Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi lợn đóng vai trò trọng yếu trong việc cung cấp nguồn thực phẩm chính cho thị trường nội địa với mức tiêu thụ thịt lợn năm 2022 đạt 23,5 kg/người. Để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và kiểm soát an toàn sinh học, mô hình liên kết sản xuất chuỗi khép kín quy mô công nghiệp ngày càng mở rộng, điển hình là hệ thống gia công của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam hợp tác cùng các doanh nghiệp địa phương. Trong đó, trang trại của Công ty TNHH Minh Châu tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ vai trò là cơ sở chăn nuôi gia công giống cấp cụ kỵ (GGP) khu vực miền Bắc, duy trì trạng thái âm tính với dịch tả lợn châu Phi (ASF) và hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (tai xanh - PRRS).

Tuy nhiên, trong quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản công nghiệp với quy mô gần 1.200 nái đẻ, bệnh viêm tử cung (Metritis) là một trong những bệnh lý đường sinh dục phổ biến và phức tạp nhất. Bệnh trực tiếp gây tổn thương niêm mạc sinh dục, làm suy giảm sản lượng sữa nuôi con, kéo dài chu kỳ động dục trở lại, tăng tỷ lệ phối giống không đậu thai hoặc loại thải đàn, gây tổn thất lớn về kinh tế cho trại. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Thú y của tác giả Phan Tuấn Nguyên (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản và biện pháp phòng, trị bệnh tại Công ty TNHH Minh Châu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh".

Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể trong văn bản:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:
    • Thực hiện được các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn của trại.
    • Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ về bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại Công ty TNHH Minh Châu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng, trị bệnh.
  2. Nhiệm vụ và yêu cầu thực hiện:
    • Nắm vững các kiến thức cơ bản và chuyên môn cần thiết về chăn nuôi lợn.
    • Thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và các biện pháp an toàn sinh học, phòng bệnh cho lợn.
    • Chẩn đoán lâm sàng và điều trị một số ca bệnh phát sinh trên đàn lợn tại cơ sở thực tập.
    • Thu thập số liệu, theo dõi và phân tích dịch tễ học bệnh viêm tử cung trên đàn nái sinh sản tại trại, đề xuất biện pháp phòng trị thích hợp.
    • Chấp hành nghiêm túc quy chế thực tập và các nhiệm vụ phân công tại cơ sở.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản và hội chứng bệnh viêm tử cung tại Trại lợn nái 1 (trại nái cũ) thuộc Công ty TNHH Minh Châu. Đàn giống theo dõi bao gồm các giống thuần ngoại nhập khẩu: Landrace, Yorkshire và Duroc.
  • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn Công ty TNHH Minh Châu, tọa lạc trên diện tích 2,9 ha trong khuôn viên lâm nghiệp 150 ha tại khu vực mỏ than, phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực nghiệm và theo dõi sản xuất được triển khai trong thời gian 6 tháng, từ ngày 01/06/2022 đến ngày 30/11/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Văn bản khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các tài liệu chuyên ngành về sinh lý sinh sản, quy trình chăm sóc gia súc cái sinh sản và bệnh học thú y:

  • Cơ sở sinh lý và chăm sóc nuôi dưỡng: Áp dụng tài liệu của Trần Văn Phùng và cộng sự (2004) về quy trình dinh dưỡng theo giai đoạn chửa và nuôi con (nhu cầu 3.100 Kcal/ngày, protein 17%, Ca từ 0,6 - 1,2%, P từ 0,5 - 1,0%); tiêu chuẩn chu kỳ động dục bình quân 21 ngày (dao động 18 - 24 ngày) gồm 4 pha: trước động dục, động dục, sau động dục và thời kỳ yên tĩnh (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2006); tiêu chuẩn thể vóc phối giống hậu bị lần đầu ở 8,5 - 9 tháng tuổi với khối lượng 110 - 120 kg (Hà Xuân Bộ và Đỗ Đức Lực, 2020).
  • Bệnh học viêm tử cung (Metritis): Hệ thống hóa căn bệnh học gồm vi khuẩn (Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Streptococcus haemolyticus), nấm (Candida albicans) và đơn bào (Trichomonas foetus); phân định thể lâm sàng cấp tính (sốt 40 - 41°C, kém ăn, dịch mủ lẫn máu) và thể mạn tính (không sốt, dịch nhầy đục chảy từng đợt). Văn bản thiết lập tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng qua thời điểm và tính chất dịch viêm đường sinh dục:
Loại dịch viêm âm đạo Cơ quan nguồn gốc
Mủ vàng/trắng, đặc sệt Sừng tử cung, thân tử cung, cổ tử cung, âm đạo
Dịch lỏng, có mủ, màng nhầy, đổi màu nước tiểu Thận, bàng quang, âm đạo, âm hộ
Lẫn chất cặn trắng như phấn Cặn nước tiểu từ thận, bàng quang
Có máu tươi Xuất huyết trong cơ quan sinh dục

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật điều tra lâm sàng dịch tễ học thú y, thu thập số liệu sơ cấp trực tiếp từ hệ thống sổ sách ghi chép chuồng trại, thẻ theo dõi lợn nái (thẻ nái), nhật ký xuất nhập vật tư và phỏng vấn trực tiếp cán bộ kỹ thuật, công nhân trại.
  • Phương pháp theo dõi lâm sàng: Khảo sát liên tục trên 327 lợn nái đẻ. Tác giả lập phiếu theo dõi riêng cho từng cá thể: số hiệu tai, lứa đẻ, tổng thời gian đẻ (tính từ con đầu tiên đến con cuối cùng), số con đẻ ra, số con sống, mức độ can thiệp thủ thuật bằng tay khi đẻ khó, số ngày âm hộ còn chảy dịch viêm sau sinh, thân nhiệt và biến đổi lâm sàng của nái.
  • Phương pháp bố trí thử nghiệm phác đồ điều trị: Thiết kế thực nghiệm so sánh 2 phác đồ kháng sinh điều trị viêm tử cung trong thời gian 4 ngày:
    • Phác đồ I: Tiêm bắp Pendistrep LA (liều 1 ml/20 kg thể trọng, 2 ngày tiêm 1 lần) kết hợp tiêm mép âm môn Cp-cin 20 (2 ml/lần/ngày) và tiêm bắp Anazin-C (1 ml/15 kg thể trọng, 2 lần/ngày).
    • Phác đồ II: Tiêm bắp Hitamox LA (liều 1 ml/10 kg thể trọng, 2 ngày tiêm 1 lần) kết hợp tiêm mép âm môn Cp-cin 20 (2 ml/lần/ngày) và tiêm bắp Anazin-C (1 ml/2 lần/ngày).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu dịch tễ học và kết quả sản xuất được tính toán tỷ lệ phần trăm (%) và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của ngành chăn nuôi lợn công nghiệp tại Việt Nam trong bối cảnh tái đàn sau dịch bệnh và yêu cầu an toàn sinh học. Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH Minh Châu – đối tác chăn nuôi gia công lợn nái giống cấp GGP cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam tại Quảng Ninh. Tác giả phân tích tính chất phức tạp của hội chứng viêm tử cung trên đàn nái ngoại cao sản, từ đó xác định mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ chuyên môn và các yêu cầu kỹ thuật cần đạt được trong đợt thực tập tốt nghiệp kéo dài 6 tháng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hai nội dung trọng tâm:

  1. Điều kiện cơ sở thực tập: Mô tả điều kiện địa lý, hành chính và khí hậu tại phường Hà Khánh, TP. Hạ Long (nhiệt độ trung bình các tháng thử nghiệm từ 22 - 29°C, lượng mưa lớn tập trung từ tháng 6 đến tháng 9, cao nhất là tháng 8 với 260,2 mm). Cơ sở vật chất gồm 3 phân khu biệt lập: Trại nái 1 (cũ) quy mô 1.200 nái, Trại nái 2 (mới) quy mô 1.200 nái và Trại lợn hậu bị (quy mô 4.500 - 4.800 con). Hệ thống chuồng đẻ, chuồng chửa, chuồng úm lợn con, phòng pha chế tinh, kho bảo quản thuốc và vắc xin được cơ giới hóa đồng bộ. Đội ngũ nhân sự gồm 1 chủ trại, 1 quản lý kỹ thuật, 5 kỹ thuật viên C.P. Việt Nam, 1 kế toán, 41 công nhân và 4 sinh viên thực tập. Tác giả cũng chỉ rõ những thuận lợi về vị trí cách ly, chuyển giao kỹ thuật của tập đoàn C.P. và các khó khăn như thiếu hụt nguồn nước mặt vào mùa khô, giá cám biến động và tình trạng thiếu lao động.
  2. Cơ sở khoa học và tình hình nghiên cứu: Tổng hợp các quy chuẩn chăm sóc nái trước và sau đẻ; sinh lý chu kỳ động dục; các nguyên nhân truyền nhiễm và cơ giới dẫn tới viêm tử cung. Tổng quan các nghiên cứu trong nước (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004; Nguyễn Văn Thanh, 2003, 2015; Trần Ngọc Bích và cs., 2016; Nguyễn Công Toản và Nguyễn Văn Thanh, 2018) và nghiên cứu quốc tế (Kirkwood, 1999; Kemper, 2020), xác lập cơ sở so sánh cho các dữ liệu dịch tễ học tại trang trại.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả cụ thể hóa đối tượng là đàn lợn nái sinh sản tại Trại nái 1 từ tháng 6 đến tháng 11/2022. Nội dung tập trung vào hai mảng: phục vụ công tác sản xuất tại trại (chăm sóc nuôi dưỡng, công tác an sinh, tiêm phòng vắc xin, vệ sinh khử trùng) và thực hiện đề tài khoa học (khảo sát dịch tễ viêm tử cung theo tháng, lứa đẻ, thời gian đẻ, can thiệp đỡ đẻ, giai đoạn sinh sản và thử nghiệm phác đồ điều trị). Toàn bộ quy trình vệ sinh sát trùng (bằng thuốc CP-novacide tỷ lệ 1/100, vôi bột) và lịch phòng vắc xin chuẩn (Coglapest, Aftopor, PRRS, Begonia, Pavo) của C.P. Việt Nam được văn bản ghi chép chi tiết kèm bảng phác đồ thử nghiệm lâm sàng.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Nội dung chương trình bày toàn bộ số liệu thu thập trong 6 tháng:

  1. Kết quả phục vụ sản xuất:
    • Cơ cấu đàn lợn qua 3 năm (2020 - 2022): Năm 2020 tổng đàn là 13.424 con (920 nái); năm 2021 đạt đỉnh 16.455 con (978 nái, 15.324 lợn con); năm 2022 duy trì 11.436 con (919 nái, 10.340 lợn con) do biến động giá cả thức ăn và tái cơ cấu đàn.
    • Kết quả chăm sóc 327 nái đẻ: Đỡ đẻ 4.204 lợn con, nuôi sống đến cai sữa 3.905 con, tỷ lệ nuôi sống bình quân đạt 92,89%. Tỷ lệ nái đẻ bình thường đạt 91,13% (298 con), nái đẻ khó phải can thiệp chiếm 8,87% (29 con). Tỷ lệ đẻ khó cao nhất vào tháng 6 (13,21%) và tháng 7 (11,11%) do thời tiết nắng nóng cực đoan.
    • Công tác thú y dự phòng: Hoàn thành 100% chỉ tiêu với 180 lần vệ sinh chuồng trại hàng ngày, 180 lần phun sát trùng CP-novacide (1/100), 180 lần rắc vôi đường đi, 48 lần quét màng nhện; riêng công tác xịt gầm chuồng đạt 85/90 lần (94,44%) do ảnh hưởng của tình trạng thiếu nước. Thực hiện tiêm nhắc lại vắc xin Dịch tả lợn (Coglapest) và Lở mồm long móng (Aftopor) cho 54/54 nái nuôi con, đạt tỷ lệ bảo hộ 100%.
  2. Kết quả nghiên cứu đặc điểm dịch tễ viêm tử cung:
    • Tỷ lệ mắc bệnh chung: Có 43/327 nái mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 13,15%.
    • Biến động theo tháng: Tỷ lệ mắc cao nhất vào tháng 8 (22,64%) và tháng 7 (16,67%), sau đó giảm dần vào tháng 9 (14,81%), tháng 10 (9,09%) và thấp nhất vào tháng 11 (3,57%). Nguyên nhân được xác định do nhiệt độ cao, độ ẩm lớn gây stress nhiệt và thúc đẩy vi khuẩn phát triển.
    • Biến động theo lứa đẻ: Tỷ lệ mắc bệnh tạo thành đường cong hai đỉnh: cao nhất ở nhóm lứa ≥6 (22,95%) và nhóm lứa 1 (22,00%); các lứa từ 2 đến 5 có tỷ lệ mắc thấp hơn rõ rệt (lứa 2: 6,90%; lứa 3: 6,00%; lứa 4: 8,93%; lứa 5: 11,54%).
    • Tương quan với thời gian đẻ/lứa: Nái có thời gian đẻ kéo dài >4 giờ có tỷ lệ mắc viêm tử cung là 18,80% (25/133 con), cao gấp hơn 2 lần so với nhóm nái đẻ nhanh ≤4 giờ (9,27%, 18/194 con).
    • Tương quan với can thiệp thủ thuật: Nhóm nái đẻ khó phải can thiệp móc thai bằng tay có tỷ lệ viêm tử cung lên tới 44,83% (13/29 con), cao gấp 4,45 lần so với nhóm nái đẻ tự nhiên không can thiệp (10,07%, 30/298 con).
    • Biến động theo giai đoạn sinh sản: Bệnh tập trung chủ yếu ở giai đoạn sau đẻ với tỷ lệ 11,62% (38/327 con), trong khi giai đoạn sau phối chỉ chiếm 0,92% (3 con) và giai đoạn chờ phối chiếm 0,61% (2 con).
    • Điều trị: Đánh giá tác động lâm sàng của các phác đồ kháng sinh Pendistrep LA và Hitamox LA phối hợp thuốc hạ sốt, co bóp tử cung.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng kết toàn bộ các chỉ tiêu kỹ thuật sản xuất và dịch tễ học đã thực hiện; kiến nghị các biện pháp quản lý chuồng trại, loại thải nái già và kiểm soát quy trình đỡ đẻ tại Công ty TNHH Minh Châu.

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận đã lượng hóa chi tiết các chỉ số dịch tễ học lâm sàng về bệnh viêm tử cung trên đàn nái nuôi công nghiệp thông qua bảng số liệu tổng hợp:

Chỉ tiêu phân loại dịch tễ Phân nhóm theo dõi Số nái theo dõi (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%)
Tính chung toàn đàn Khảo sát 6 tháng 327 43 13,15
Theo tháng theo dõi Tháng 6/2022 55 7 12,73
Tháng 7/2022 54 9 16,67
Tháng 8/2022 53 12 22,64
Tháng 9/2022 54 8 14,81
Tháng 10/2022 55 5 9,09
Tháng 11/2022 56 2 3,57
Theo thứ tự lứa đẻ Lứa 1 50 11 22,00
Lứa 2 58 4 6,90
Lứa 3 50 3 6,00
Lứa 4 56 5 8,93
Lứa 5 52 6 11,54
Lứa ≥ 6 61 14 22,95
Theo thời gian đẻ/lứa Thời gian đẻ ≤ 4 giờ 194 18 9,27
Thời gian đẻ > 4 giờ 133 25 18,80
Theo can thiệp đỡ đẻ Không can thiệp (đẻ tự nhiên) 298 30 10,07
Có can thiệp bằng tay 29 13 44,83
Theo giai đoạn sinh sản Giai đoạn chờ phối 327 2 0,61
Giai đoạn sau phối 327 3 0,92
Giai đoạn sau đẻ 327 38 11,62

Đóng góp so sánh và nhận định khoa học của tác giả:

  • Tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung chung tại trại Minh Châu (13,15%) thấp hơn đáng kể so với các công bố trước đó của Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) tại các cơ sở chăn nuôi khác (42,40%) và Nguyễn Công Toản, Nguyễn Văn Thanh (2018) trên lợn nái ngoại (28,92%). Tác giả chứng minh nguyên nhân tỷ lệ mắc thấp tại cơ sở là nhờ tuân thủ quy trình an toàn sinh học của tập đoàn C.P.: tắm rửa vệ sinh âm hộ trước khi đẻ, sát trùng nghiêm ngặt dụng cụ đỡ đẻ, sử dụng oxytocin kích thích co bóp đẩy dịch tồn dư và tiêm kháng sinh phòng ngừa (Hitamox LA) cho nái sau khi sinh.
  • Nghiên cứu khẳng định yếu tố nguy cơ hàng đầu gây bệnh viêm tử cung là việc can thiệp cơ học thô bạo bằng tay (tỷ lệ mắc lên đến 44,83%) và thời gian đẻ kéo dài trên 4 giờ (tỷ lệ mắc 18,80%). Đồng thời, kết quả chỉ ra quy luật phân bố theo lứa: nái đẻ lứa đầu (xương chậu hẹp, mô sinh dục dễ tổn thương) và nái từ lứa thứ 6 trở đi (trương lực cơ tử cung suy giảm, sức đề kháng yếu, dễ sót nhau) là hai nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất.

Các đề xuất kỹ thuật của tác giả cho trại:

  • Quản lý cơ cấu đàn: Thực hiện kế hoạch loại thải đối với lợn nái đã khai thác từ lứa thứ 6 trở lên nhằm giảm thiểu rủi ro bệnh lý sinh sản và duy trì năng suất con giống.
  • Kỹ thuật đỡ đẻ: Hạn chế tối đa việc can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ móc thai thô bạo; bắt buộc phải sát khuẩn tay, sử dụng găng tay chuyên dụng và bôi trơn bằng vaseline khi phải xử lý các ca đẻ khó.
  • Quản lý vi khí hậu chuồng nuôi: Tăng cường hệ thống làm mát bằng giàn lạnh, cung cấp đủ nước uống và điện giải trong các tháng cao điểm nắng nóng (tháng 6 - 8) để giảm thiểu stress nhiệt cho nái mang thai và nái đẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Khung thời gian theo dõi thực địa chỉ kéo dài 6 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11/2022), bao gồm chủ yếu giai đoạn thời tiết mùa hè và thu chuyển mùa, chưa khảo sát được đặc điểm dịch tễ trong các tháng mùa đông - xuân có nhiệt độ thấp và độ ẩm cao kéo dài tại miền Bắc.
  • Phạm vi nghiên cứu mới tập trung thực hiện tại một đơn vị sản xuất duy nhất (Trại nái 1 của Công ty TNHH Minh Châu), chưa tiến hành so sánh đối chứng với các quy mô trang trại khác nhau hoặc các mô hình chăn nuôi nông hộ.
  • Công tác chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa trên quan sát triệu chứng lâm sàng và tính chất dịch tiết đường sinh dục; văn bản chưa ghi nhận các thử nghiệm vi sinh học chuyên sâu như phân lập, định danh chính xác loài vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ (antibiogram) trong phòng thí nghiệm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng theo dõi dịch tễ học xuyên suốt chu kỳ 12 tháng của năm để hoàn thiện bản đồ dịch tễ theo mùa tại khu vực ven biển Quảng Ninh.
  • Thực hiện lấy mẫu bệnh phẩm dịch viêm tử cung để nuôi cấy vi sinh vật, giải trình tự gen hoặc xác định phổ mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được, từ đó tối ưu hóa phác đồ điều trị đặc hiệu tại cơ sở.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu thực tiễn có giá trị chuyên môn đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Thú y và Chăn nuôi Thú y, cũng như cán bộ kỹ thuật đang trực tiếp quản lý các trang trại lợn công nghiệp quy mô lớn:

  • Về quy trình an toàn sinh học và thú y dự phòng: Văn bản cung cấp chi tiết lịch khử trùng chuồng trại hàng tuần (tần suất rắc vôi, phun sát trùng, xịt gầm chuồng) và lịch tiêm phòng vắc xin cụ thể cho đàn lợn con, hậu bị và nái sinh sản theo tiêu chuẩn công nghiệp của C.P. Việt Nam.
  • Về quản lý sinh sản: Số liệu thực tế trong khóa luận là căn cứ tham khảo trực tiếp cho các kỹ sư chăn nuôi trong việc đánh giá tương quan giữa thời gian ca đẻ, thao tác can thiệp thủ thuật đỡ đẻ với nguy cơ nhiễm trùng tử cung. Bảng phân loại tính chất và nguồn gốc dịch tiết âm đạo là tài liệu hữu ích cho công tác chẩn đoán phân biệt lâm sàng tại chuồng nuôi.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trung bình trên đàn lợn nái tại Công ty TNHH Minh Châu là bao nhiêu và biến động thế nào giữa các tháng? Trong 6 tháng theo dõi trên 327 lợn nái, có 43 con mắc bệnh viêm tử cung, chiếm tỷ lệ trung bình là 13,15%. Tỷ lệ mắc bệnh phân bố không đều giữa các tháng: cao nhất vào tháng 8 (22,64%) và tháng 7 (16,67%); duy trì ở mức trung bình trong tháng 9 (14,81%) và tháng 6 (12,73%); giảm mạnh vào các tháng thời tiết mát mẻ như tháng 10 (9,09%) và đạt mức thấp nhất vào tháng 11 (3,57%).

2. Lứa đẻ của lợn nái ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung? Tỷ lệ mắc bệnh có sự chênh lệch rõ rệt theo lứa đẻ và tập trung cao nhất ở hai nhóm: nhóm lứa 1 (22,00%) và nhóm lứa ≥6 (22,95%). Trong khi đó, nhóm nái ở các lứa đẻ từ lứa 2 đến lứa 5 có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn nhiều, dao động từ 6,00% (lứa 3) đến 11,54% (lứa 5), trung bình chỉ đạt 8,34%.

3. Việc can thiệp bằng tay trong quá trình đỡ đẻ làm gia tăng nguy cơ viêm tử cung ở mức độ nào so với đẻ tự nhiên? Kết quả theo dõi cho thấy sự chênh lệch rất lớn: nhóm lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng tay có tỷ lệ mắc viêm tử cung lên tới 44,83% (13/29 con), trong khi nhóm nái đẻ tự nhiên không phải can thiệp thủ thuật chỉ có tỷ lệ mắc là 10,07% (30/298 con). Can thiệp bằng tay làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên gấp hơn 4,4 lần.

4. Thời gian một ca đẻ kéo dài trên 4 giờ tác động ra sao đến tỷ lệ viêm tử cung ở đàn nái? Những lợn nái có thời gian đẻ kéo dài trên 4 giờ có tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung là 18,80% (25/133 con), cao hơn gấp 2 lần so với nhóm lợn nái hoàn thành ca đẻ trong thời gian từ 4 giờ trở xuống với tỷ lệ mắc chỉ 9,27% (18/194 con).

5. Lịch tiêm phòng vắc xin nhắc lại cho đàn lợn nái nuôi con tại trại được thực hiện với những bệnh nào và kết quả ra sao? Tại trại, lợn nái nuôi con được tiêm phòng định kỳ 2 loại vắc xin: vắc xin phòng bệnh Dịch tả lợn (Coglapest, liều 2 ml/con) và vắc xin phòng bệnh Lở mồm long móng (Aftopor, liều 2 ml/con). Trong đợt thực tập, tác giả đã tham gia tiêm phòng cho 54/54 nái nuôi con, đạt tỷ lệ an toàn và hoàn thành 100% chỉ tiêu được giao.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phan Tuấn Nguyên đã phản ánh toàn diện công tác quản lý chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của bệnh viêm tử cung trên quy mô 327 nái sinh sản tại Công ty TNHH Minh Châu. Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ mắc bệnh chung là 13,15%, đồng thời chỉ rõ sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh có mối liên hệ mật thiết với yếu tố thời tiết nắng nóng (tháng 7 - 8), lứa đẻ cực đoan (lứa đầu và lứa trên 5), thời gian đẻ kéo dài trên 4 giờ và việc can thiệp đỡ đẻ bằng tay thô bạo. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chuẩn xác, đóng góp các căn cứ thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện quy trình chăm sóc, vệ sinh phòng dịch và nâng cao năng suất sinh sản đàn lợn nái giống cấp cụ kỵ tại các cơ sở chăn nuôi công nghiệp.