Luận văn kiến thức thái độ về sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh trường trung học cơ sở bình thành huyện thanh bình tỉnh đồng tháp năm 2019

Luận văn nghiên cứu kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sản và các yếu tố liên quan của học sinh THCS Bình Thành, Thanh Bình, Đồng Tháp năm 2019.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

104
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Sức khỏe sinh sản và học sinh THCS

Nghiên cứu tập trung vào sức khỏe sinh sản của học sinh THCS tại Bình Thành, Thanh Bình, Đồng Tháp năm 2019. Đây là giai đoạn quan trọng với sự thay đổi về thể chất và tâm lý. Kiến thức sức khỏethái độ về sức khỏe của học sinh còn hạn chế, đặc biệt về tình dục an toànthông tin sức khỏe sinh sản. Nghiên cứu chỉ ra rằng, chỉ 31.6% học sinh có kiến thức đúng về sức khỏe sinh sản, trong khi 70.2% hiểu về tuổi dậy thì. Giáo dục sức khỏe trong trường học cần được cải thiện để nâng cao nhận thức.

1.1. Kiến thức về sức khỏe sinh sản

Học sinh có kiến thức hạn chế về sức khỏe sinh sản, đặc biệt về tình dục an toànbệnh lây truyền qua đường tình dục. Chỉ 26.8% học sinh biết rằng quan hệ tình dục an toàn chỉ nên diễn ra sau hôn nhân. Kiến thức về biện pháp tránh thai cũng thấp, với 31.2% biết về bao cao su và 21.4% về thuốc tránh thai. Thông tin sức khỏe sinh sản từ gia đình và nhà trường chưa đủ để trang bị kiến thức toàn diện cho học sinh.

1.2. Thái độ về sức khỏe sinh sản

Thái độ của học sinh về sức khỏe sinh sản khá tích cực, với 76.9% đồng ý rằng tuổi dậy thì là giai đoạn quan trọng. Tuy nhiên, 42.9% học sinh cho rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân là chấp nhận được nếu hai người yêu nhau. Thái độ về sức khỏe cần được điều chỉnh thông qua chương trình giáo dục sức khỏetư vấn sức khỏe sinh sản để tránh những quan niệm sai lầm.

II. Yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ

Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thứcthái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh. Giới tính, học lực, và môi trường gia đình có tác động đáng kể. Học sinh sống cùng cả bố và mẹ có kiến thức tốt hơn. Giáo dục sức khỏe trong trường học và thông tin từ internet cũng là yếu tố quan trọng. Chương trình giáo dục sức khỏe cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi để đạt hiệu quả cao.

2.1. Yếu tố cá nhân

Giới tínhhọc lực là hai yếu tố cá nhân chính ảnh hưởng đến kiến thức sức khỏe sinh sản. Học sinh nữ thường có kiến thức tốt hơn về tuổi dậy thìbiện pháp tránh thai. Học sinh có học lực khá, giỏi cũng có nhận thức tốt hơn về sức khỏe sinh sản. Nhận thức về sức khỏe cần được nâng cao thông qua các hoạt động giáo dục và tư vấn.

2.2. Yếu tố gia đình và nhà trường

Gia đình và nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin sức khỏe sinh sản. Học sinh có người thân chủ động trao đổi về sức khỏe sinh sản thường có kiến thức tốt hơn. Chương trình giáo dục sức khỏe trong trường học cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu của học sinh. Tư vấn sức khỏe sinh sản cũng cần được đẩy mạnh để hỗ trợ học sinh.

III. Giải pháp và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để cải thiện kiến thứcthái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh. Chương trình giáo dục sức khỏe cần được tích hợp vào chương trình giảng dạy. Tư vấn sức khỏe sinh sản cần được tổ chức thường xuyên. Gia đình và cộng đồng cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường để cung cấp thông tin sức khỏe sinh sản đầy đủ và chính xác.

3.1. Đối với nhà trường

Nhà trường cần tổ chức các chương trình giáo dục sức khỏetư vấn sức khỏe sinh sản định kỳ. Nội dung giáo dục cần phù hợp với lứa tuổi và đáp ứng nhu cầu của học sinh. Giáo dục sức khỏe cần được lồng ghép vào các môn học và hoạt động ngoại khóa để tăng hiệu quả.

3.2. Đối với gia đình và cộng đồng

Gia đình cần chủ động trao đổi với con em về sức khỏe sinh sản. Cộng đồng cần hỗ trợ nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục và tư vấn. Thông tin sức khỏe sinh sản cần được truyền tải một cách rõ ràng và dễ hiểu để học sinh có thể tiếp thu hiệu quả.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Vị thành niên (VTN) là một bộ phận trong dân số, trong lứa tuổi từ 10-19 tuổi. Đây là lực lượng lao động tiềm năng đối với các quốc gia nếu họ có sức khỏe tốt, được giáo dục tốt thì lực lượng này sẽ góp phần xây dựng và phát triển kinh tế đất nước [48]. VTN là giai đoạn đặc trưng bởi các thay đổi về thể chất, tâm sinh lý, đây cũng là giai đoạn VTN tiếp xúc với những hành vi tình dục như quan hệ tình dục không an toàn, nhiều người yêu và trải nghiệm tình dục [55]. Điều đó có thể dẫn đến việc họ có những nguy cơ về vấn đề sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục (SKSS/SKTD) [41] như: mang thai sớm, phá thai không an toàn, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS… [24] Giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) đã được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường Trung học phổ thông (THPT) và các trường trung học chuyên nghiệp tuy nhiên các em vẫn còn khá hạn chế về những kiến thức SKSS, đặc biệt là SKSS VTN [18].

Những năm trở lại đây, các đề tài nghiên cứu xoay quanh kiến thức về SKSS ở VTN/TN với mong muốn tìm ra phương cách hiệu quả để chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho VTN hiện tại cũng như sự trưởng thành sau này của VTN. Nhưng hầu hết các nghiên cứu thường chỉ xoay quanh đối tượng học sinh THPT hay sinh viên ở các Trường Trung cấp, cao đẳng, đại học trong khi đó dậy thì sớm, tìm hiểu về SKSS, quan hệ tình dục (QHTD) ngày càng nhiều và được trẻ hóa như học sinh THCS. Mỗi năm, ước tính có khoảng hơn 300 nghìn trường hợp nạo phá thai (NPT) trong độ tuổi VTN tại Việt Nam [2]. Ở độ tuổi VTN thì việc tìm hiểu, tiếp cận thông tin về SKSS, SKTD ngày càng cao nếu không được cung cấp kiến thức đúng thì rất dể dẫn đến những quan niệm sai lầm, lệch lạc để lại những hậu quả nghiêm trọng như QHTD sớm, không an toàn, có thai ngoài ý muốn và dẫn đến hậu quả NPT [2].

Trường THCS Bình Thành là 1 trường thuộc địa bàn huyện Thanh Bình, trường được xây dựng từ năm 2004. Năm 2019, trường có tổng 28 lớp học ở cả 4 khối lớp (6, 7, 8 và 9) với 998 học sinh. Với tốc độ phát triển nhanh của xã hội, kèm 2 theo đó là việc VTN dậy thì sớm trong khi các em còn nhiều bỡ ngỡ, tìm hiểu sớm về SKSS/ SKTD dẫn đến QHTD sớm ở VTN đặc biệt trong độ tuổi từ 10-15. Từ thực trạng đó, Ban giám hiệu nhà trường đã thấy được việc cung cấp kiến thức đúng về SKSS cho các em là cấp thiết nhằm hạn chế những hậu quả không đáng tiếc như mắc các bệnh LTQĐTD, mang thai ngoài ý muốn hay nạo phá thai,… [28] Từ những vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh trường THCS Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2019”.

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh trường THCS Bình Thành trước khi nghiên cứu là như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh trường THCS Bình Thành năm 2019? Những đề xuất, khuyến nghị cần thiết, phù hợp về sức khỏe sinh sản cho học sinh trường THCS Bình Thành nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung sau khi thực hiện nghiên cứu?. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức và thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh trường Trung học cơ sở Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2019. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh trường trung học cơ sở Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2019.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Vị thành niên Theo tài liệu "Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản” của Việt nam, lứa tuổi vị thành niên (VTN) là từ 10-19 tuổi, và thường được chia ra làm 3 giai đoạn: VTN sớm (10-13 tuổi), VTN giữa (14-16 tuổi), và VTN muộn (17-19 tuổi) [5]. Tuổi VTN là giai đoạn phát triển đặc biệt – giai đoạn này xảy ra hàng loạt những thay đổi mạnh mẻ và nhanh chóng cả về thể chất, tâm sinh lý và các mối quan hệ xã hội [2].

VTN là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn, đặc điểm là sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, sự thay đổi về tâm lý, VTN có xu hướng muốn làm người lớn, không chịu sự ràng buộc từ gia đình. VTN bắt đầu muốn tạo lập nhân cách riêng của bản thân, họ cố gắng thực hiện những điều mình ước muốn và được đối xử như một người lớn thực thụ. Về mặc tình cảm, VTN bắt đầu quan tâm đến bạn khác giới [8], [27]. Sức khỏe sinh sản Theo WHO, sức khỏe sinh sản là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quy trình hệ thống SKSS.

SKSS vì thế ngụ ý rằng mọi người có thể có một cuộc sống tình dục an toàn và như ý muốn, họ có quyền tự do quyết định khi nào và bao lâu thì có thể sinh sản [52]. Giáo dục SKSS VTN Theo Bộ Y tế, giáo dục SKSS VTN là giáo dục về các vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục, bên cạnh đó cũng có các vấn đề khác như phát triển cơ thể, tâm lý, sinh lý, con người, tinh thần, quan hệ xã hội, … [5] Những nội dung thường được nhắc đến trong SKSS VTN như: giáo dục sinh lý thụ thai, sinh lý kinh nguyệt, các BPTT; các biểu hiện có thai; những nguy cơ có 5 thai ngoài ý muốn; giáo dục việc vệ sinh trong khi có kinh; giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh; giáo dục về BLTQĐTD, bao gồm HIV/AIDS [4]. Sức khỏe tình dục, tình dục an toàn Sức khỏe tình dục: là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội liên quan đến vấn đề tình dục. Nó đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực, tôn trọng tình dục và các mối quan hệ tình dục, đồng thời có những trải nghiệm tình dục một cách an toàn và vui vẻ, không sử dụng hành vi bạo lực để ép buộc tình dục hay phân biết đối xử [53].

Tình dục an toàn: là tình dục không dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và lây nhiễm các BLTQĐTD. Đó cũng là hình thức quan hệ tình dục không có sự tiếp xúc cơ thể với máu, chất dịch âm đạo với tinh dịch từ 2 người [4]. Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Là những bệnh chủ yếu được lây truyền do các ký sinh trùng gây ra, truyền từ người này sang người khác thông qua máu, tinh dịch, dịch âm đạo hoặc các chất dịch khác của cơ thể khi có quan hệ tình dục. Bệnh chủ yếu lây truyền từ 2 người khác giới [6].

Biện pháp tránh thai: Là các phương pháp được thực hiện lên cá nhân nhằm kiểm soát việc thu tinh đế tránh sự có thai ngoài ý muốn sau khi giao hợp. Có nhiều BPTT khác nhau, mỗi biện pháp có thể phù hợp với người này nhưng lại không thích hợp với người khác [4]. Một số phương pháp ngừa thai phù hợp cho VTN như kiêng giao hợp, sử dụng BCS, viên uống tránh thai, viên tránh thai khẩn cấp [3]. Phá thai: Là kết thúc thai nghén bằng cách loại bỏ hay lấy phôi hay thai nhi ra khỏi tử cung trước 22 tuần.

Phá thai thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng đặc biệt là ở tuổi VTN như vô sinh, băng huyết, sót nhau, thủng tử cung, nhiễm trung,. nguy hiểm hơn là dẫn đến tử vong [4]. Kiến thức, thái độ Kiến thức: thường bắt đầu bằng sự học hỏi, trao dồi, trải nghiệm. Nó cũng được hình thành từ sự trải nghiệm thực tế hay sự giáo dục đào tạo lý thuyết về một đối tượng, một vấn đề nào đó, có thể lý giải được [1].

6 Thái độ: thể hiện một phản ứng, lời nói, cử chỉ hành động của cá nhân đối với một người, sự vật hiện tượng nào đó. Thái độ mang tính chất tiêu cực hoặc tích cực qua những biểu hiện bên ngoài của người đưa ra thái độ [1]. Thực trạng sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều VTN đang gặp các vấn đề liên quan đến SKSS và các mối QHTD [17].

Những cuộc khảo sát trên đối tượng là hộ gia đình ở những đất nước đang phát triển (trừ Trung Quốc) cho thấy có 6% nam giới và 11% nữ giới trong độ tuổi từ 15-19 đã từng QHTD trước khi các em đủ 15 tuổi [20]. Nghiên cứu của Bonnie, Eocles và Jacquelynne ở miền bắc Uganda trên 827 học sinh từ 14-17 tuổi vào năm 2010 cho kết quả chỉ có 55% các em biết về dấu hiệu của tuổi dậy thì; 42,2% biết cách phòng các BLTQĐTD; học sinh có hiểu biết về biện pháp tránh thai và hậu quả của nạo phá thai lần lượt là 25% và 38,7% [36]. Tỷ lệ học sinh (9-12 tuổi) ở Ethiopia biết về BPTT ít nhất 1 biện pháp chiếm khá cao (82,8%), bao cao su (BCS) là BPTT chiếm chủ yếu 47,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh không hiểu về lợi ích của BCS, các bệnh LTQĐTD và mang thai ngoài ý muốn chiếm 21,7% [34].

Tại Mỹ, theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) về nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) và HIV của học sinh tại các trường trung học vào năm 2015 cho thấy học sinh đã từng qun hệ tình dục (QHTD) là 41%, có đến 43% ở lần QHTD cuối không dùng bao ca su, học sinh đã không dùng bất cứ biện pháp tránh thai khi QHTD là 14% và có đến 21% sử dụng đồ uống có cồn và chất kích thích trong lần QHTD cuối [38]. Quan hệ tình dục sớm khi chưa được cung cấp đầy đủ kiến thức về sức khỏe sinh sản sẽ dể dẫn đến có thai ở tuổi VTN, điều đó dẫn đến ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bà mẹ và trẻ sơ sinh dẫn đến nguyên nhân bà mẹ bị tử vong khi sinh con ở lứa tuổi VTN cao hơn các bà mẹ sinh con khi đã trưởng thành. Sinh con ở tuổi VTN dể dẫn đến việc mẹ dể bị thiếu máu, sẩy thai, chuyển dạ đình trệ, đẻ 7 non, tiền sản giật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Kiến thức và thái độ về sức khỏe sinh sản của học sinh THCS Bình Thành, Thanh Bình, Đồng Tháp 2019 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá mức độ hiểu biết và thái độ của học sinh cấp THCS về sức khỏe sinh sản. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản tại địa phương, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và hành vi tích cực trong lĩnh vực này. Đọc tài liệu này, bạn sẽ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng suy dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em. Ngoài ra, Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2017 cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về các vấn đề sức khỏe tâm lý và xã hội liên quan đến bệnh nhân HIV. Cuối cùng, Luận văn nghiên cứu vi nhựa trong hến nước ngọt ở sông Mekong tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp và nguy cơ rủi ro sức khỏe con người sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan, từ đó mở rộng kiến thức và hiểu biết của mình về sức khỏe cộng đồng và môi trường.