Tổng quan luận án

Tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh lý loạn thần nặng mang tính chất tiến triển từ từ, có khuynh hướng mạn tính và làm biến đổi nhân cách của người bệnh một cách sâu sắc. Theo các số liệu thống kê dịch tễ học được tác giả trích dẫn, thế giới hiện có khoảng 70 triệu người mắc bệnh tâm thần phân liệt, chiếm xấp xỉ 1% dân số toàn cầu với tỷ lệ gia tăng hàng năm ước tính 0,15%. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh dao động trong khoảng từ 0,3% đến 0,8% dân số, mỗi năm ghi nhận thêm 0,1% đến 0,15% trường hợp mới. Bệnh thường khởi phát sớm ở lứa tuổi thanh thiếu niên và người trẻ (từ 15 đến 25 tuổi), ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập, lao động cũng như sự hòa nhập xã hội của bệnh nhân.

Mặc dù đã được nghiên cứu qua nhiều thập kỷ, cơ chế bệnh sinh của tâm thần phân liệt vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra những biến đổi đồng thời ở mức độ đại thể (thay đổi hình thái, thể tích và độ dày vỏ não) và mức độ phân tử (các đột biến, đa hình đơn nucleotide trên các gen điều hòa phát triển thần kinh). Tuy nhiên, tại Việt Nam, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào đặc điểm lâm sàng, dịch tễ học và hiệu quả điều trị. Các nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) còn hạn chế về mặt công cụ xử lý, chủ yếu thực hiện thủ công trên một vài cấu trúc đơn lẻ. Đồng thời, đặc điểm đa hình của các gen ứng viên tiêu biểu như DISC1 (Disrupted in schizophrenia 1) và COMT (Catechol-O-methyl transferase) chưa từng được công bố trên quần thể bệnh nhân tâm thần phân liệt người Việt.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Đặng Tiến Trường, với đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái não bộ và đa hình gen trong bệnh tâm thần phân liệt", chuyên ngành Khoa học Y sinh (mã số 9720101), thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Hải Anh và PGS.TS. Nguyễn Duy Bắc tại Học viện Quân y (Hà Nội – 2019), được tiến hành nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu nêu trên với hai mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định một số đặc điểm hình thái não bộ qua hình ảnh cộng hưởng từ ở bệnh nhân tâm thần phân liệt người Việt.
  2. Xác định một số điểm đa hình của gen DISC1 và COMT ở bệnh nhân tâm thần phân liệt người Việt.

Nghiên cứu được triển khai trên tổng số 225 đối tượng người Việt, bao gồm 112 bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid điều trị tại Khoa Tâm thần và 113 người tình nguyện khỏe mạnh thuộc nhóm chứng tại Bệnh viện Quân y 103. Quy trình chụp cộng hưởng từ sọ não được thực hiện tại Khoa Chẩn đoán Hình ảnh - Bệnh viện Quân y 103, và các phân tích sinh học phân tử, xử lý dữ liệu hình ảnh được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu Y Dược học Quân sự cùng các bộ môn liên quan thuộc Học viện Quân y trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2017.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các mốc lịch sử nghiên cứu và các giả thuyết bệnh sinh kinh điển về tâm thần phân liệt:

  • Lịch sử định danh và phân loại bệnh: Thuật ngữ "Schizophrenia" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ("Schizo" nghĩa là chia tách, "phrenia" nghĩa là tâm hồn). Năm 1911, Bleuler đã mô tả các đặc điểm cốt lõi của bệnh và chính thức đề xuất thuật ngữ này để chỉ sự chia cắt các hoạt động tâm thần.
  • Các giả thuyết về bệnh sinh:
    • Thuyết di truyền: Tỷ lệ đồng mắc ở các cặp sinh đôi cùng trứng lên tới 50%, cao gấp bốn lần so với các cặp sinh đôi khác trứng. Các nghiên cứu con nuôi cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ nhận nuôi có liên quan đến bố mẹ đẻ chứ không phụ thuộc vào bố mẹ nuôi.
    • Thuyết hóa thần kinh: Thuyết dopamin (tăng hoạt tính hệ dopaminergic hoặc tăng nhạy cảm thụ thể D2), thuyết serotonin (thay đổi thụ thể 5-HT1A và 5-HT2A tại vỏ não trán) và thuyết glutamat (suy giảm chức năng thụ thể NMDA).
    • Thuyết hình thái học não bộ: Các tổn thương cấu trúc đại thể và vi thể ở vỏ não trán, thùy thái dương, hệ thống não thất, các nhân xám dưới vỏ và thể chai.

Về phương diện hình thái học não bộ, luận án điểm lại các công trình nền tảng:

  • Johnstone và cộng sự (1976) lần đầu phát hiện hiện tượng giãn não thất bên ở bệnh nhân tâm thần phân liệt bằng chụp cắt lớp vi tính (CT).
  • Smith và cộng sự (1984) cùng Andreasen và cộng sự (1986) tiên phong ứng dụng kỹ thuật cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) để đo lường thể tích toàn bộ não bộ và khảo sát mối tương quan giữa hình thái não với triệu chứng lâm sàng.
  • Barta và cộng sự, Shenton và cộng sự tập trung phân tích sự suy giảm thể tích thùy thái dương, đặc biệt là hồi thái dương trên và hồi Heschl.
  • Wible và cộng sự (1995), Buchanan và cộng sự (1998), Goldstein và cộng sự (1999), Gur và cộng sự, Baare và cộng sự khảo sát thể tích chất xám và chất trắng của vỏ não trán trước (PFC/DLPFC).
  • Tanskanen và cộng sự (2010), Olabi và cộng sự (2011) tổng hợp các biến đổi giảm thể tích khối chất xám và chất trắng tiến triển theo thời gian.
  • Hofer và Frahm (2006) sử dụng kỹ thuật cộng hưởng từ khuếch tán (DTI) xác lập sơ đồ phân chia thể chai thành 5 phân vùng chức năng dựa trên các bó sợi thần kinh liên bán cầu.

Về phương diện di truyền học phân tử:

  • Gen DISC1 (nằm trên nhiễm sắc thể số 1, gồm 13 exon) được phát hiện lần đầu năm 1990 qua sự kiện chuyển đoạn cân bằng ở một gia đình người Scotland mắc bệnh tâm thần. Protein DISC1 tham gia điều hòa quá trình phân chia, biệt hóa, di chuyển tế bào thần kinh và dẫn truyền synap. Đa hình đơn nucleotide rs821616 tại exon 11 gây đột biến thay thế axit amin Serin bằng Cystein ở vị trí 704 (S704C hay Ser704Cys) đã được các tác giả Callicott, Gong, Kim, Luo, Norlelawati nghiên cứu trên các quần thể người da trắng, Trung Quốc, Nhật Bản và Malaysia.
  • Gen COMT (nằm trên nhiễm sắc thể 22q11.2) mã hóa enzym Catechol-O-methyltransferase tham gia thoái giáng dopamin tại khe synap vỏ não trán trước với hai dạng: enzym hòa tan (S-COMT) và enzym bám màng (MB-COMT). Đa hình rs4680 (G>A) gây đột biến thay thế Valin bằng Methionin (Val108/158Met) làm suy giảm hoạt tính enzym tới 4 lần, được Papaleo, Okochi, Costas khảo sát về mối liên quan với nguy cơ mắc bệnh và suy giảm nhận thức.

Vị trí của luận án được xác định là công trình khoa học đầu tiên tại Việt Nam kết hợp đồng thời việc ứng dụng công nghệ phân tích hình ảnh MRI 3D tự động hóa cao bằng phần mềm chuyên dụng FreeSurfer để khảo sát toàn diện hình thái não bộ, song song với việc xác định đặc điểm phân bố alen và kiểu gen của hai đa hình rs821616 (DISC1) và rs4680 (COMT) trên cùng một quần thể bệnh nhân tâm thần phân liệt người Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và giải phẫu chức năng

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết giải phẫu thần kinh định khu và sinh lý học thần kinh cao cấp. Vỏ não người có diện tích trung bình khoảng 2500 cm², chiều dày biến thiên từ 1,5 mm (đáy rãnh cựa) đến 4,5 mm (hồi trước trung tâm), chứa khoảng 20 tỷ tế bào thần kinh thuộc 5 loại chính (tế bào tháp, tế bào sao, tế bào thoi, tế bào Martinotti, tế bào ngang Cajal) sắp xếp thành 6 lớp tế bào. Thùy trán chiếm 30% diện tích bộ não và 41% thể tích tân vỏ não, giữ vai trò chủ chốt trong việc hoạch định kế hoạch, kiểm soát hành vi và chức năng nhận thức cấp cao. Thùy thái dương chiếm 22% thể tích tân vỏ não, chứa trung khu thính giác và phức hợp hạnh nhân – hải mã liên quan trực tiếp đến trí nhớ và triệu chứng ảo thanh. Thể chai là cấu trúc chất trắng lớn nhất nối liền hai bán cầu đại não, được phân định thành 5 phần (phần I: mỏ và gối; phần II: phần trước thân; phần III: phần giữa thân; phần IV: phần sau thân; phần V: lồi thể chai).

Phương pháp nghiên cứu hình thái não bộ

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh đối chứng (bệnh - chứng).
  • Cỡ mẫu nghiên cứu hình thái: Tính toán dựa trên công thức so sánh hai giá trị trung bình độc lập, chọn chỉ số "thể tích hồi trán trên" theo nghiên cứu của Venkatasubramanian và cộng sự làm biến đại diện với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,01$ và lực mẫu $1 - \beta = 0,99$, xác định cỡ mẫu tối thiểu là 28 đối tượng mỗi nhóm. Thực tế thu thập được 80 đối tượng đủ tiêu chuẩn (39 bệnh nhân TTPL thể Paranoid và 41 người nhóm chứng khỏe mạnh), toàn bộ đều thuận tay phải.
  • Thiết bị và thu nhận ảnh: Máy chụp cộng hưởng từ 1,5 Tesla của hãng Philips (Hà Lan) tại Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh viện Quân y 103.
  • Xử lý và phân tích dữ liệu hình ảnh: Dữ liệu ảnh định dạng số DICOM được chuyển đổi và phân tích tự động trên hệ thống máy trạm đồ họa (sử dụng card GeForce 2GB) thông qua phần mềm FreeSurfer (phiên bản 5.1.0) và Mango (phiên bản 4.0.1). Quy trình bao gồm: loại bỏ cấu trúc ngoài sọ (xương sọ, da đầu, màng não), phân tách ranh giới chất xám - chất trắng, tái tạo bề mặt vỏ não 3D, đối chiếu atlas giải phẫu tự động để đo lường thể tích các thùy, các hồi, các nhân xám dưới vỏ, các phần thể chai và tính toán độ dày chất xám vỏ não.

Phương pháp nghiên cứu đa hình gen

  • Cỡ mẫu nghiên cứu gen: 215 đối tượng (112 bệnh nhân TTPL và 113 người nhóm chứng).
  • Thu thập mẫu: Lấy 2 ml máu tĩnh mạch ngoại vi, chống đông bằng EDTA và bảo quản ở nhiệt độ -20°C.
  • Tách chiết DNA: Sử dụng bộ kit thương mại QIAGEN Blood Mini kit (QIAGEN, Đức).
  • Kỹ thuật PCR khuếch đại đoạn gen mục tiêu: Sử dụng enzyme DreamTaq DNA Polymerase và dNTPs (Thermo Fisher Scientific, Mỹ) với các cặp mồi chuyên biệt:
Tên gen Đa hình Tên cặp mồi Trình tự mồi (5' - 3') Kích thước sản phẩm (bp)
DISC1 rs821616 E11F
E11R
TGACCAGCTGACTTTTAGCC
AAGTTTATATGCTCAATGGGAAGC
488 bp
COMT rs4680 COMT F
COMT R
GGGCCTACTGTGGCTACTCA
GGCCCTTTTTCCA GGTCTGACA
178 bp
  • Kiểm tra và tinh sạch: Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose, nhuộm Ethidium Bromide và soi dưới đèn tử ngoại để kiểm tra kích thước đoạn khuếch đại, sau đó tinh sạch bằng bộ kit DNA Clean & Concentrator™-5 (Zymo Research, Mỹ).
  • Giải trình tự gen: Thực hiện phản ứng chu trình nhiệt BigDye sử dụng bộ kit BigDye Terminator v3.1 Cycle Sequencing Kit (Applied Biosystems, Mỹ) và đọc trình tự trên máy giải trình tự tự động để xác định chính xác kiểu gen (đồng hợp tử và dị hợp tử).
  • Xử lý số liệu: Số liệu hình thái được xử lý bằng phương pháp phân tích hiệp phương sai (ANCOVA) để hiệu chỉnh các biến số gây nhiễu gồm tuổi, giới tính và tổng thể tích nội sọ (ICV). Tần số alen và phân bố kiểu gen được so sánh bằng các thuật toán thống kê y sinh học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này trình bày hệ thống hóa cơ sở lý luận từ 86 tài liệu tham khảo trong và ngoài nước. Tác giả phân tích chi tiết các mốc phát triển khái niệm tâm thần phân liệt từ Bleuler (1911), các tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-IV và DSM-V. Phân tích sâu 4 nhóm thuyết bệnh sinh: di truyền học, hóa thần kinh (dopamin, serotonin, glutamat) và hình thái học não bộ. Điểm lại các mốc giải phẫu đại thể của 6 thùy não (trán, đỉnh, chẩm, thái dương, đảo, viền), cấu trúc vi thể 6 lớp của chất xám vỏ não, các đường dẫn truyền chất trắng liên bán cầu qua thể chai. Tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu MRI và đột biến gen DISC1 (rs821616), COMT (rs4680) trên các quần thể thế giới và thực trạng nghiên cứu tại Việt Nam.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu gồm 225 người. Quy định chặt chẽ tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid theo tiêu chuẩn DSM-IV (nhóm A: có hoang tưởng, ảo giác thính giác nổi bật; nhóm B: suy giảm chức năng xã hội/nghề nghiệp; nhóm C: dấu hiệu kéo dài ít nhất 6 tháng; loại trừ rối loạn phân liệt cảm xúc và bệnh tổn thương thực thể). Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng gồm người khỏe mạnh, không có tiền sử bệnh lý thần kinh - tâm thần, không dị dạng sọ não. Tiêu chuẩn loại trừ chung: u não, tai biến mạch máu não, thoái hóa thần kinh, lạm dụng rượu, ma túy và không hợp tác.

Chương này trình bày chi tiết quy trình chụp MRI 1,5 Tesla, cấu hình hệ thống máy tính xử lý ảnh, các thông số thuật toán trên FreeSurfer 5.1.0 và Mango 4.0.1. Mô tả chi tiết quy trình sinh học phân tử từ tách chiết DNA, thiết kế cặp mồi E11F/E11R (488 bp) và COMT F/COMT R (178 bp), chu trình nhiệt phản ứng PCR, chu trình nhiệt BigDye đến phương pháp đọc kết quả giải trình tự và phân tích thống kê ANCOVA hiệu chỉnh biến số.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được tác giả trình bày thông qua 34 bảng số liệu (từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.34) và các hình ảnh điện di, giản đồ giải trình tự gen:

  • Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: Trình bày sự tương đồng về phân bố tuổi và giới tính giữa nhóm bệnh và nhóm chứng trong cả hai phân nhóm nghiên cứu hình thái não (Bảng 3.1) và nghiên cứu đa hình gen (Bảng 3.2).
  • Đặc điểm hình thái não bộ:
    • Thể tích cấu trúc não chung: Thể tích não chung, khối chất xám và chất trắng toàn bộ não bộ ở bệnh nhân TTPL sau khi hiệu chỉnh theo tuổi, giới và thể tích nội sọ bằng mô hình ANCOVA (Bảng 3.3, 3.4, 3.5).
    • Hình thái thùy trán: Biến đổi thể tích và độ dày chất xám vỏ não tại hồi trán trên (Bảng 3.6), hồi trán giữa (Bảng 3.7), hồi trán dưới (Bảng 3.8), hồi ổ mắt (Bảng 3.9), hồi trước trung tâm (Bảng 3.10), hồi cạnh trung tâm (Bảng 3.11), cực trán (Bảng 3.12), tổng thể tích thùy trán và vỏ não trán trước (Bảng 3.13), thùy đảo (Bảng 3.14).
    • Hình thái thùy thái dương và hệ viền: Thể tích và độ dày chất xám tại các hồi thái dương trên, giữa, dưới (Bảng 3.15, 3.16, 3.17), hồi thái dương ngang (Bảng 3.18), hồi cạnh hải mã (Bảng 3.19), vỏ não nội khứu (Bảng 3.20), thể tích chất xám hải mã và hạnh nhân (Bảng 3.21), cực thái dương (Bảng 3.22), hồi thoi (Bảng 3.23) và các phân vùng thuộc hồi đai (Bảng 3.24).
    • Các nhân xám dưới vỏ và thể chai: Thể tích các nhân xám dưới vỏ gồm nhân đuôi, bèo sẫm, cầu nhạt, đồi thị (Bảng 3.25) và thể tích 5 phân đoạn của thể chai (Bảng 3.26).
  • Đặc điểm đa hình gen:
    • Kết quả điện di sản phẩm PCR và giản đồ giải trình tự huỳnh quang xác định 3 kiểu gen (đồng hợp tử AA, TT và dị hợp tử AT) của đa hình rs821616 gen DISC1 (Hình 3.1, 3.2; Bảng 3.27, 3.28, 3.29, 3.30).
    • Kết quả điện di sản phẩm PCR và giản đồ giải trình tự xác định 3 kiểu gen (đồng hợp tử GG, AA và dị hợp tử AG) của đa hình rs4680 gen COMT (Hình 3.3, 3.4; Bảng 3.31, 3.32, 3.33, 3.34).

Chương 4: Bàn luận

Tác giả phân tích, so sánh các phát hiện thu được với y văn trong nước và quốc tế:

  • Luận giải về sự phân bố tuổi và giới tính trong mẫu nghiên cứu, khẳng định tính đại diện và kiểm soát tốt các yếu tố nhiễu nhân khẩu học.
  • Bàn luận về sự suy giảm thể tích não chung, sự teo mỏng chất xám vỏ não ưu thế tại vùng trán trước (DLPFC) và thùy thái dương, đối chiếu với các phát hiện của Buchanan, Goldstein, Gur, Baare và Tanskanen.
  • Phân tích ý nghĩa lâm sàng của tổn thương hồi thái dương trên và hồi Heschl trong cơ chế sinh triệu chứng ảo giác thính giác (ảo thanh), đối chiếu với các nghiên cứu kích thích vỏ não của Penfield và các công trình MRI của Barta, Shenton.
  • Đánh giá biến đổi thể tích phức hợp hải mã - hạnh nhân, hồi đai và các phân đoạn thể chai trong việc làm gián đoạn mạng lưới kết nối thần kinh cảm xúc và nhận thức.
  • Bàn luận về tần số alen và tỷ lệ kiểu gen của đa hình rs821616 (DISC1) và rs4680 (COMT), so sánh sự tương đồng và khác biệt về mặt chủng tộc giữa quần thể người Việt với các quần thể người Hán (Trung Quốc), người Nhật Bản, người da trắng và người Mỹ gốc Phi.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các kết quả khoa học chính và mang lại những đóng góp mới cụ thể như sau:

  • Về phương diện học thuật và kỹ thuật:
    • Ứng dụng thành công quy trình xử lý và phân tích hình thái não bộ 3D hoàn toàn tự động bằng phần mềm chuyên dụng FreeSurfer và Mango trên phim chụp cộng hưởng từ 1,5 Tesla tại Việt Nam. Phương pháp này khắc phục nhược điểm đo đạc thủ công của các nghiên cứu trước đây, cho phép bóc tách và định lượng chi tiết thể tích chất xám, chất trắng và độ dày vỏ não của từng hồi, từng thùy và các cấu trúc sâu trong não một cách khách quan.
    • Thiết lập quy trình kỹ thuật chuẩn về sinh học phân tử (tách chiết, thiết kế mồi PCR, tinh sạch và giải trình tự gen trực tiếp) để định dạng chính xác các biến thể nucleotide của đa hình rs821616 (DISC1) và rs4680 (COMT).
  • Về mặt dữ liệu thực tiễn trên người Việt:
    • Cung cấp bộ số liệu toàn diện về sự biến đổi hình thái học não bộ ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid người Việt sau khi đã hiệu chỉnh triệt để theo tuổi, giới tính và thể tích nội sọ; xác định các vùng não có sự suy giảm thể tích và độ dày chất xám rõ rệt (đặc biệt là vỏ não trán trước, hồi trán trên, thùy thái dương, hồi đai, phức hợp hải mã và thể chai).
    • Công bố dữ liệu đầu tiên về tần số phân bố alen và tỷ lệ các kiểu gen của hai đa hình rs821616 trên gen DISC1 và rs4680 trên gen COMT ở bệnh nhân tâm thần phân liệt và người bình thường trong quần thể người Việt Nam.
  • Kiến nghị: Tiếp tục mở rộng các nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tích hình ảnh cộng hưởng từ tự động kết hợp với sinh học phân tử trên cỡ mẫu lớn hơn, khảo sát thêm các thể lâm sàng khác của bệnh tâm thần phân liệt và các đa hình gen tiềm năng khác nhằm hoàn thiện bức tranh bệnh sinh học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các dữ kiện được trình bày trong văn bản luận án, công trình có một số giới hạn về phạm vi:

  • Phạm vi mẫu chụp cộng hưởng từ: Số lượng đối tượng chụp MRI dừng lại ở 80 người (39 bệnh nhân và 41 chứng) do điều kiện kỹ thuật và tiêu chuẩn chọn mẫu khắt khe; toàn bộ đối tượng nghiên cứu hình thái đều thuộc phân nhóm người thuận tay phải và nhóm bệnh nhân chỉ giới hạn ở thể lâm sàng Paranoid.
  • Độ phân giải từ trường: Nghiên cứu sử dụng hệ thống máy chụp cộng hưởng từ có từ trường 1,5 Tesla; chưa có điều kiện khảo sát trên các dòng máy từ trường cao hơn (như 3.0 Tesla trở lên) hoặc kết hợp chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI) và cộng hưởng từ khuếch tán sức căng (DTI) đồng thời trên toàn bộ mẫu.
  • Số lượng gen và đa hình khảo sát: Nghiên cứu tập trung đánh giá 2 vị trí đa hình đơn nucleotide cụ thể là rs821616 trên gen DISC1 và rs4680 trên gen COMT; chưa khảo sát toàn bộ các exon khác của hai gen này cũng như các gen ứng viên liên quan khác.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu trên các thể bệnh khác của tâm thần phân liệt (thể thanh xuân, thể căng trương lực, thể không biệt định) và theo dõi biến đổi hình thái não bộ theo thời gian tiến triển của bệnh (nghiên cứu dọc).
  • Khảo sát thêm các đa hình đơn nucleotide khác trên gen DISC1, COMT và các tổ hợp gen liên kết (haplotype) để đánh giá tương tác đa gen trong cơ chế sinh bệnh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho nhiều đối tượng:

  • Bác sĩ chuyên khoa Tâm thần và Thần kinh: Cung cấp cơ sở giải phẫu bệnh học và hình thái chức năng để hiểu rõ nguồn gốc phát sinh các triệu chứng loạn thần đặc trưng như hoang tưởng, ảo thanh (liên quan đến tổn thương hồi thái dương trên và hồi Heschl) và suy giảm chức năng nhận thức, hành vi xã hội (liên quan đến vỏ não trán trước).
  • Bác sĩ và kỹ thuật viên Chẩn đoán hình ảnh: Cung cấp quy trình tham khảo về phân tích định lượng thể tích và độ dày vỏ não 3D bằng phần mềm mã nguồn mở FreeSurfer và Mango từ dữ liệu ảnh chụp MRI lâm sàng 1,5 Tesla.
  • Học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học Y sinh và Di truyền Y học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn xác về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa hình thái học thần kinh và sinh học phân tử; quy trình kỹ thuật PCR, thiết kế mồi và giải trình tự gen trực tiếp các đa hình rs821616 và rs4680.

Câu hỏi thường gặp

1. Bệnh nhân tâm thần phân liệt trong nghiên cứu được chẩn đoán và phân loại theo tiêu chuẩn nào?
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định dựa trên tiêu chuẩn DSM-IV của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, tập trung vào thể Paranoid với các đặc điểm chính là sự hiện diện nổi bật của hoang tưởng bị hại, hoang tưởng tự cao hoặc thường xuyên có ảo giác thính giác (ảo thanh), không bị chi phối bởi các triệu chứng thanh xuân hay căng trương lực.

2. Quy trình phân tích dữ liệu hình thái não bộ từ ảnh MRI được thực hiện bằng công cụ nào?
Dữ liệu hình ảnh chụp từ máy MRI 1,5 Tesla Philips được trích xuất dưới dạng số và phân tích tự động trên máy trạm thông qua gói phần mềm chuyên dụng FreeSurfer (phiên bản 5.1.0) kết hợp phần mềm Mango (phiên bản 4.0.1) để bóc tách sọ não, phân định ranh giới chất xám - chất trắng, tái tạo 3D và đo đạc thể tích cũng như độ dày vỏ não.

3. Cặp mồi và kích thước sản phẩm khuếch đại PCR cho hai đa hình gen trong luận án là gì?

  • Đa hình rs821616 (DISC1): Cặp mồi E11F (5'-TGACCAGCTGACTTTTAGCC-3') và E11R (5'-AAGTTTATATGCTCAATGGGAAGC-3'), sản phẩm khuếch đại có kích thước 488 bp.
  • Đa hình rs4680 (COMT): Cặp mồi COMT F (5'-GGGCCTACTGTGGCTACTCA-3') và COMT R (5'-GGCCCTTTTTCCA GGTCTGACA-3'), sản phẩm khuếch đại có kích thước 178 bp.

4. Luận án đã kiểm soát các yếu tố gây nhiễu nào khi so sánh thể tích não giữa hai nhóm?
Tác giả sử dụng mô hình phân tích hiệp phương sai (ANCOVA) để hiệu chỉnh đồng thời ba yếu tố gây nhiễu quan trọng nhất đối với thể tích và độ dày não bộ là: tuổi của đối tượng, giới tính và tổng thể tích nội sọ (Intracranial Volume - ICV).

5. Bản chất đột biến của hai đa hình rs821616 (DISC1) và rs4680 (COMT) được mô tả như thế nào?

  • Đa hình rs821616 nằm tại exon 11 gen DISC1 (vị trí 1:232008852 trên NST 1), là đột biến thay thế nucleotide A bằng T dẫn đến thay đổi axit amin Serin thành Cystein tại vị trí 704 của chuỗi polypeptide (S704C / Ser704Cys).
  • Đa hình rs4680 nằm trên gen COMT (NST 22q11.2), là đột biến thay thế nucleotide G bằng A dẫn đến thay đổi axit amin Valin thành Methionin ở codon 158 của dạng bám màng MB-COMT và codon 108 của dạng hòa tan S-COMT (Val108/158Met), làm giảm 4 lần hoạt tính phân giải dopamin của enzym.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Tiến Trường là công trình khoa học chuyên ngành Khoa học Y sinh khảo sát có hệ thống về đặc điểm hình thái não bộ 3D qua cộng hưởng từ và đa hình gen di truyền ở bệnh nhân tâm thần phân liệt người Việt. Bằng việc ứng dụng thành công phần mềm FreeSurfer và kỹ thuật giải trình tự gen trực tiếp, luận án đã chứng minh sự biến đổi cấu trúc vỏ não (đặc biệt là vùng trán trước, thùy thái dương, hồi đai, thể chai) và cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên về phân bố kiểu gen của hai đa hình rs821616 (DISC1) và rs4680 (COMT) tại Việt Nam. Các kết quả đạt được đóng góp dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu bệnh sinh học thần kinh và định hướng cho các nghiên cứu y sinh học tiếp theo trong nước.