Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế Công cộng của tác giả Đoàn Thị Thùy Linh (Trường Đại học Y tế Công cộng, 2007) được thực hiện trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới đang có những chuyển biến nhanh chóng về lối sống và quan niệm tình dục trong giới trẻ. Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs/HIV) ở thanh thiếu niên có xu hướng gia tăng rõ rệt. Báo cáo tổng kết 180 cuộc khảo sát giai đoạn 1995–2002 tại Việt Nam cho thấy kiến thức của giới trẻ về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục (SKSS/SKTD) còn rất mơ hồ; năm 1997 có khoảng 30% tổng số ca nạo phá thai thuộc về thanh niên chưa lập gia đình; hơn một nửa số ca nhiễm mới HIV xảy ra trong độ tuổi 20–29 và 40% ghi nhận ở lứa tuổi 15–24.

Tại khu vực nông thôn, thanh niên chịu nhiều thiệt thòi do hạn chế về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và chịu rào cản nặng nề từ các chuẩn mực xã hội truyền thống vốn xem tình dục là đề tài cấm kỵ. Kết quả đánh giá nhanh của nhóm sinh viên thực địa Trường Đại học Y tế Công cộng từ tháng 12/2006 đến tháng 2/2007 tại xã Mỹ Hà (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định) ghi nhận: 75% thanh niên chưa kết hôn thiếu kiến thức về SKTD và 80% e ngại, không dám trao đổi về chủ đề này. Xã Mỹ Hà có diện tích 771,79 ha, dân số 7.766 người (tháng 6/2006), thu nhập bình quân đầu người khoảng 300.000 đồng/tháng; trạm y tế đang triển khai 12 chương trình y tế quốc gia và giai đoạn 2 mô hình can thiệp tiền hôn nhân của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Nam Định. Tuy nhiên, hoạt động tại đây chủ yếu tập trung vào khám sức khỏe ban đầu, hoàn toàn thiếu vắng các tài liệu và hoạt động truyền thông – giáo dục chuyên sâu về SKTD.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Xây dựng các sản phẩm truyền thông về sức khỏe tình dục cho thanh niên từ 18–24 tuổi tiền hôn nhân tại xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong thời gian từ 01/12/2006 đến 15/05/2007.
  • Mục tiêu cụ thể (được đánh số theo văn bản):
    1. Thiết kế tờ rơi về SKTD cho thanh niên từ 18–24 tuổi tiền hôn nhân tại xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong thời gian từ 01/12/2006 đến 25/04/2007.
    2. Thử nghiệm tờ rơi về SKTD cho thanh niên từ 18–24 tuổi tiền hôn nhân tại xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong thời gian từ 01/04/2007 đến 25/04/2007.
    3. Thiết kế bài phát thanh về SKTD cho thanh niên từ 18–24 tuổi tiền hôn nhân tại xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong thời gian từ 01/04/2007 đến 25/04/2007.
    4. Thử nghiệm bài phát thanh SKTD cho thanh niên từ 18–24 tuổi tiền hôn nhân tại xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong thời gian từ 01/04/2007 đến 25/04/2007.
    5. Khuyến nghị hiệu chỉnh tờ rơi và bài phát thanh cho phù hợp với thanh niên địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thanh niên nam và nữ trong độ tuổi 18–24, chưa lập gia đình, hiện cư trú trên địa bàn xã Mỹ Hà và tình nguyện tham gia. Tiêu chuẩn loại trừ gồm: người mù chữ, người khiếm thính hoặc gặp khó khăn về nghe (đối với mẫu thử nghiệm bài phát thanh), và người mất năng lực hành vi.
  • Phạm vi không gian: Xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ đề tài tiến hành từ tháng 12/2006 đến ngày 15/05/2007; giai đoạn thu thập số liệu thử nghiệm thực địa diễn ra từ ngày 01/04/2007 đến ngày 25/04/2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu dựa trên khung định nghĩa về SKTD của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể chất, cảm xúc, tinh thần và xã hội liên quan đến tình dục, không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay rối loạn chức năng tình dục. Cơ sở lý luận của đề tài gắn liền với tinh thần của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD, Cairo 1994) và Hội nghị Phụ nữ Thế giới (Bắc Kinh 1995), xác lập quyền SKSS/SKTD là quyền cơ bản của con người. Nghiên cứu cũng kế thừa kinh nghiệm từ các can thiệp truyền thông tiền nhiệm tại Việt Nam và quốc tế, như mô hình đính kèm bao cao su vào ấn phẩm truyền thông tại Thái Lan, Trung Quốc; các ấn phẩm thuộc dự án RAS/03/P51 của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; mô hình "Ngôi nhà tuổi trẻ" (dự án RAS/98/P22 do Marie Stopes International và Trung ương Đoàn triển khai); và cuốn tài liệu "Những điều cần biết về an toàn tình dục" do Ban Giáo dục Thế giới vụ đài BBC ủy nhiệm.

Về mặt phương pháp luận, tác giả áp dụng quy trình hướng dẫn thử nghiệm sản phẩm truyền thông in ấn và nghe nhìn của Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe (T5G) – Bộ Y tế (năm 1998 và 2003). Thiết kế nghiên cứu thuộc dạng đánh giá trước khi xuất bản rộng rãi (pre-testing), kết hợp phương pháp định lượng và định tính:

  • Phương pháp định lượng: Thu thập dữ liệu thông qua bộ câu hỏi tự điền phát vấn trực tiếp cho đối tượng đích nhằm đo lường các biến số: đặc điểm nhân khẩu học, mức độ dễ hiểu, tính khích lệ/thuyết phục, sự thích thú, sự hấp dẫn/chú ý và tính phù hợp của sản phẩm.
  • Phương pháp định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu (PVS) có ghi âm, sử dụng hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc nhằm thu thập quan điểm chi tiết, giải thích căn nguyên của các đánh giá và ghi nhận các đề xuất chỉnh sửa cụ thể.
  • Quy trình thử nghiệm: Đối với tờ rơi, đối tượng được đọc và quan sát trong khoảng 30 phút trước khi trả lời bảng hỏi hoặc tham gia phỏng vấn sâu; đối với bài phát thanh, đối tượng được nghe phát lại 2 lần bằng thiết bị chuyên dụng trước khi lấy ý kiến.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Thử nghiệm tờ rơi có 28 người tham gia phát vấn và 3 người tham gia phỏng vấn sâu (tổng số 31 đối tượng). Thử nghiệm bài phát thanh có 20 người tham gia phát vấn và 2 người tham gia phỏng vấn sâu (tổng số 22 đối tượng).
  • Xử lý và phân tích dữ liệu: Dữ liệu định lượng được nhập, xử lý và tính toán tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Excel do dung lượng mẫu nhỏ hơn 30. Dữ liệu định tính được gỡ băng toàn văn từ máy ghi âm, mã hóa và phân tích nội dung theo từng chủ đề nghiên cứu.
  • Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu nhận được sự chấp thuận của nhà trường, chính quyền địa phương, trạm y tế xã; đối tượng tham gia hoàn toàn trên nguyên tắc tự nguyện, được giải thích rõ mục đích, cam kết bảo mật thông tin cá nhân và có quyền từ chối tham gia bất kỳ lúc nào.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các định nghĩa cốt lõi về tình dục và SKTD theo chuẩn mực quốc tế, phân tích gánh nặng bệnh tật và nguy cơ mang thai ngoài ý muốn ở vị thành niên và thanh niên trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Tác giả tổng thuật các xu hướng can thiệp truyền thông quốc tế (sử dụng đồng đẳng viên tại Sri Lanka, tích hợp giáo dục quyền SKTD tại Nepal, truyền thông tiếp thị xã hội bao cao su tại Trung Quốc và Thái Lan). Tại Việt Nam, tác giả chỉ rõ khoảng trống lớn: các chương trình SKSS/SKTD chủ yếu dành cho cặp vợ chồng hoặc thanh niên thành thị, còn thanh niên nông thôn chưa kết hôn gần như bị bỏ ngỏ. Chương này cũng phân tích bối cảnh y tế tại tỉnh Nam Định và xã Mỹ Hà, nêu bật tính cấp thiết của việc phát triển tài liệu truyền thông đặc thù phục vụ câu lạc bộ "Tiền hôn nhân" tại địa phương.

Chương 2: Phương pháp

Tác giả trình bày chi tiết ý tưởng và quy chuẩn kỹ thuật thiết kế hai sản phẩm truyền thông. Tờ rơi được thiết kế bằng phần mềm Microsoft Publisher trên khổ giấy A4 đặt ngang, gập ba bất đối xứng tạo thành 6 trang nhỏ có kích thước lệch nhau. Mặt ngoài bố trí trang bìa, thông điệp chủ đạo và trang giới thiệu câu lạc bộ; mặt trong cung cấp kiến thức SKTD và dành riêng trang gập nhỏ bên trong để dán đính kèm một chiếc bao cao su thật – hình thức học tập từ kinh nghiệm quốc tế nhằm kết hợp cung cấp kiến thức với tiếp thị xã hội kín đáo. Màu sắc chủ đạo là xanh lá cây phối chữ vàng đậm. Bài phát thanh được thiết kế cho chuyên mục "Chuyện quanh ta" phát trên hệ thống loa truyền thanh xã, xây dựng dưới dạng kể lại hai câu chuyện đời thường có thật về hậu quả của quan hệ tình dục không an toàn, kèm theo phần bình luận định hướng và bài học rút ra. Tiếp đó, chương mô tả quy trình chọn mẫu, tiêu chuẩn lựa chọn/loại trừ, công cụ thu thập số liệu, các bước tiến hành thử nghiệm và phương pháp xử lý thông tin định tính, định lượng.

Chương 3: Kết quả

Chương này công bố chi tiết các số liệu thu được từ đợt thử nghiệm thực địa tại xã Mỹ Hà từ ngày 01/04 đến 25/04/2007:

  • Kết quả thử nghiệm tờ rơi (n = 28 phát vấn, 3 PVS): Tỷ lệ nam/nữ cân bằng 50:50; độ tuổi 18 chiếm tỷ lệ cao nhất (25%), không có đối tượng 24 tuổi tham gia; 71,4% có trình độ học vấn THPT; nghề nghiệp chiếm nhiều nhất là học sinh THPT (35,7%), tiếp đến là làm ruộng (25%) và cán bộ công nhân viên (21,4%). 100% đối tượng đánh giá nội dung phần lời dễ hiểu, dễ nhớ; 89,3% (25/28) nhận định hình ảnh dễ hiểu. 89,3% khẳng định tờ rơi có tính thuyết phục và sẽ làm theo hướng dẫn. 71,4% bày tỏ sự rất thích thú đối với tờ rơi. 27/28 người đánh giá màu sắc, cỡ chữ gây được sự chú ý; ảnh 4 và 5 đạt mức hấp dẫn 100%, ảnh 1 và 3 đạt 96,4%, riêng ảnh 2 chỉ đạt 78,6%. Về tính phù hợp giữa ảnh và lời: ảnh 3, 4, 5 đạt sự đồng thuận tuyệt đối (100%), ảnh 1 đạt 92,9%, nhưng ảnh 2 có tới 57,1% (16/28 ý kiến) cho rằng không phù hợp với thông điệp bên cạnh.
  • Kết quả thử nghiệm bài phát thanh (n = 20 phát vấn, 2 PVS): Tỷ lệ nam/nữ là 50:50; tuổi 18 chiếm 40% (8/20); học sinh chiếm 50% (10/20). 90% (18/20) đối tượng nhớ và kể lại được nội dung câu chuyện cùng bài học rút ra; 90% đánh giá nội dung dễ hiểu; 100% hiểu rõ thông điệp cốt lõi. 75% đánh giá câu chuyện thứ nhất hấp dẫn và 70% đánh giá câu chuyện thứ hai hấp dẫn; 85% nhận xét giọng đọc truyền cảm. 90% cho rằng nội dung bài phát thanh phù hợp với thanh niên địa phương; 95% (19/20) đề xuất khung giờ phát thanh tối ưu là chiều Chủ nhật, cụ thể vào khoảng 17h00.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả đi sâu mổ xẻ các kết quả thử nghiệm và đối chiếu với thực tiễn can thiệp y tế công cộng. Hạn chế về cỡ mẫu nhỏ (31 người thử nghiệm tờ rơi và 22 người thử nghiệm phát thanh so với mức chuẩn lý tưởng 100–200 đối tượng) được nhìn nhận thẳng thắn. Tác giả phân tích rào cản tâm lý e ngại của thanh niên nông thôn trước chủ đề nhạy cảm và sự nghi ngại điều tra viên là người tiếp thị thương mại; khó khăn này đã được hóa giải nhờ sự đồng hành của nhân viên y tế thôn bản. Về tờ rơi, tác giả lý giải nguyên nhân ảnh số 2 (mô tả đôi nam nữ ngồi tâm sự) bị đánh giá không phù hợp là do nội dung bên cạnh bàn về việc "trò chuyện với mọi người về tình dục"; thanh niên kiến nghị sửa thành ảnh nhóm thanh niên thảo luận và thay chữ "mọi người" thành "bạn bè" cho sát thực tế nông thôn. Đa số thanh niên nông thôn chỉ biết bao cao su để tránh thai chứ chưa biết công dụng phòng chống STDs/HIV và không biết cách sử dụng, do đó cần bổ sung mục hướng dẫn sử dụng kèm hình vẽ minh họa. Về bài phát thanh, tác giả phân tích việc thiếu nhạc hiệu dẫn dắt và phần bình luận quá dài đã làm giảm mức độ tập trung của thính giả, cần phải rút gọn bài học và lồng ghép âm thanh để tăng tính lôi cuốn.

Chương 5: Kết luận

Chương kết luận khẳng định hai sản phẩm truyền thông đạt được sự đón nhận tích cực, nội dung và hình thức cơ bản đáp ứng đúng nhu cầu tìm hiểu SKTD của thanh niên tiền hôn nhân tại xã Mỹ Hà. Các kết luận cụ thể nêu rõ:

  • Tờ rơi cần hiệu chỉnh: bổ sung hướng dẫn thao tác sử dụng bao cao su bằng hình ảnh; sửa cụm từ "mọi người" thành "bạn bè"; bổ sung câu thoại cho nhân vật hoạt hình; thay thế hình ảnh số 2; tăng độ tương phản và độ đậm cho màu nền trang bìa và dải thông điệp chủ đạo; vẽ thêm hình ảnh minh họa cho phần hậu quả của thiếu hiểu biết SKTD.
  • Bài phát thanh cần hiệu chỉnh: rút ngắn phần bình luận và bài học sau câu chuyện; lồng nhạc đệm mở đầu và kết thúc; điều chỉnh tốc độ đọc chậm hơn và tạo điểm nhấn ngữ điệu để tránh cảm giác diễn thuyết một chiều.

Chương 6: Khuyến nghị

Tác giả đề xuất các hành động thực tế tiếp theo:

  • Tiến hành hiệu chỉnh toàn diện hai sản phẩm theo các đóng góp đã bàn luận trước khi đưa vào sản xuất và phát hành chính thức.
  • Xuất bản tờ rơi theo số lượng đã hoạch định trong kế hoạch can thiệp của nhóm sinh viên thực địa Đại học Y tế Công cộng.
  • Đưa bài phát thanh vào lịch phát thanh chính thức của Đài truyền thanh xã Mỹ Hà với tần suất 1 lần/tuần vào lúc 17h00 chiều Chủ nhật.
  • Phối hợp phát hành tờ rơi, phát sóng bài phát thanh song hành với các buổi sinh hoạt định kỳ của câu lạc bộ "Tiền hôn nhân". Sau khi dự án kết thúc, các hoạt động này cần được bàn giao và lồng ghép vào hoạt động thường quy của Đoàn Thanh niên xã.
  • Đúc kết 4 khuyến nghị chuyên môn cho các nghiên cứu phát triển tài liệu truyền thông y tế sau này: mở rộng cỡ mẫu và thử nghiệm nhiều vòng; thu thập ý kiến định tính đa dạng trên cả nhóm ngoài tiêu chuẩn; chú trọng màu sắc tươi sáng (xanh lá cây, vàng, đỏ) và hình ảnh sinh động cho tài liệu in ấn; tối ưu hóa âm thanh, tiếng động và cốt truyện cho sản phẩm phát thanh.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm phản ánh chân thực mức độ tiếp nhận và phản hồi của thanh niên nông thôn đối với các sản phẩm truyền thông SKTD dạng in ấn và âm thanh. Các chỉ số định lượng then chốt thu được qua đợt thử nghiệm được tổng hợp trong bảng dưới đây:

Sản phẩm thử nghiệm Biến số đánh giá Chỉ số ghi nhận trong văn bản
Tờ rơi (n = 28) Mức độ dễ hiểu của hình ảnh 89,3% (25/28) đánh giá dễ hiểu
Mức độ dễ hiểu của nội dung chữ 100,0% (28/28) đánh giá dễ hiểu, dễ nhớ
Tính khích lệ / thuyết phục hành vi 89,3% (25/28) cam kết thực hiện theo hướng dẫn
Mức độ thích thú sản phẩm 71,4% rất thích; 28,6% ở mức bình thường
Độ hấp dẫn của hình ảnh minh họa Ảnh 4, 5 đạt 100%; Ảnh 1, 3 đạt 96,4%; Ảnh 2 đạt 78,6%
Sự phù hợp giữa hình ảnh và phần lời Ảnh 3, 4, 5 đạt 100%; Ảnh 1 đạt 92,9%; Ảnh 2 chỉ đạt 42,9% (16/28 cho là không phù hợp)
Bài phát thanh (n = 20) Ghi nhớ nội dung và bài học 90,0% (18/20) kể lại chính xác nội dung câu chuyện
Mức độ dễ hiểu của thông điệp 100,0% (20/20) đánh giá thông điệp rõ ràng, dễ hiểu
Tính hấp dẫn của câu chuyện Câu chuyện 1 đạt 75,0% (15/20); Câu chuyện 2 đạt 70,0% (14/20)
Đánh giá về chất lượng giọng đọc 85,0% (17/20) đánh giá giọng đọc truyền cảm, dễ nghe
Tính phù hợp với đối tượng đích 90,0% (18/20) đánh giá phù hợp với thanh niên địa phương
Khung giờ phát sóng đề xuất 95,0% (19/20) lựa chọn chiều Chủ nhật (đặc biệt mốc 17h00)

Đóng góp về mặt giải pháp và phương pháp:

  • Nghiên cứu đã xác lập quy trình thử nghiệm tiền xuất bản có cấu trúc rõ ràng cho tài liệu truyền thông y tế công cộng tuyến xã, chứng minh hiệu quả của việc kết hợp phỏng vấn sâu với bảng hỏi phát vấn trong việc phát hiện những điểm nghẽn văn hóa, từ ngữ và hình ảnh mà người thiết kế không lường trước.
  • Đưa ra giải pháp thiết kế tờ rơi gập ba lệch độc đáo, lồng ghép mẫu vật bao cao su thật vào nếp gấp kín đáo bên trong. Thiết kế này vừa giải quyết được rào cản e ngại, xấu hổ của thanh niên nông thôn khi tiếp cận phương tiện tránh thai, vừa thực hiện hiệu quả chức năng tiếp thị xã hội.
  • Xây dựng thành công kịch bản phát thanh mang phong cách tự sự gần gũi ("Chuyện quanh ta") giúp chuyển tải các nội dung giáo dục tình dục vốn bị coi là nhạy cảm thành các bài học xã hội dễ tiếp nhận trên hệ thống truyền thanh công cộng của làng xã.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả đã chỉ rõ các hạn chế nội tại của đề tài trong văn bản:

  • Dung lượng mẫu nhỏ: Cỡ mẫu thử nghiệm chỉ dừng lại ở 31 người cho tờ rơi và 22 người cho bài phát thanh. Tác giả nhấn mạnh con số này thấp hơn nhiều so với quy mô lý tưởng (từ 100 đến 200 đối tượng) để bảo đảm độ tin cậy thống kê cao nhất cho việc tiền kiểm định sản phẩm truyền thông.
  • Số vòng thử nghiệm hạn chế: Do eo hẹp về mặt thời gian và nguồn lực thực địa, quá trình thử nghiệm chỉ được tiến hành duy nhất 1 lần thay vì triển khai lặp lại nhiều vòng sau khi đã chỉnh sửa mẫu thiết kế.
  • Kỹ năng thiết kế chuyên nghiệp: Tác giả tự thiết kế sản phẩm trên phần mềm văn phòng thông thường (Microsoft Publisher), không phải nhà thiết kế đồ họa hay biên tập âm thanh chuyên nghiệp nên các chi tiết mỹ thuật, phối màu và hòa âm còn nhiều điểm chưa đạt mức tối ưu.
  • Rào cản tâm lý xã hội: Định kiến văn hóa truyền thống khắt khe tại địa phương khiến một bộ phận thanh niên ban đầu còn dè dặt, né tránh hoặc nghi ngờ nghiên cứu viên là nhân viên tiếp thị bán hàng.

Hướng nghiên cứu và can thiệp tiếp theo:

  • Cần mở rộng quy mô thử nghiệm các tài liệu truyền thông với cỡ mẫu lớn hơn (100–200 người) và tổ chức thử nghiệm lặp lại qua nhiều giai đoạn chỉnh sửa.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát định tính ra ngoài nhóm đối tượng đích, thu thập thêm ý kiến từ phụ huynh, cán bộ hội phụ nữ và các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng để bảo đảm sự đồng thuận xã hội.
  • Phát triển thêm các định dạng sản phẩm truyền thông đa dạng khác phục vụ thanh niên nông thôn như sách mỏng bỏ túi, pa-nô, áp phích, sổ tay hướng dẫn và video/phim ngắn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cao cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Y tế Công cộng, Truyền thông Giáo dục Sức khỏe, Công tác Xã hội và Xã hội học muốn nghiên cứu phương pháp phát triển tài liệu truyền thông can thiệp dựa vào cộng đồng.
  • Cán bộ y tế tuyến cơ sở (trạm y tế xã/phường), cán bộ Trung tâm Dân số – KHHGĐ, cán bộ Đoàn Thanh niên tại các vùng nông thôn đang tìm kiếm mô hình sinh hoạt câu lạc bộ tiền hôn nhân và kỹ năng truyền thông SKSS/SKTD thân thiện, giảm kỳ thị.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là phụ lục các công cụ thu thập số liệu (bộ câu hỏi tự điền, hướng dẫn phỏng vấn sâu tại Phụ lục 2) và nội dung chi tiết kịch bản 2 bài phát thanh tình huống đời thường tại Phụ lục 1, cung cấp những gợi ý thiết thực về cách đặt vấn đề và dẫn dắt thông điệp giáo dục hành vi tình dục an toàn cho giới trẻ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tờ rơi truyền thông trong khóa luận có cấu trúc thiết kế và giải pháp tiếp thị xã hội cụ thể như thế nào?
Tờ rơi được thiết kế trên khổ A4 nằm ngang, gập ba lệch tạo thành 6 trang nhỏ có kích thước không đều nhau. Nếp gập nhỏ nhất được chủ ý bố trí ở mặt trong để dán đính kèm một chiếc bao cao su thật cùng hướng dẫn sử dụng. Thiết kế này vừa bảo đảm tính kín đáo, giúp thanh niên nông thôn không bị e ngại khi cầm đọc, vừa kết hợp cung cấp kiến thức lý thuyết với tiếp thị xã hội phương tiện tình dục an toàn.

2. Vì sao hình ảnh số 2 trong mẫu tờ rơi ban đầu lại bị đa số thanh niên thử nghiệm đề nghị thay đổi?
Hình ảnh số 2 minh họa một đôi nam nữ ngồi tâm sự riêng tư nhưng lại đặt cạnh phần văn bản có nội dung "Trò chuyện với mọi người về tình dục". Có 16/28 đối tượng (57,1%) nhận xét ảnh không phù hợp với lời văn. Thanh niên đề nghị thay bằng hình ảnh một nhóm bạn trẻ cả nam và nữ đang ngồi thảo luận, đồng thời kiến nghị đổi từ "mọi người" thành "bạn bè" vì trong bối cảnh nông thôn, việc trao đổi cởi mở về tình dục với người lạ hoặc người lớn tuổi là rất khó khăn.

3. Nội dung và cốt truyện của hai bài phát thanh thử nghiệm đề cập đến những tình huống thực tế nào?
Bài phát thanh số 1 kể về đôi bạn trẻ Sơn và Lam học cùng trường trung học, do bạn bè trêu đùa và thiếu kiềm chế đã quan hệ tình dục không an toàn dẫn đến Lam mang thai ngoài ý muốn, phải đi nạo hút thai và mối tình đầu tan vỡ trong đau khổ. Bài phát thanh số 2 trích từ nghiên cứu thực tế về nhân vật Thanh mang thai 5 tháng nhưng bạn trai bội ước vì gia đình phản đối; Thanh phải chịu đựng đau đớn thể xác lẫn dằn vặt tinh thần khi nạo phá thai tại bệnh viện, bắt nguồn từ quan niệm sai lầm rằng yêu nhau chân thành thì không cần dùng biện pháp tránh thai.

4. Vì sao 95% thanh niên tham gia nghiên cứu lại đề xuất phát bài truyền thanh vào lúc 17h00 chiều Chủ nhật?
Qua phỏng vấn sâu, thanh niên giải thích rằng phần lớn lao động trẻ tại xã Mỹ Hà làm công nhân trong các nhà xưởng, chỉ được nghỉ làm vào ngày Chủ nhật. Khung giờ 17h00 chiều là thời điểm mọi người đã kết thúc công việc đồng áng, đang nghỉ ngơi hoặc chuẩn bị bữa cơm tối tại gia đình; đồng thời đối tượng học sinh cũng không phải đi học, nhờ đó việc lắng nghe qua hệ thống loa phát thanh xã đạt hiệu quả tiếp nhận cao nhất.

5. Nghiên cứu viên đã áp dụng giải pháp nào để vượt qua rào cản e ngại của đối tượng khi thu thập thông tin về chủ đề tình dục nhạy cảm tại địa phương?
Để xóa bỏ sự ngượng ngùng xuất phát từ quan niệm Nho giáo truyền thống khắt khe và tránh việc người dân nhầm lẫn điều tra viên là nhân viên tiếp thị thương mại, nghiên cứu viên đã phối hợp chặt chẽ với các nhân viên y tế thôn bản tại xã Mỹ Hà. Nhờ có nhân viên y tế thôn bản là những người quen thuộc, gần gũi với dân làng đi cùng giới thiệu và hỗ trợ tiếp cận, các cuộc phỏng vấn sâu và phát vấn đã diễn ra thuận lợi, cởi mở và đạt độ tin cậy cao.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thị Thùy Linh là một công trình nghiên cứu can thiệp y tế công cộng thực chứng, tập trung giải quyết khoảng trống truyền thông sức khỏe tình dục cho thanh niên tiền hôn nhân tại vùng nông thôn Việt Nam. Thông qua phương pháp thử nghiệm tiền xuất bản kết hợp định lượng và định tính, tác giả đã đánh giá toàn diện mức độ tiếp nhận của đối tượng đích đối với tờ rơi gập ba kẹp bao cao su và bài phát thanh "Chuyện quanh ta". Các dữ liệu thu thập được là cơ sở thực tế vững chắc để hiệu chỉnh hoàn thiện sản phẩm truyền thông, đóng góp trực tiếp vào hoạt động của câu lạc bộ tiền hôn nhân tại xã Mỹ Hà và cung cấp kinh nghiệm thực địa giá trị cho công tác truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản, tình dục trong cộng đồng.