 Motomura và cs có ghi nhận lần đầu tiên ở Nhật Bản loài Cá phèn hai chấm Upeneus guttatus và so sánh với Cá phèn nhật bản U.
Năm 2014, Pavlov, Emel’yanova kết hợp với các nhà ngƣ loại học của Việt Nam đã công bố nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản, kích thƣớc cơ thể, mối quan hệ giữa chiều dài và trọng lƣợng cơ thể, cũng nhƣ chỉ số tuyến sinh dục của loài Upeneus tragula ở vịnh Hạ Long và vinh Nha Trang, Việt Nam [23]. Năm 2012 Rajan et al. có nghiên cứu về các loài trong họ Mullidae ở vùng đảo Nicobar và Andaman. Trong nghiên cứu này, 14 loài trong họ Mullidae thuộc 3 giống đã đƣợc ghi nhận: Mulloidichthys flavolineatus, M.
vanicolensis, Parupeneus barberinus, P. bifasciatus, Upeneus guttatus, U. 4 Năm 2019 Saha et al. có ghi nhận mới về loài Upeneus vittatus và U.
supravittatus ở đảo Saint Martin, vịnh Bengal, Bangladesh. Nghiên cứu đã so sánh giữa hai loài về đặc điểm hình thái cũng nhƣ phân tích gen COI của hai loài [26]. Năm 2009 Uiblein và Heemstra (2009) công bố nghiên cứu xem xét lại về giống Upeneus ở vùng biển phía tây Ấn Độ Dƣơng, nghiên cứu đã xem xét lại 16 loài đƣợc ghi nhận ở khu vực, đồng thời công bố 4 loài mới U. Năm 2014, Uiblein và Gledhill đã mô tả loài mới Upeneus torres ở Australia và Vanuatu và so sánh với các loài trong cùng giống Upeneus ở khu vực nghiên cứu là U.
Năm 2015, Uiblein và White đã công bố loài mới Upeneus lombok ở vùng biển Lombok, Indonesia và lần đầu ghi nhận loài U. asymmetricus cho vùng biển Ấn Độ Dƣơng [29]. Năm 2013, Uiblein et al. mô tả loài mới Upeneus pori từ Angoche, miền bắc Mazambique, đồng thời ghi nhận mới loài U.
Năm 2020 Uiblein et al. công bố loài mới Upeneus floros ở Nam Phi và Mozambique, nghiên cứu cũng cập nhật phân loại học của hai loài U. pori, đồng thời xây dựng khóa định loại cho các loài trong giống Upeneus [31]. Năm 2019, Uiblein et al.
mô tả 3 loài mới trong giống Upeneus ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dƣơng (U. heterospinus), nghiên cứu cũng mô tả lại màu sắc và hoa văn của loài U. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, họ Cá phèn Mullidae hiện có 20 loài thuộc 3 giống: Mulloidichthys (2 loài), Parupeneus (11 loài) và Upeneus (7 loài) (Fishbase, 2021)[34]. Các nghiên cứu về họ Cá phèn Mullidae ở Việt Nam chủ yếu là các nghiên cứu chung về thành phần loài cá vùng cửa sông, ven biển.
5 Năm 2008, Nguyễn Thị Phi Loan nghiên cứu ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên đã xác định đƣợc 134 loài cá thuộc 55 họ, 16 bộ; trong đó họ Cá phèn có 2 loài là Cá tựa phèn Mulloidichthys auriflamma) và Cá phèn có râu Pseudapeneus barter [7]. - Năm 2012, Võ Văn Quang và cs. nghiên cứu ở trong vùng Bình Cang và Nha Phu, tỉnh Khánh Hòa đã xác định đƣợc 190 loài cá thuộc 62 họ và 13 bộ; trong đó họ cá phèn có 5 loài là Cá phèn đai vàng Parupeneus biaculeatu), Cá phèn khoai Upeneus japonicus, Cá phèn U. quadrilineatus, Cá phèn hai sọc U.
sulphureu), Cá phèn sọc đen Upeneus tragula [10]. - Năm 2013, Nguyễn Văn Quân nghiên cứu ở vùng biển đảo Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng đã xác định đƣợc 58 loài cá rạn san hô trong 15 họ, thuộc 34 giống trong tổng số 393 loài cá biển, trong đó họ Cá phèn có 5 loài là Cá phèn khoai Upeneus japonicus, Cá phèn sọc vàng U. moluccensis, Cá phèn ấn độ Parupeneus indicus, Cá phèn yên trắng P. ciliatu, Cá phèn nhiều sọc P.
- Năm 2017, Nguyễn Xuân Huấn và cs. nghiên cứu ở vùng ven biển cửa Sông Gianh, tỉnh Quảng Bình đã xác định đƣợc 96 loài cá thuộc, 52 họ, 14 bộ; trong đó Họ cá phèn có 3 loài là Cá phèn bất xứng Upeneus asymmetric), Cá phèn sọc đen Upeneus tragula, Cá phèn hai sọc Upeneus sulphureus [3]. - Năm 2017, Hoàng Ngọc Thảo và cs. nghiên cứu ở vùng cửa sông Mai Giang, huyện Quỳnh Lƣu, tỉnh Nghệ An đã xác định đƣợc 81 loài cá thuộc 60 giống, 39 họ, 11 bộ; trong đó họ Cá phèn có 1 loài Cá phèn sọc đen Upeneus tragula [13].
- Năm 2017, Nguyễn Xuân Đồng, Phạm Thanh Lƣu nghiên cứu ở vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu đã xác định đƣợc 148 loài cá thuộc 118 giống, 68 họ, của 18 bộ cá, trong đó họ Cá phèn có 2 loài là Cá phèn vây vàng Mulloidichthys vanicolensis và Cá phèn sọc vàng Upeneus moluccensis [1]. Ở Thanh Hóa Ở khu vực Thanh Hóa, cho đến nay mới có một số nghiên cứu về đa dạng sinh học cá ở vùng ven biển nhƣ Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành Nam, Lê Đức Giang, Vũ Thị Thanh năm 2014 ở khu vực Cửa Hới [4]. Trong nghiên cứu về thành phần loài cá ở vùng biển ven bờ huyện Tĩnh Gia năm 2019, Lê Công Hƣng đã ghi nhận 2 loài Cá phèn khoai Upeneus bensasi và Cá phèn hai sọc Upeneus sulphureus (Lê Công Hƣng, 2019) [6]. Ngoài ra chƣa có nghiên cứu cụ thể nào về giống Unepeus trong họ Cá phèn Mullidae ở khu vực nghiên cứu.
Điều kiện tự nhiên xã hội khu vực nghiên cứu - Vị trí địa lý: Thị xã Nghi Sơn (trƣớc đây là huyện Tĩnh gia) nằm ở phía nam của tỉnh Thanh Hóa thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, cách Thủ đô Hà Nội 180km về phía Bắc, về phía Nam cách Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An 100 km. với diện tích là 455,61 km², Có ranh giới nhƣ sau: - Phía Bắc giáp huyện Quảng Xƣơng - Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An. - Phía Tây giáp huyện Nhƣ Xuân, Nông Cống. - Phía Đông giáp biển Đông.