ĐẶT VẤN ĐỀ Vị thành niên (VTN) là một bộ phận trong dân số, trong lứa tuổi từ 10-19 tuổi. Đây là lực lượng lao động tiềm năng đối với các quốc gia nếu họ có sức khỏe tốt, được giáo dục tốt thì lực lượng này sẽ góp phần xây dựng và phát triển kinh tế đất nước [48]. VTN là giai đoạn đặc trưng bởi các thay đổi về thể chất, tâm sinh lý, đây cũng là giai đoạn VTN tiếp xúc với những hành vi tình dục như quan hệ tình dục không an toàn, nhiều người yêu và trải nghiệm tình dục [55]. Điều đó có thể dẫn đến việc họ có những nguy cơ về vấn đề sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục (SKSS/SKTD) [41] như: mang thai sớm, phá thai không an toàn, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS… [24] Giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) đã được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường Trung học phổ thông (THPT) và các trường trung học chuyên nghiệp tuy nhiên các em vẫn còn khá hạn chế về những kiến thức SKSS, đặc biệt là SKSS VTN [18].
Những năm trở lại đây, các đề tài nghiên cứu xoay quanh kiến thức về SKSS ở VTN/TN với mong muốn tìm ra phương cách hiệu quả để chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho VTN hiện tại cũng như sự trưởng thành sau này của VTN. Nhưng hầu hết các nghiên cứu thường chỉ xoay quanh đối tượng học sinh THPT hay sinh viên ở các Trường Trung cấp, cao đẳng, đại học trong khi đó dậy thì sớm, tìm hiểu về SKSS, quan hệ tình dục (QHTD) ngày càng nhiều và được trẻ hóa như học sinh THCS. Mỗi năm, ước tính có khoảng hơn 300 nghìn trường hợp nạo phá thai (NPT) trong độ tuổi VTN tại Việt Nam [2]. Ở độ tuổi VTN thì việc tìm hiểu, tiếp cận thông tin về SKSS, SKTD ngày càng cao nếu không được cung cấp kiến thức đúng thì rất dể dẫn đến những quan niệm sai lầm, lệch lạc để lại những hậu quả nghiêm trọng như QHTD sớm, không an toàn, có thai ngoài ý muốn và dẫn đến hậu quả NPT [2].
Trường THCS Bình Thành là 1 trường thuộc địa bàn huyện Thanh Bình, trường được xây dựng từ năm 2004. Năm 2019, trường có tổng 28 lớp học ở cả 4 khối lớp (6, 7, 8 và 9) với 998 học sinh. Với tốc độ phát triển nhanh của xã hội, kèm 2 theo đó là việc VTN dậy thì sớm trong khi các em còn nhiều bỡ ngỡ, tìm hiểu sớm về SKSS/ SKTD dẫn đến QHTD sớm ở VTN đặc biệt trong độ tuổi từ 10-15. Từ thực trạng đó, Ban giám hiệu nhà trường đã thấy được việc cung cấp kiến thức đúng về SKSS cho các em là cấp thiết nhằm hạn chế những hậu quả không đáng tiếc như mắc các bệnh LTQĐTD, mang thai ngoài ý muốn hay nạo phá thai,… [28] Từ những vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh trường THCS Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2019”.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh trường THCS Bình Thành trước khi nghiên cứu là như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh trường THCS Bình Thành năm 2019? Những đề xuất, khuyến nghị cần thiết, phù hợp về sức khỏe sinh sản cho học sinh trường THCS Bình Thành nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung sau khi thực hiện nghiên cứu?. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức và thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh trường Trung học cơ sở Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2019. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh trường trung học cơ sở Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2019.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Vị thành niên Theo tài liệu "Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản” của Việt nam, lứa tuổi vị thành niên (VTN) là từ 10-19 tuổi, và thường được chia ra làm 3 giai đoạn: VTN sớm (10-13 tuổi), VTN giữa (14-16 tuổi), và VTN muộn (17-19 tuổi) [5]. Tuổi VTN là giai đoạn phát triển đặc biệt – giai đoạn này xảy ra hàng loạt những thay đổi mạnh mẻ và nhanh chóng cả về thể chất, tâm sinh lý và các mối quan hệ xã hội [2].
VTN là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn, đặc điểm là sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, sự thay đổi về tâm lý, VTN có xu hướng muốn làm người lớn, không chịu sự ràng buộc từ gia đình. VTN bắt đầu muốn tạo lập nhân cách riêng của bản thân, họ cố gắng thực hiện những điều mình ước muốn và được đối xử như một người lớn thực thụ. Về mặc tình cảm, VTN bắt đầu quan tâm đến bạn khác giới [8], [27]. Sức khỏe sinh sản Theo WHO, sức khỏe sinh sản là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quy trình hệ thống SKSS.
SKSS vì thế ngụ ý rằng mọi người có thể có một cuộc sống tình dục an toàn và như ý muốn, họ có quyền tự do quyết định khi nào và bao lâu thì có thể sinh sản [52]. Giáo dục SKSS VTN Theo Bộ Y tế, giáo dục SKSS VTN là giáo dục về các vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục, bên cạnh đó cũng có các vấn đề khác như phát triển cơ thể, tâm lý, sinh lý, con người, tinh thần, quan hệ xã hội, … [5] Những nội dung thường được nhắc đến trong SKSS VTN như: giáo dục sinh lý thụ thai, sinh lý kinh nguyệt, các BPTT; các biểu hiện có thai; những nguy cơ có 5 thai ngoài ý muốn; giáo dục việc vệ sinh trong khi có kinh; giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh; giáo dục về BLTQĐTD, bao gồm HIV/AIDS [4]. Sức khỏe tình dục, tình dục an toàn Sức khỏe tình dục: là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội liên quan đến vấn đề tình dục. Nó đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực, tôn trọng tình dục và các mối quan hệ tình dục, đồng thời có những trải nghiệm tình dục một cách an toàn và vui vẻ, không sử dụng hành vi bạo lực để ép buộc tình dục hay phân biết đối xử [53].
Tình dục an toàn: là tình dục không dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và lây nhiễm các BLTQĐTD. Đó cũng là hình thức quan hệ tình dục không có sự tiếp xúc cơ thể với máu, chất dịch âm đạo với tinh dịch từ 2 người [4]. Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Là những bệnh chủ yếu được lây truyền do các ký sinh trùng gây ra, truyền từ người này sang người khác thông qua máu, tinh dịch, dịch âm đạo hoặc các chất dịch khác của cơ thể khi có quan hệ tình dục. Bệnh chủ yếu lây truyền từ 2 người khác giới [6].
Biện pháp tránh thai: Là các phương pháp được thực hiện lên cá nhân nhằm kiểm soát việc thu tinh đế tránh sự có thai ngoài ý muốn sau khi giao hợp. Có nhiều BPTT khác nhau, mỗi biện pháp có thể phù hợp với người này nhưng lại không thích hợp với người khác [4]. Một số phương pháp ngừa thai phù hợp cho VTN như kiêng giao hợp, sử dụng BCS, viên uống tránh thai, viên tránh thai khẩn cấp [3]. Phá thai: Là kết thúc thai nghén bằng cách loại bỏ hay lấy phôi hay thai nhi ra khỏi tử cung trước 22 tuần.
Phá thai thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng đặc biệt là ở tuổi VTN như vô sinh, băng huyết, sót nhau, thủng tử cung, nhiễm trung,. nguy hiểm hơn là dẫn đến tử vong [4]. Kiến thức, thái độ Kiến thức: thường bắt đầu bằng sự học hỏi, trao dồi, trải nghiệm. Nó cũng được hình thành từ sự trải nghiệm thực tế hay sự giáo dục đào tạo lý thuyết về một đối tượng, một vấn đề nào đó, có thể lý giải được [1].
6 Thái độ: thể hiện một phản ứng, lời nói, cử chỉ hành động của cá nhân đối với một người, sự vật hiện tượng nào đó. Thái độ mang tính chất tiêu cực hoặc tích cực qua những biểu hiện bên ngoài của người đưa ra thái độ [1]. Thực trạng sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều VTN đang gặp các vấn đề liên quan đến SKSS và các mối QHTD [17].
Những cuộc khảo sát trên đối tượng là hộ gia đình ở những đất nước đang phát triển (trừ Trung Quốc) cho thấy có 6% nam giới và 11% nữ giới trong độ tuổi từ 15-19 đã từng QHTD trước khi các em đủ 15 tuổi [20]. Nghiên cứu của Bonnie, Eocles và Jacquelynne ở miền bắc Uganda trên 827 học sinh từ 14-17 tuổi vào năm 2010 cho kết quả chỉ có 55% các em biết về dấu hiệu của tuổi dậy thì; 42,2% biết cách phòng các BLTQĐTD; học sinh có hiểu biết về biện pháp tránh thai và hậu quả của nạo phá thai lần lượt là 25% và 38,7% [36]. Tỷ lệ học sinh (9-12 tuổi) ở Ethiopia biết về BPTT ít nhất 1 biện pháp chiếm khá cao (82,8%), bao cao su (BCS) là BPTT chiếm chủ yếu 47,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh không hiểu về lợi ích của BCS, các bệnh LTQĐTD và mang thai ngoài ý muốn chiếm 21,7% [34].
Tại Mỹ, theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) về nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) và HIV của học sinh tại các trường trung học vào năm 2015 cho thấy học sinh đã từng qun hệ tình dục (QHTD) là 41%, có đến 43% ở lần QHTD cuối không dùng bao ca su, học sinh đã không dùng bất cứ biện pháp tránh thai khi QHTD là 14% và có đến 21% sử dụng đồ uống có cồn và chất kích thích trong lần QHTD cuối [38]. Quan hệ tình dục sớm khi chưa được cung cấp đầy đủ kiến thức về sức khỏe sinh sản sẽ dể dẫn đến có thai ở tuổi VTN, điều đó dẫn đến ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bà mẹ và trẻ sơ sinh dẫn đến nguyên nhân bà mẹ bị tử vong khi sinh con ở lứa tuổi VTN cao hơn các bà mẹ sinh con khi đã trưởng thành. Sinh con ở tuổi VTN dể dẫn đến việc mẹ dể bị thiếu máu, sẩy thai, chuyển dạ đình trệ, đẻ 7 non, tiền sản giật.