Tổng quan nghiên cứu

Tổn thương đứt gân gót mạn tính và biến dạng bàn chân bẹt do suy giảm chức năng gân cơ chày sau là những thách thức ngoại khoa phức tạp, trong đó phẫu thuật chuyển gân gấp ngón chân cái dài (Flexor Hallucis Longus tendon - FHLt) được xem là giải pháp phục hồi tối ưu. Đối với các ca tổn thương gân gót độ 2 và độ 3 theo thang phân loại Myerson (đoạn đứt từ 2 cm đến trên 5 cm), tỷ lệ phục hồi chức năng vận động đạt điểm AOFAS từ 72 điểm lên mức tối đa 100 điểm sau can thiệp chuyển gân. Tuy nhiên, việc bộc lộ và thu hoạch gân FHLt tại vùng lòng bàn chân tiềm ẩn nguy cơ cao gây tổn thương bó mạch thần kinh gan chân trong (MPNVB) và bó mạch thần kinh gan chân ngoài (LPNVB) xung quanh điểm bắt chéo Henry (Master Knot of Henry - MKH).

Tại Việt Nam, sự khác biệt về đặc điểm nhân trắc học so với các chủng tộc khác khiến việc áp dụng trực tiếp các số liệu giải phẫu quốc tế gặp nhiều rủi ro. Nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu thực chứng này, luận văn thạc sĩ y học của tác giả Đinh Thanh Trường dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Cao Thỉ tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2021) đã tiến hành khảo sát toàn diện đặc điểm giải phẫu ứng dụng gân FHLt trên 30 mẫu chi thể xác tươi người Việt Nam trưởng thành. Mục tiêu nghiên cứu tập trung xác định tọa độ không gian của điểm bắt chéo MKH, đo đạc mối tương quan an toàn với hệ thống mạch máu thần kinh gan chân, đồng thời lượng hóa kích thước và chiều dài gân thu hoạch theo từng phương pháp mổ (đường mổ đơn, đường mổ đôi và xâm lấn tối thiểu), tạo cơ sở dữ liệu tin cậy cho phẫu thuật viên chỉnh hình cổ bàn chân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên lý cơ sinh học vận động cổ bàn chân và sinh lý chuyển gân điều trị tổn thương cơ quan vận động. Sau phức hợp cơ dép - cơ bụng chân, cơ gấp ngón chân cái dài sở hữu lực co cơ mạnh nhất và có trục kéo tương đồng nhất với trục giải phẫu của gân gót. Đồng thời, cơ FHL có chu kỳ kích hoạt thần kinh cơ cùng pha với cơ dép, hỗ trợ tối đa lực đẩy ở giai đoạn cuối của thì đứng trong chu kỳ dáng đi.

Khung lý thuyết của đề tài tích hợp ba hệ thống phân loại ngoại khoa kinh điển:

  • Phân loại tổn thương gân gót của Myerson (1999) gồm ba mức độ: Độ 1 (khuyết hổng 1-2 cm), Độ 2 (khuyết hổng 2-5 cm) và Độ 3 (khuyết hổng trên 5 cm).
  • Phân loại bệnh lý bàn chân bẹt mắc phải ở người lớn theo Johnson và Strom (1985), bổ sung bởi Myerson (1999) với 4 giai đoạn tiến triển.
  • Hệ thống phân loại 7 hình thái liên kết gân giữa FHLt và gân gấp các ngón chân dài (FDLt) theo Beger (2018).

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Điểm bắt chéo Master Knot of Henry (MKH), Bó mạch thần kinh gan chân trong (MPNVB), Mắt cá trong (MM), Lồi củ xương ghe (NT) và Khớp liên đốt ngón cái (IP).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả loạt ca trên xác tươi (cadaveric study). Cỡ mẫu thực hiện gồm 30 chi thể từ 15 thi hài người Việt Nam (độ tuổi từ 18 trở lên) được lưu trữ và xử lý tại Bộ môn Giải phẫu học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2021. Tiêu chuẩn chọn mẫu bao gồm các thi hài nguyên vẹn vùng cẳng bàn chân, loại trừ hoàn toàn các mẫu có tiền sử phẫu thuật, chấn thương biến dạng hoặc bệnh lý làm biến đổi cấu trúc giải phẫu tại chỗ.

Dụng cụ thu thập số liệu gồm bộ phẫu tích chuyên dụng, kim định vị và thước kẹp cơ học có độ chính xác 0,02 mm kết hợp thước dây chia vạch milimet. Quy trình phẫu tích tiến hành theo 2 bước:

  • Bước 1: Rạch da và bộc lộ các lớp cơ gan chân từ nông vào sâu, xác định tọa độ các mốc xương cố định gồm mắt cá trong (MM), lồi củ xương ghe (NT), mỏm chân đế sên (ST) và khớp liên đốt ngón cái (IP).
  • Bước 2: Đo đạc khoảng cách từ điểm MKH tới các mốc xương, xác định giao điểm của thần kinh gan chân trong bắt chéo FHLt (điểm MG), định vị điểm phân chia gân FDLt (FDLd), ghi nhận khoảng cách an toàn tới bó mạch MPNVB/LPNVB, và đo lường kích thước thiết diện ngang (độ rộng, độ dày) cùng chiều dài gân FHLt thu được theo 3 đường mổ.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô tả kết hợp kiểm định tương quan Pearson là nhằm lượng hóa chính xác mối liên hệ giữa chiều dài bàn chân với các khoảng cách giải phẫu, phục vụ trực tiếp việc dự đoán kích thước gân trước mổ trên lâm sàng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát nhân trắc học trên 30 mẫu chi thể ghi nhận chiều dài bàn chân trung bình đạt 218,5 mm. Dữ liệu từ các bảng đo đạc chuyên sâu chỉ ra những phát hiện cốt lõi:

  • Tọa độ giải phẫu của điểm Master Knot of Henry (MKH): Khoảng cách trung bình từ điểm MKH đến mắt cá trong (MM) là 48,6 mm (dao động từ 45,2 mm đến 52,4 mm); khoảng cách đến lồi củ xương ghe (NT) đạt 24,1 mm (dao động từ 21,5 mm đến 26,8 mm); và khoảng cách từ MKH đến khớp liên đốt ngón cái (IP) là 101,8 mm (dao động từ 95,6 mm đến 108,2 mm).
  • Khoảng cách an toàn đến bó mạch thần kinh gan chân: Điểm MKH cách trung điểm bó mạch thần kinh gan chân trong (điểm B) trung bình 9,8 mm (dao động từ 8,5 mm đến 11,2 mm), và cách trung điểm bó mạch thần kinh gan chân ngoài (điểm C) là 16,5 mm (dao động từ 14,3 mm đến 18,7 mm). Điểm giao thoa MG nơi thần kinh gan chân trong bắt chéo qua FHLt cách mắt cá trong trung bình 38,4 mm.
  • Phân loại hình thái liên kết gân FHLt - FDLt: Phân loại theo Beger ghi nhận dạng Loại 1 (có 1 nhánh liên kết đơn từ FHLt sang FDLt) chiếm tỷ lệ áp đảo 73,3% (22/30 mẫu). Dạng Loại 2 (có nhánh qua lại giữa 2 gân) chiếm 13,3%, dạng Loại 5 (có 2 nhánh từ FHLt sang FDLt) chiếm 6,7%, và dạng Loại 4 (không có nhánh liên kết) chiếm 6,7%.
  • Chiều dài và kích thước gân FHLt theo phương pháp thu hoạch: Đường mổ đơn phía sau cổ chân cho chiều dài gân lấy được trung bình 5,2 cm; kỹ thuật đường mổ đôi đạt chiều dài trung bình 19,8 cm (dao động từ 18,5 cm đến 21,4 cm); kỹ thuật xâm lấn tối thiểu cắt tại đốt gần ngón cái cho chiều dài gân cực đại đạt 25,8 cm (dao động từ 24,6 cm đến 27,2 cm). Độ rộng thân gân FHLt trung bình đạt 5,2 mm và độ dày đạt 2,4 mm.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu phản ánh sự nhất quán cao khi so sánh với các công bố quốc tế, đồng thời làm rõ nét đặc thù thể tạng người Việt Nam. So với số liệu của tác giả Beger (Loại 1 chiếm 75%) và Edama (Loại 1 chiếm 86%), tỷ lệ liên kết Loại 1 trong nghiên cứu này (73,3%) khẳng định phần lớn chức năng gấp các ngón chân ngoài vẫn được bảo tồn nhờ nhận nhánh trợ lực từ gân FHLt khi gân FDLt bị can thiệp.

Sự phân bố dữ liệu trong nghiên cứu được minh họa trực quan qua các biểu đồ tương quan tuyến tính (Biểu đồ 3.9 đến 3.13 trong tài liệu gốc). Đáng chú ý, phân tích hồi quy cho thấy mối tương quan thuận rất chặt chẽ giữa chiều dài toàn bộ bàn chân với khoảng cách từ điểm MKH đến khớp IP (hệ số tương quan r = 0,72, p < 0,01) và khoảng cách từ điểm MG đến mắt cá trong (r = 0,68, p < 0,01).

Khi đối chiếu với nghiên cứu của Vasudha (2019) và Wan-ae-loh (2020), luận văn của Đinh Thanh Trường đã giải quyết triệt để vấn đề thiếu hụt số liệu kích thước thiết diện gân và khoảng cách bó mạch thần kinh lân cận. Với khoảng cách an toàn từ MKH đến MPNVB chỉ dưới 10 mm, việc phẫu tích mù quanh điểm bắt chéo tiềm ẩn nguy cơ tổn thương thần kinh cảm giác rất cao. Do đó, bảng đối chiếu khoảng cách dựa trên mốc lồi củ xương ghe (NT) cung cấp một "vùng đệm an toàn" giúp phẫu thuật viên tự tin định vị đường rạch mà không gây tổn thương các nhánh thần kinh gan chân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng giải phẫu thực nghiệm, nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị ngoại khoa mang tính ứng dụng cao:

  • Chuẩn hóa quy trình định vị điểm bắt chéo MKH dựa vào mốc lồi củ xương ghe (NT): Sử dụng khoảng cách trung bình 24,1 mm từ mốc NT về phía lòng bàn chân làm mốc chuẩn để mở phẫu trường, giúp giảm thiểu trên 90% nguy cơ tổn thương bó mạch thần kinh gan chân trong (MPNVB) trong các can thiệp phẫu thuật mở và nội soi.
  • Cá thể hóa lựa chọn kỹ thuật lấy gân FHLt dựa trên phân loại tổn thương Myerson: Áp dụng đường mổ đơn sau cổ chân đối với các trường hợp đứt gân gót mạn tính độ 2 (khuyết hổng dưới 5 cm, cần gân ghép khoảng 5,2 cm). Bắt buộc sử dụng kỹ thuật đường mổ đôi hoặc đường mổ xâm lấn tối thiểu cho tổn thương độ 3 (khuyết hổng trên 5 cm) để thu hoạch đoạn gân ghép dài từ 19,8 cm đến 25,8 cm, bảo đảm đủ chiều dài luồn qua đường hầm xương gót và khâu gia cố vững chắc.
  • Xây dựng bảng chỉ số nhân trắc học giải phẫu ứng dụng FHLt cho phẫu thuật viên Việt Nam: Hội Chấn thương Chỉnh hình phối hợp cùng các cơ sở đào tạo y khoa ban hành tài liệu hướng dẫn quy chuẩn kích thước gân theo chiều dài bàn chân trước quý IV năm 2023, giúp dự đoán chính xác chiều dài gân thu được trước khi rạch da.
  • Ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật nội soi giải phóng điểm MKH và lấy gân ít xâm lấn: Triển khai phẫu thuật nội soi cổ bàn chân nhằm giảm sang chấn mô mềm, nâng cao tỷ lệ phẫu thuật an toàn lên trên 98% và rút ngắn thời gian bất động của bệnh nhân xuống còn 6 đến 8 tuần sau mổ tại các trung tâm chấn thương chỉnh hình tuyến cuối giai đoạn 2022-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao đối với 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Bác sĩ phẫu thuật Chấn thương Chỉnh hình và Phẫu thuật Cổ bàn chân: Nắm vững bản đồ giải phẫu chi tiết vùng gan chân, xác định chính xác các mốc giải phẫu an toàn để thực hiện kỹ thuật chuyển gân FHLt điều trị đứt gân gót mạn tính và tái tạo vòm bàn chân bẹt do suy gân chày sau.
  • Bác sĩ Nội trú, Học viên Cao học và Chuyên khoa Ngoại khoa: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu giải phẫu học ứng dụng trên xác tươi, kỹ thuật phẫu tích cấu trúc sâu và phương pháp phân tích tương quan nhân trắc học.
  • Giảng viên và Nhà nghiên cứu Bộ môn Giải phẫu học: Bổ sung dữ liệu giải phẫu học chi tiết của người Việt Nam vào hệ thống bài giảng giảng dạy đại học và sau đại học, phục vụ công tác đối chiếu nhân trắc học quốc tế.
  • Bác sĩ Y học Thể thao và Chuyên viên Phục hồi Chức năng: Hiểu rõ cơ chế bù trừ lực của các nhánh gân liên kết FHLt - FDLt để xây dựng phác đồ tập luyện phục hồi dáng đi và lực đẩy bàn chân cho vận động viên sau phẫu thuật.

Câu hỏi thường gặp

  • Vì sao gân gấp ngón chân cái dài (FHLt) là lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong tái tạo gân gót mạn tính? Gân FHLt sở hữu bụng cơ dài kéo dài xuống thấp mang theo nguồn mạch nuôi dồi dào, giúp thúc đẩy quá trình liền gân nhanh chóng. Bên cạnh đó, cơ FHL có lực co cơ mạnh nhất sau cơ tam đầu cẳng chân và hoạt động cùng pha thần kinh, hỗ trợ dáng đi tự nhiên với lực đẩy tối ưu.

  • Điểm bắt chéo Henry (Master Knot of Henry - MKH) có vai trò giải phẫu quan trọng như thế nào? MKH là giao điểm nơi FHLt bắt chéo trên gân gấp các ngón dài (FDLt) tại lòng bàn chân. Đây là mốc định vị cốt lõi để giải phóng gân và cắt các nhánh liên kết. Xác định sai vị trí MKH dễ dẫn đến đứt bó mạch thần kinh gan chân trong nằm cách đó chỉ 9,8 mm.

  • Kỹ thuật lấy gân FHLt nào mang lại chiều dài gân ghép lớn nhất? Kỹ thuật xâm lấn tối thiểu cắt gân tại đốt gần ngón chân cái cho chiều dài gân lớn nhất đạt trung bình 25,8 cm. Kỹ thuật đường mổ đôi cho chiều dài trung bình 19,8 cm, trong khi đường mổ đơn sau cổ chân chỉ thu hoạch được đoạn gân ngắn khoảng 5,2 cm.

  • Phẫu thuật lấy gân FHLt có làm ngón chân cái bị liệt hoặc mất hoàn toàn lực gấp không? Sau mổ, bệnh nhân có thể giảm nhẹ lực gấp đốt xa ngón cái nhưng không mất hoàn toàn chức năng. Nhờ 73,3% trường hợp có nhánh liên kết giải phẫu từ FHLt sang FDLt và các cơ nội tại gan chân hỗ trợ, chức năng thăng bằng và dáng đi của bệnh nhân vẫn duy trì ổn định.

  • Dữ liệu của luận văn này có điểm gì vượt trội so với các nghiên cứu giải phẫu trước đây? Nghiên cứu của tác giả Đinh Thanh Trường là công trình đầu tiên tại Việt Nam khảo sát đồng thời cả 3 yếu tố: tọa độ điểm MKH, khoảng cách bó mạch thần kinh gan chân và định mức chiều dài gân theo 3 phương pháp mổ trên cùng một cỡ mẫu người Việt Nam chuẩn hóa.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập hệ thống tọa độ giải phẫu chi tiết của gân FHLt và điểm bắt chéo Henry (MKH) trên người Việt Nam, với khoảng cách từ MKH đến lồi củ xương ghe trung bình 24,1 mm và đến mắt cá trong là 48,6 mm.
  • Xác định khoảng cách an toàn từ điểm MKH tới bó mạch thần kinh gan chân trong là 9,8 mm và tới bó mạch thần kinh gan chân ngoài là 16,5 mm, cung cấp ranh giới phẫu tích an toàn tuyệt đối.
  • Xác nhận hình thái liên kết gân FHLt - FDLt Loại 1 theo Beger chiếm tỷ lệ vượt trội 73,3%, chứng minh cơ sở giải phẫu vững chắc cho việc bảo tồn chức năng vận động bàn chân trước sau chuyển gân.
  • Lượng hóa chính xác chiều dài gân FHLt thu được theo 3 phương pháp can thiệp (đường mổ đơn: 5,2 cm; đường mổ đôi: 19,8 cm; xâm lấn tối thiểu: 25,8 cm), giúp tối ưu hóa chỉ định phẫu thuật cho từng mức độ khuyết hổng gân gót.
  • Chứng minh mối tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê giữa chiều dài bàn chân và các mốc giải phẫu can thiệp, mở ra phương pháp ước tính kích thước gân ghép không xâm lấn trước mổ.

Các phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình và học viên sau đại học quan tâm đến kỹ thuật chuyển gân cổ bàn chân nên tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Thanh Trường tại Thư viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn điều trị lâm sàng.