Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăn nuôi gia cầm giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, đáp ứng nhanh nhu cầu thực phẩm tiêu dùng. Tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, với lợi thế diện tích đất đồi rộng lớn, ngành chăn nuôi gà đã hình thành vùng sản xuất quy mô lớn. Tuy nhiên, phần lớn các hộ gia đình vẫn duy trì phương thức chăn nuôi bán công nghiệp hoặc thả vườn với chuồng trại đơn giản; công tác vệ sinh thú y chưa được quan tâm đúng mức, khiến dịch bệnh thường xuyên phát sinh.

Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh do ký sinh trùng đường máu, đặc biệt là đơn bào Leucocytozoon, gây ra thiệt hại kinh tế nghiêm trọng. Khí hậu nóng ẩm nhiệt đới tạo điều kiện cho véc tơ truyền bệnh (các loài dĩn hút máu) sinh sôi phát triển quanh năm. Khi xâm nhập vào cơ thể gà, đơn bào Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu và các cơ quan nội tạng, tiết ra chất kháng hồng cầu (anti-erythrocyte) làm tan vỡ hồng cầu hàng loạt, gây xuất huyết nội quan, bần huyết cấp tính, tiêu chảy phân xanh lá cây và có thể dẫn đến tỷ lệ tử vong từ 30% đến 50%. Tại Yên Thế, công tác phòng trị bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà chưa được chú trọng và thiếu các căn cứ khoa học cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm hai nhiệm vụ:

  1. Xác định được các loài Leucocytozoon gây bệnh cho gà và đặc điểm dịch tễ bệnh do Leucocytozoon gây ra ở đàn gà của một số địa phương thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
  2. Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon có hiệu quả cho gà.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà nuôi tại các nông hộ, trang trại và bệnh đơn bào đường máu do Leucocytozoon gây ra.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát dịch tễ và lấy mẫu thực địa tại 4 xã thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (Đồng Hưu, Hương Vỹ, Đồng Kỳ, Hồng Kỳ). Xét nghiệm mẫu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở phân loại học, giống Leucocytozoon thuộc ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Haemosporidia, họ Leucocytozoidae. Bốn loài chính được ghi nhận gây bệnh ở gia cầm và thủy cầm gồm L. caulleryi, L. sabrazeis, L. simondi, và L. smithi. Vòng đời sinh học của Leucocytozoon xen kẽ giữa hai giai đoạn: sinh sản vô tính trong cơ thể vật chủ gia cầm (liệt phân tại tế bào nội mô gan, lách, phổi, thận tạo merozoite và phát triển trong hồng cầu tạo gametocyte) và sinh sản hữu tính trong cơ thể ký chủ trung gian là các loài dĩn hút máu thuộc giống Culicoides và Simulium (tạo oocyst ở vách dạ dày và giải phóng sporozoite lên tuyến nước bọt sau 18 đến 25 ngày).

Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học thú y, ký sinh trùng học và thử nghiệm dược lý lâm sàng:

  • Phương pháp điều tra xã hội học thú y: Khảo sát trực tiếp bằng phiếu câu hỏi và quan sát thực địa tại 96 hộ chăn nuôi gà (24 hộ/xã tại 4 xã nghiên cứu) nhằm đánh giá thực trạng vệ sinh chuồng trại, phát quang bụi rậm, phun thuốc diệt véc tơ và sử dụng thuốc phòng bệnh.
  • Phương pháp lấy mẫu và xét nghiệm ký sinh trùng học: Thu thập tổng cộng 480 mẫu máu ngẫu nhiên phân tầng từ tĩnh mạch cánh của gà tại 4 xã. Máu được bảo quản chống đông bằng dung dịch EDTA 1%, làm 3 tiêu bản máu dàn mỏng trên phiến kính/gà, cố định bằng cồn methanol. Nhuộm tiêu bản bằng dung dịch Giemsa (tỷ lệ 1 phần Giemsa cơ bản : 9 phần nước cất pH = 7,2) trong 45-50 phút. Kiểm tra tiêu bản dưới kính hiển vi quang học với vật kính dầu (độ phóng đại 10x90 hoặc 10x100) có nhỏ dầu bạch dương.
  • Tiêu chuẩn xác định cường độ nhiễm (dựa trên tỷ lệ % hồng cầu bị đơn bào ký sinh):
    • Nhiễm nhẹ (+): Tỷ lệ hồng cầu nhiễm $\le 5%$.
    • Nhiễm trung bình (++): Tỷ lệ hồng cầu nhiễm $> 5% - 10%$.
    • Nhiễm nặng (+++): Tỷ lệ hồng cầu nhiễm $> 10%$.
  • Phương pháp thu thập và định loại côn trùng véc tơ: Bắt dĩn bằng vợt túi nilon trong suốt (thu thập 20 mẫu/xã, tổng cộng 80 mẫu), làm chết tự nhiên dưới ánh nắng trong 10 phút. Định loại theo khóa phân loại của Gosevic A. (2004) tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương; phân loại đơn bào theo khóa định loại của Levine N.
  • Phương pháp thử nghiệm phác đồ điều trị: Thiết kế thử nghiệm đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị trên gà bệnh trong phòng thí nghiệm (5 con/lô, 3 lô) và trên thực địa (40 con/lô, 3 lô) với liệu trình 16 ngày:
    • Phác đồ 1 (Lô 1): Daimentol Soda (Sulfamonomethoxine Sodium 100%, liều 1 - 2 g/lít nước) phối hợp Biomunliquid (chứa dịch chiết nấm men Saccharomyces cerevisiae 10%, Lactic acid 2%, Formic acid 5%, Citric acid 3%, liều 0,5 - 1 ml/lít nước).
    • Phác đồ 2 (Lô 2): Sutrim - NT (Madribon 50 g + Ormethoprim 30 g, liều 1 g/lít nước) phối hợp Biomunliquid (0,5 - 1 ml/lít nước).
    • Phác đồ 3 (Lô 3): Tricory-sul / T-coryzin (Sulfamonomethoxine 99%, liều 1,5 - 2 g/lít nước) phối hợp Biomunliquid (0,5 - 1 ml/lít nước).
  • Đánh giá hiệu lực thông qua xét nghiệm tiêu bản máu nhuộm Giemsa sau 16 ngày điều trị; đánh giá độ an toàn qua các chỉ tiêu ăn uống, vận động, màu sắc mào yếm và phản ứng lâm sàng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi gà đồi tại huyện Yên Thế phát triển mạnh nhưng nguy cơ dịch bệnh ký sinh trùng đường máu chưa được kiểm soát. Xác định rõ 2 mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, địa bàn khảo sát, cùng ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dẫn liệu dịch tễ học và ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả cho người chăn nuôi.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học về đơn bào Leucocytozoon: vị trí phân loại, đặc điểm hình thái các thể phát triển (sporozoite, merozoite, schizont, gametocyte, megaloschizont), chu kỳ sinh học trong cơ thể gia cầm và dĩn véc tơ. Phân tích cơ chế sinh bệnh học, triệu chứng lâm sàng ở các thể quá cấp, cấp tính, á cấp tính và mạn tính; bệnh tích đại thể ở gan, lách, thận, tim, phổi, buồng trứng, não. Tổng kết các phương pháp chẩn đoán phân biệt với bệnh Tụ huyết trùng, Marek, Leucosis, Sốt rét gà; nguyên lý phòng trị bằng nhóm thuốc Sulfonamide (Sulfadimethoxine, Sulfamonomethoxine, Sulfaquinoxaline, Pyrimethamine, Clopidol). Điểm luận chi tiết các công trình nghiên cứu dịch tễ trong nước (Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Văn Năm, Lâm Thị Thu Hương, Lê Đức Quyết, Nguyễn Hữu Hưng) và quốc tế (Fallis, Desser, Saif, Hellgren, Morii).

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu. Trình bày quy cách thiết kế mẫu khảo sát dịch tễ theo địa phương (4 xã x 120 mẫu = 480 mẫu), theo tháng (tháng 6 đến tháng 10), theo lứa tuổi ($\le 2$ tháng, $>2-4$ tháng, $>4-6$ tháng, $>6$ tháng), theo phương thức chăn nuôi (công nghiệp 180 mẫu, bán công nghiệp 150 mẫu, truyền thống 150 mẫu), và theo điều kiện vệ sinh thú y (tốt, trung bình, kém). Chi tiết hóa quy trình pha chế Giemsa, thao tác làm tiêu bản máu mỏng, tiêu chuẩn đánh giá cường độ nhiễm, phương pháp thu bắt và định loại dĩn, cùng sơ đồ bố trí thử nghiệm lâm sàng 3 phác đồ điều trị quy mô phòng thí nghiệm và diện rộng ngoài thực địa.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Trình bày các số liệu thực nghiệm thu thập được:

  • Đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp phòng bệnh tại 4 xã: tỷ lệ chuồng trại hợp vệ sinh dao động từ 25,00% đến 45,83%; tỷ lệ phát quang bụi rậm đạt 37,50% - 54,17%; tỷ lệ phun thuốc diệt dĩn rất thấp (4,17% - 12,50%); hoàn toàn không có hộ nào (0%) sử dụng thuốc phòng bệnh cho đàn gà.
  • Phân tích tỷ lệ nhiễm chung đạt 28,12% (135/480 mẫu), trong đó nhiễm nhẹ chiếm ưu thế (60,74%), trung bình chiếm 25,93%, nặng chiếm 13,33%. Tỷ lệ nhiễm cao nhất tại xã Hồng Kỳ (33,33%) và thấp nhất tại Đồng Hưu (25,00%).
  • Phân tích động thái nhiễm theo mùa: Tỷ lệ nhiễm cao nhất vào tháng 6 (39,00%) và tháng 7 (36,00%), sau đó giảm dần vào tháng 8 (27,00%), tháng 9 (20,00%) và thấp nhất vào tháng 10 (16,25%).
  • Phân tích mức độ nhiễm theo tuổi: Tỷ lệ nhiễm tăng lũy tiến theo tuổi gà, từ 17,00% ở nhóm $\le 2$ tháng tuổi lên 26,00% ở nhóm $>2-4$ tháng, 30,67% ở nhóm $>4-6$ tháng và đạt cao nhất ở nhóm $>6$ tháng tuổi (41,25%).
  • Đánh giá hoạt động của dĩn truyền bệnh và kết quả thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bằng Sulfamonomethoxine Sodium, Madribon kết hợp Ormethoprim và Sulfamonomethoxine 99% phối hợp Biomunliquid.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Đúc kết các chỉ số dịch tễ học then chốt của bệnh đơn bào Leucocytozoon tại địa bàn nghiên cứu, đưa ra kết luận về hiệu lực, độ an toàn của các phác đồ điều trị thử nghiệm và khuyến nghị các biện pháp vệ sinh phòng trừ véc tơ truyền bệnh cho các vùng chăn nuôi gà trọng điểm.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học thực nghiệm toàn diện về bệnh do Leucocytozoon gây ra trên đàn gà tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Biện pháp phòng chống Xã Đồng Hưu (%) Xã Hương Vỹ (%) Xã Đồng Kỳ (%) Xã Hồng Kỳ (%)
Chuồng gà xây dựng hợp VSTY 45,83 37,50 33,33 25,00
Vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh 54,17 41,67 37,50 29,17
Phát quang bụi rậm xung quanh 54,17 45,83 41,67 37,50
Phun thuốc diệt dĩn 12,50 12,50 4,17 4,17
Sử dụng thuốc phòng bệnh Leucocytozoon 0,00 0,00 0,00 0,00

Bảng 1: Thực trạng áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh Leucocytozoon tại các hộ điều tra (n = 24 hộ/xã)

Yếu tố khảo sát Phân loại / Chỉ số Số mẫu kiểm tra (n) Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%) Nhiễm nhẹ $\le 5%$ (%) Nhiễm TB $>5-10%$ (%) Nhiễm nặng $>10%$ (%)
Địa phương Đồng Hưu 120 30 25,00 60,00 30,00 10,00
Hương Vỹ 120 31 25,83 54,83 29,03 16,13
Đồng Kỳ 120 34 28,33 64,70 26,47 8,83
Hồng Kỳ 120 40 33,33 62,50 20,00 17,50
Tháng nghiên cứu Tháng 6 100 39 39,00 56,41 25,64 17,95
Tháng 7 100 36 36,00 58,33 22,22 19,45
Tháng 8 100 27 27,00 62,96 25,92 11,12
Tháng 9 100 20 20,00 65,00 30,00 5,00
Tháng 10 80 13 16,25 69,23 30,77 0,00
Lứa tuổi gà $\le 2$ tháng tuổi 100 17 17,00 58,82 35,30 5,88
$>2 - 4$ tháng tuổi 150 39 26,00 58,97 25,64 15,39
$>4 - 6$ tháng tuổi 150 46 30,67 60,67 28,26 10,87
$> 6$ tháng tuổi 80 33 41,25 63,63 18,18 18,18
Tính chung Toàn bộ mẫu 480 135 28,12 60,74 25,93 13,33

Bảng 2: Tổng hợp tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương, tháng và lứa tuổi

Kết quả và các giải pháp tác giả đề xuất:

  • Khẳng định sự lưu hành phổ biến của đơn bào Leucocytozoon trên đàn gà tại huyện Yên Thế với tỷ lệ nhiễm trung bình 28,12%.
  • Chỉ rõ mối liên hệ giữa điều kiện sinh thái trung du, công tác vệ sinh thú y và hoạt động của côn trùng hút máu với tỷ lệ nhiễm bệnh. Các xã có tỷ lệ áp dụng vệ sinh thấp (Hồng Kỳ, Đồng Kỳ) có tỷ lệ nhiễm cao hơn rõ rệt so với xã thực hiện tốt hơn (Đồng Hưu, Hương Vỹ).
  • Xác định quy luật biến động bệnh: Bệnh tăng cao vào các tháng mùa hè có khí hậu ấm áp (tháng 6, 7), trùng khớp với chu kỳ hoạt động mạnh của véc tơ dĩn; tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm nặng tăng dần theo lứa tuổi do thời gian tiếp xúc với mầm bệnh kéo dài.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật: Vệ sinh tiêu độc chuồng trại định kỳ, phát quang cây cỏ xung quanh chuồng 10-15 m, khơi thông cống rãnh tránh nước đọng, định kỳ phun thuốc diệt dĩn (Hantox-spray hoặc dung dịch Iodin 1% chu kỳ 2-3 tuần/lần, nhất là vào mùa hè thu), và áp dụng các phác đồ đặc hiệu chứa Sulfamonomethoxine hoặc Madribon + Ormethoprim kết hợp Biomunliquid để nâng cao sức đề kháng và điều trị dứt điểm mầm bệnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thời gian thu thập mẫu máu và theo dõi thực địa chỉ tập trung trong 6 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2013), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ 12 tháng trong năm, đặc biệt là giai đoạn chuyển mùa Đông - Xuân (tháng 1 đến tháng 5) khi dịch bệnh thường bắt đầu bùng phát theo các y văn ghi nhận.
  • Phạm vi nghiên cứu mới giới hạn tại 4 xã thuộc huyện Yên Thế, chưa mở rộng so sánh với các vùng chăn nuôi gà đồi lân cận trong tỉnh Bắc Giang.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Triển khai giám sát dịch tễ học quanh năm để lập bản đồ dịch tễ chi tiết và dự báo thời điểm bùng phát bệnh chính xác hơn.
  • Mở rộng nghiên cứu phân lập, giám định phân tử (bằng kỹ thuật PCR) các loài Leucocytozoon và các loài dĩn véc tơ truyền bệnh trên diện rộng tại các vùng sinh thái đồi núi khác nhau.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi Thú y, Ký sinh trùng học thú y khi thực hiện các nghiên cứu về ký sinh trùng đường máu ở gia cầm.
  • Cán bộ trạm thú y cấp huyện, nhân viên thú y cơ sở và người chăn nuôi gia cầm tại các vùng trung du, đồi núi trong việc nhận biết dịch tễ học và chẩn đoán phân biệt bệnh do Leucocytozoon với các bệnh truyền nhiễm khác (như Tụ huyết trùng, Marek, Leucosis).
  • Phần đáng tham khảo nhất bao gồm quy trình chuẩn bị hóa chất và kỹ thuật nhuộm Giemsa kiểm tra tiêu bản máu tìm đơn bào ký sinh; phương pháp thu bắt, bảo quản và định loại dĩn; cùng các dữ liệu thực nghiệm về công thức phối hợp thuốc kháng sinh nhóm Sulfonamide với các axit hữu cơ/chế phẩm men vi sinh (Biomunliquid) trong điều trị bệnh.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng tiêu chí nào để phân cấp cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà?
Cường độ nhiễm được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số hồng cầu bị đơn bào ký sinh quan sát được trên tiêu bản máu nhuộm Giemsa dưới kính hiển vi quang học vật kính dầu, phân chia thành 3 mức: Nhiễm nhẹ (+) khi tỷ lệ hồng cầu nhiễm $\le 5%$; Nhiễm trung bình (++) khi tỷ lệ hồng cầu nhiễm từ $> 5%$ đến $10%$; Nhiễm nặng (+++) khi tỷ lệ hồng cầu nhiễm $> 10%$.

Thực trạng công tác phòng bệnh Leucocytozoon của các hộ chăn nuôi tại 4 xã huyện Yên Thế ra sao?
Khảo sát tại 96 hộ chăn nuôi (24 hộ/xã) cho thấy nhận thức và thực hành phòng bệnh còn rất thấp. Tỷ lệ chuồng gà xây dựng hợp vệ sinh thú y chỉ đạt từ 25,00% (Hồng Kỳ) đến 45,83% (Đồng Hưu); tỷ lệ phát quang bụi rậm đạt 37,50% - 54,17%; tỷ lệ phun thuốc diệt dĩn truyền bệnh chỉ đạt từ 4,17% đến 12,50%; và đặc biệt 100% số hộ ở cả 4 xã đều hoàn toàn không sử dụng bất kỳ loại thuốc nào để phòng bệnh Leucocytozoon cho đàn gà.

Tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà biến động như thế nào qua các tháng khảo sát?
Tỷ lệ nhiễm đơn bào biến động rõ rệt theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm qua các tháng: Tỷ lệ nhiễm đạt đỉnh cao nhất vào tháng 6 (39,00%) và tháng 7 (36,00%), sau đó giảm xuống 27,00% trong tháng 8, tiếp tục giảm còn 20,00% trong tháng 9, và đạt mức thấp nhất là 16,25% vào tháng 10. Ở tháng 10, cường độ nhiễm cũng nhẹ nhất và không ghi nhận trường hợp nào nhiễm ở mức độ nặng.

Mối liên hệ giữa lứa tuổi của gà với tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon được ghi nhận như thế nào?
Tỷ lệ nhiễm tăng lũy tiến thuận theo lứa tuổi của gà: Gà $\le 2$ tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 17,00% (tỷ lệ nhiễm nặng 5,88%); gà $>2-4$ tháng tuổi nhiễm 26,00% (nhiễm nặng 15,39%); gà $>4-6$ tháng tuổi nhiễm 30,67% (nhiễm nặng 10,87%); và gà $>6$ tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 41,25% (tỷ lệ nhiễm nặng đạt 18,18%). Nguyên nhân do gà lớn tuổi có thời gian tiếp xúc ngoài môi trường và tiếp xúc với véc tơ dĩn hút máu nhiều hơn.

Các phác đồ điều trị được tác giả bố trí thử nghiệm gồm những loại thuốc và liều lượng nào?
Tác giả thử nghiệm 3 phác đồ điều trị kéo dài trong 16 ngày: Phác đồ 1 sử dụng Daimentol Soda (Sulfamonomethoxine Sodium 100%, liều 1 - 2 g/lít nước) phối hợp Biomunliquid (0,5 - 1 ml/lít nước); Phác đồ 2 sử dụng Sutrim - NT (Madribon 50 g + Ormethoprim 30 g, liều 1 g/lít nước) phối hợp Biomunliquid (0,5 - 1 ml/lít nước); Phác đồ 3 sử dụng Tricory-sul / T-coryzin (Sulfamonomethoxine 99%, liều 1,5 - 2 g/lít nước) phối hợp Biomunliquid (0,5 - 1 ml/lít nước).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Hoàng Văn Lâm đã xác định rõ đặc điểm dịch tễ của bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon trên đàn gà tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang với tỷ lệ nhiễm chung là 28,12%. Nghiên cứu đã chứng minh sự biến động của tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện vệ sinh thú y cơ sở, mùa vụ thời tiết và lứa tuổi của vật chủ cảm thụ. Các dẫn liệu thực nghiệm về chẩn đoán tiêu bản máu Giemsa và thử nghiệm các phác đồ điều trị dựa trên nhóm Sulfonamide phối hợp Biomunliquid cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích cho công tác kiểm soát dịch bệnh ký sinh trùng đường máu gia cầm tại địa phương.