Chương 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về sức khõe tình dục. Tình dục và các vấn đề có liên quan thu hút sự quan tâm của loài người từ thời cổ đại đến nay bẩt kể là ai và thuộc tầng lớp xã hội nào. Các tôn giáo, các học thuyết và cả hệ thống pháp luật đều quan tâm đển hành vi của con người cô gắng thiết lập những giá trị cũng như những kiêng kị tiêu biểu về tình dục.
Con người ở bất cử một thời đại nào, một tầng lớp xã hội nào cũng cần quan tâm đên tình dục và các vấn đề liên quan để tạo ra và duy trì SKTD nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Sức khỏe tình dục là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thê chất, cảm xúc, tinh thần và xã hội liên quan tới tình dục; nó không chỉ đom giản là không cỏ bệnh tật, yểu hoặc mat khả năng sinh hoạt tĩnh dục. Sức khỏe tĩnh dục đòi hỏi một sự tiêp cận hêt sức tôn trọng với tình dục và quan hệ tình dục cùng như khả năng mang lại niềm vui và cảm giác an toàn, không có sự cường bức, đổi xử phân biệt hay bạo lực. Đe đạt được và duy trì sức khỏe tình dục, quyền tình dục của môi người cân được tôn trọng, bảo vệ và thỏa mãn.
Tong quan tài liệu Thế giới về SKTD và truyền thông ve SKTD cho thanh thiếu niên trên Thế giói. vấn đề SKSS/SKTD trên Thế giói SKSS/SKTD hiện nay đang là vấn đề khá nổi trội của Y tế Công cộng trên Thế Giới. Bởi nguy cơ về sức khỏe do thiếu hiểu biết về SKSS/SKTD gây ra cho con người là rất lớn như mắc STDs bao gồm cả HIV/AIDS; mang thai ngoài ý muốn, bạo lực tình dục.VTN/TN là đối tượng có nguy cơ cao trước những hậu quả của sự kém hiếu biểt về vẩn đe này [27], Thái độ cởi mở của VTN/TN nhiều nước trên Thế giới về QHTD trước hôn nhân làm tăng tỷ lệ QHTD trước hôn nhân; mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và STDs. Ở một sổ nước châu Âu tỷ lệ nam nữ TN bát đầu có ỌHTD ở tuổi 17 rất cao: Mali 72%; Mỹ 47%.
Con số này thấp hơn ở các nước châu Á: Thái Lan 7%; Philippin 6% [8, tr. QHTD trước hôn nhân phổ biến ở nhiều khu vực ưên Thế 5 giới và có xu hướng ngày càng tăng lên, tuổi kết hôn trung bình của các nước hâu hết tăng nên nguy cơ QHTD trước hôn nhẫn ngày càng cao. Do đó, tỷ lệ VTN mang thai ngoài ý muốn khá cao. Từ Bắc Phi đến Trung Á là 25 - 30%; 10 - 26% ở Án Độ, Indonesia và Pakistan [8, tr.
Theo ƯBDS Mỳ, có khoảng 13 triệu VTN trên Thế giới sinh con hàng năm mà rất nhiều trong sổ đó là ngoài ý muốn, ước tính, có khoảng 2 triệu nữ VTN ờ các nước đang phát triển nạo phá thai mỗi năm. Cùng với vấn đề này là tỷ lệ mắc STDs khá cao. Hàng ngày, có khoáng 500.000 thanh thiểu niên nhiễm STDs. Hầu hết trong số đó thuộc lứa tuổi 20 - 24 và sau đó là 15 - 19 tuổi.
Bắc Mỳ và Tây Âu có khoảng 8 - 9/100 người mắc STDs mỗi năm. Con số này cao hơn 3 lần ở các nước đang phát triển [8, tr. Nghiên cứu và can thiệp về SKTD trên Thế giói. Hội nghị Dân sổ và Phát triển Quốc te (1CPD) tổ chức tại Cairo năm 1994 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử Dân số và Sức khỏe.
Kể từ hội nghị này vấn đề Dân số không còn bó hẹp trong Ke hoạch hóa gia đình mà được mở rộng ra với khái niệm Sức khoe sinh sản (SKSS) và SKTD. Một năm sau đó, trong hội nghị Phụ nữ The giới tại Bac Kình, Trung Quốc, hai khái niệm này lại được nhấn mạnh bằng các quyền về SKSS và SKTD. Từ đó, rất nhiều các nghiên cứu về SKSS và SKTD lại tiếp tục tiến hành trên Thế giới và tập trung vào các loại đổi tượng khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau bao gồm: VTN/TN, phụ nữ trong độ tuổi sinh đé, người cao tuổi hay nam giới ở các vùng/khu vực và các nước khác nhau trên The giới. Đối với lứa tuổi VTN/TN thì các nghiên cứu, can thiệp về SKSS và SKTD đang là vấn đề được quan tâm tại nhiều nước trên Thế giới.
Bởi đây là lứa tuổi cần được trang bị kiến thức về SKSS cũng như SKTD để các em bước vào cuộc sống tình dục [1], Điêu này cũng giúp các VTN/TN có cơ hội đê được hưởng hạnh phúc và đạt được SKTD sau hôn nhân. Các vấn đề nghiên cứu đa dạng: phòng chống STDs, kiếm soát tình dục, hành vi tình dục an toàn, bạo lực/cưỡng bức tinh dục, lạm dụng tình dục; quyền SKTD, mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai [25], Kinh nghiệm Quốc tế cho thấy giáo dục về SKTD và kỹ năng sống cho VTN/TN có mối quan hệ hữu cơ với việc xây dựng hành vi an toàn bền vững của các em trong phòng tránh HIV/A1DS và giữ gìn SKSS/SKTD. Các hình thức giáo 6 dục kiến thức sâu và kỹ năng là một bước nâng cao hơn của chương trình giáo dục truyền thông vì chúng có hiệu quả hơn trong việc làm thay đồi hành vi [1]. Truyền thông về SKTD trên Thế giói.
Trước thực trạng tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, mắc STDs và nhất là sự bùng nổ của đại dịch HỈV/AIDS trên toàn cầu thì các chương trình truyền thông trên Thế giới ngày càng đa dạng về thể loại, nội dung và truyền thông trên nhiều loại đối tượng khác nhau. VTN/TN là một trong sổ những đối tượng đang được rất nhiều nước chú trọng đến [20], Các loại hình truyền thông khá đa dạng như sách báo, tạp chí, các bản tin, dịch vụ tư vấn, pa nô, áp phích, tờ rơi, sách mỏng, sổ tay, phim ảnh, phát thanh. Thậm chí truyền thông trên các đồ dùng của VTN/TN nhằm tăng cường sự hiếu biết về SKSS/SKTD và các vấn đề liên quan [24]. Trước sự lây lan của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, rất nhiều các tài liệu truyền thông lồng ghép truyền thông về SKSS, SKTD với HIV/AIDS.
Một số tài liệu như cuốn sách “Mối liên quan giữa tình dục, SKSS và HIV/AIDS” năm 2005; cuốn “Tình dục và SKSS của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS” năm 2006. Các tài liệu này do WHO, UNFPA, UNAIDS xuất bản và đề cập đến rất nhiều khía cạnh về SKSS/SKTD và HIV/AIDS bao gồm cả những hướng dẫn giúp người nhiễm HIV trở lại cuộc sống, các cách điều trị, chăm sóc và phòng ngừa sự lây truyền HIV/AIDS [24], Đối với thanh thiếu niên thì chủ đề truyền thông thường thấy là tình yêu, giới, tình dục, kết hôn và SKSS. Năm 2006, Marie Stopes International xuất bản sách dành cho VTN/TN: “Tình dục, kết hôn và SKSS”. Cuốn sách đã tiếp cận được đên VTN/TN - đôi tượng thường ít được chú ỷ đên ở đât nước này.
Future Group năm 2006 phát hành cuốn “KHHGĐ và chương trình ở các nước đang phát triền” bao gồm các phần: KHHGĐ, kết hôn, tử vong VTN, phát triển kinh tế, bình đẳng giới, SKSS VTN, phòng ngừa STDs và HIV/AIDS ở các bà mẹ trẻ. Qua đỏ, góp phần vào việc giảm nghèo nàn và thúc đẩy sự phát triển KT - XH ở các nước đang phát triển. Một số tài liệu “Nâng cao kiến thức về SKTD/SKSS cho thanh thiếu niên” do Save the children ở Việt Nam, Nepal, Bhutan, Malawi phối hợp thực hiện. Các tài liệu này tập trung chủ yếu vào 3 chủ đề: tiếp cận dịch vụ chất 7 lượng, quyền và thực hiện quyền SKSS/SKTD của VTN/TN, sự ủng hộ chính trị - xã hội cho thanh thiếu niên [24].
Ớ một số nước như Thái Lan và các tỉnh Vân Nam, Hồ Bắc, Giang Tô của Trung Quốc đã thực hiện rất thành công việc tuyên truyền vê an toàn tình dục và hình ảnh chiếc BCS được gắn liền với các chiến dịch này. Tuyên truyền đường pho các thông điệp về BCS trên các pano, áp phích, băng rôn. Tờ rơi thì được găn sẵn các BCS ở bên trong và phát cho mọi người trong đó đặc biệt chú ý đến thanh thiếu niên trẻ tuổi [26] [28], Thêm vào đó là sự đa dạng của các loại hình truyền thông khác như phim ảnh, truyền thông trên truyền hình, đài phát thanh cũng rất phổ biến ở một sổ nước phát triển và đang phát triển như Nepal với các series phim tài liệu vê HIV/AIDS; mang thai an toàn và tránh mang thai ngoài ý muốn. Các dịch vụ tư vấn cũng được triển khai rất mạnh mẽ ở nhiều nước: Mỹ, Thải Lan, Trung Quốc, Nepal, Việt Nam.
CBYT, cộng tác viên, các tình nguyện viên là những nhân vật quan trọng trong việc tư vấn SKSS/SKTD cho VTN/TN ở những vùng sâu, vùng xa và khó khăn điên hình là Rajasthan với chương trình giáo dục kỹ năng sống; các bài học về quyền của VTN/TN bao gồm cả quyền về SKSS/SKTD [24], Ngoài ra, xây dựng mô hình đồng đẳng viên để truyền thông cho VTN/TN về SKSS/SKTD cũng khá được quan tâm ở nhiều nước, ớ Srilanka đã xây dựng mô hình này rất thành công năm 2006 vừa qua với 5 nhóm đồng đắng viên về các vấn đề: RHYA, SK.SS, kỹ năng sống, thông tin - giáo dục - truyền thông và tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về vấn đề này cho VTN/TN. UNFPA và Tổ chức sức khỏe gia đình Quốc tể năm 2005 cũng xuất bản các tài liệu giáo dục đồng đẳng gồm 5 phần cơ bản nhằm tăng cường kiến thức cho các đồng đẳng viên [24]. Truyền thông trên các trang web giáo dục SKSS/SK.TD cho VTN/TN hiện nay cũng rất phát triển. Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi các trang web không lành mạnh [27] 8 1.
Tong quan tài liệu trong nưó’c về SKTD và truyền thông về SKTD cho thanh thiếu niên. Vấn đề SKSS/SKTD ở Việt Nam. Giới trẻ Việt Nam đang ý thức được ràng xã hội quanh mình đang thay đổi nhanh chóng. So với cha mẹ, họ được giáo dục tốt hơn.
Họ lập gia đình muộn hơn và ngày càng có xu hướng QHTD trước hôn nhân [19]. Hơn nữa, nhiều quan điểm và chuẩn mực xã hội truyền thông đã ít nhiều lung lay với giới trẻ, ngay cả trong vấn đề tính dục. Các nghiên cứu cho thấy kiển thức và hiểu biét cùa VTN/TN về SKSS/SKTD còn rất mơ hồ. Đặc biệt là ở nông thôn, VTN/TN rất ít có cơ hội tiếp cận với các thông tin truyền thông về vấn đề này.
Nhà trường chỉ cung cấp “giáo dục dân sổ”, tập trung vào KHHGĐ và các vấn đề dân số, trong khi sao nhãng các vấn đề quan trọng như tính dục, STDs, thai nghén và nạo phá thai [19], Tình trạng QHTD trước hôn nhân ở lứa tuổi thanh thiếu niên Việt Nam đang ngày càng gia tăng.