Đặt vấn đề Trong sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi ngày càng có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng. Ngành chăn nuôi hàng năm cung cấp cho nhu cầu của con người sản lượng lớn thực phẩm như thịt, trứng, sữa. Gia cầm là vật nuôi đặc biệt quan trọng trong cơ cấu ngành chăn nuôi. Đây không chỉ là loài vật nuôi truyền thống, gắn bó với người dân từ bao đời nay, phù hợp với hình thức chăn nuôi và tập quán sinh hoạt của người nông dân Việt Nam, mà đây còn là vật nuôi cung cấp phần lớn lượng thực phẩm cho toàn xã hội, trong đó, chăn nuôi gà giữ vai trò cốt lõi và quan trọng nhất.
Nguồn protein từ chăn nuôi gà mang lại là nguồn protein quan trọng và chủ yếu trong khẩu phần ăn của người Việt Nam. Ngày nay, chất lượng cuộc sống đã được nâng cao, con người không chỉ đòi hỏi nguồn thực phẩm dinh dưỡng cao mà còn phải an toàn và cân đối. Lĩnh vực chăn nuôi gà nói riêng cũng đang phát triển theo xu hướng thực phẩm sạch, an toàn, cân đối và giàu dinh dưỡng. Để có thể có được nguồn thực phẩm sạch và an toàn thì vấn đề phòng trừ và kiểm soát dịch bệnh trong chăn nuôi gà là vấn đề then chốt.
Bệnh cầu trùng gà là một bệnh phổ biến khắp nơi trên thế giới. Bệnh cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên. Đặc điểm quan trọng của cầu trùng gà là vòng đời rất ngắn (5 - 7 ngày), không cần ký chủ trung gian. Bệnh cầu trùng gây tác hại lớn cho chăn nuôi gà, nhất là chăn nuôi với mật độ cao.
Tỷ lệ chết cao từ 50 - 70% số gà mắc bệnh. Bệnh thường gây tác hại lớn nhất đối với gà con từ 1 tuần đến 3 tháng tuổi. Gà con sau khi khỏi bệnh rất khó hồi phục sức khỏe, chậm lớn. Gà trưởng thành phần lớn mắc bệnh ở thể mãn tính hoặc là vật mang cầu trùng, làm giảm sản lượng thịt và trứng (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [10]).
Do vậy, để hiểu rõ phần nào tình hình nhiễm cầu trùng gà tại thành phố Yên Bái tỉnh Yên Bái và đưa ra biện pháp điều trị, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng ở gà nuôi tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái và dùng thuốc điều trị”. Mục đích nghiên cứu - Xác định thành phần loài cầu trùng ký sinh trên gà nuôi tại TP. - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng. - Nghiên cứu triệu chứng và bệnh tích bệnh cầu trùng ở gà và đề xuất biện pháp điều trị bệnh cầu trùng cho gà.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định được thành phần loài cầu trùng gà ký sinh trên đàn gà nuôi tại TP. Yên Bái; các yếu tố dịch tễ liên quan đến tình hình nhiễm cầu trùng ở gà; xác định được những biểu hiện và bệnh tích chủ yếu của gà bị bệnh; xác định được thuốc điều trị bệnh cầu trùng đạt hiệu quả cao. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về các loài cầu trùng ký sinh ở gà, đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích bệnh cầu trùng gà và biện pháp điều trị bệnh đạt hiệu quả cao.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng biện pháp điều trị bệnh cầu trùng, nhằm giảm tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà, hạn chế thiệt hại do cầu trùng gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cầu trùng ký sinh ở gà 2. Thành phần loài cầu trùng ở gà Cầu trùng là động vật đơn bào có hình thái đa dạng, phụ thuộc vào từng loài cầu trùng mà có hình thái khác nhau như hình hơi tròn, hình trứng, hình bầu dục….
Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô ruột của gà. Dựa vào đặc điểm về hình thái, kích thước, màu sắc, vị trí ký sinh, thời gian sinh bào tử. Đặc điểm hình thái, kích thước các loài cầu trùng Bệnh do các nguyên trùng thuộc bộ cầu trùng Coccidia, lớp bào tử trùng gây nên. Ở gà chủ yếu là giống Eimeria, thuộc bộ Eimerioria, họ Eimeriidae.
Trên thế giới đã được biết trên 10 loài cầu trùng, trong đó có 9 loài được xác định, đó là: E. tenella (Raillet và Lucet (1891) [39]) có hình bầu dục, kích thước 14,2 - 31,2 x 9,5 - 24,8 µm, ký sinh ở manh tràng của gà, độc lực cao nhất gây bệnh cho gà từ 1 tháng tuổi. Các noãn nang hình trứng, vỏ bọc màu xám trắng hoặc xanh nhạt, không có lỗ sinh dục. Tại một cực của noãn nang có nhân phân cực, có Oocyst có hạt cực, không có lỗ noãn.
Quá trình tạo bào tử nang kéo dài 24 - 48 giờ. maxima (Tyzzer (1929) [40]): hình bầu dục, kích thước nang trứng từ 21,8 - 42,5 x 16,5 - 29,8 µm, có độc lực gây bệnh, ký sinh ở ruột non, gây dầy thành ruột và dãn ruột. Noãn nang hình trứng, vỏ bọc xù xì màu vàng nhạt, tại đầu nhỏ của noãn nang có lỗ noãn và hạt cực. Quá trình sinh bào tử kéo dài 30 - 48 giờ.
Trong cơ thể chúng ký sinh không những ở các tế bào biểu bì bề mặt niêm mạc mà còn trong các lớp sâu Mucose thuộc đoạn tá tràng và dưới tá tràng. acervulina (Tyzzer (1929) [40]): có độc lực yếu, noãn nang có hình trứng không màu, vỏ bọc nhẵn, kích thước 17 - 20 x 13 - 16 µm. Khối nguyên sinh chất trong cầu trùng chưa hình thành bào tử có dạng hạt ở đầu hẹp, có một hay nhiều cực. Thể cặn không có trong bào tử lẫn trong nang trứng.
Chúng ký sinh ở phần tá tràng của cơ thể, sinh bào tử tốt nhất ở 28 – 380C và kéo dài khoảng 13 - 20 giờ. Loài này ký sinh ở đầu ruột non của gà. Ruột non dầy và viêm cata, ít xuất huyết. Oocyst nằm trong ruột tạo nên những điểm màu trắng hay màu xám hoặc lan rộng ở mặt ruột non.
mitis (Tyzzer (1929) [40]): hình cầu, có độc lực yếu, nang trứng hình tròn hoặc gần tròn, không màu, khối nguyên sinh chất đều đặn, nang trứng có hạt cực, kích thước nang trứng 10 - 19 x 10 - 17 µm. Chúng ký sinh ở phần đầu của ruột non, thành thục trong 48 giờ, thời kỳ nung bệnh ở gà là 4 ngày. mitis gây bệnh nhẹ. necatrix (Johnson (1930) [37], loài này có độc lực cao song mức phổ biến và khả năng gây bệnh thấp hơn loài E.
Nang trứng không màu hình tròn hay hình bầu dục, không có lỗ noãn, có hạt cực, độ lớn của nang trứng 13 - 30 x 11,3 - 18,3 µm. Thời gian sinh bào tử từ 21 - 24 giờ, giai đoạn phát triển nội sinh ở giữa ruột non, ký sinh vào cả manh tràng. Khi gia cầm ăn phải Oocyst gây nhiễm, Sporozoite xâm nhập vào tế bào biểu mô ruột non xuyên qua biểu mô tới trung tâm của lông nhung di chuyển tới màng cơ do các đại thực bào chuyển vận chúng. Các đại thực bào xâm nhập tế bào, sau đó giải phóng Sporozoite, Merozoite tròn dần lại và bắt đầu sinh sản vô tính.
Thời kỳ nung bệnh là 6 - 7 ngày. Tổn thương thường thấy ở ruột non đoạn giữa và 2/3 phía trước. Bệnh tích nặng với những tiêu điểm nhỏ, màu trắng mờ được tìm thấy ở ngày thứ 4 sau khi nhiễm. Xuất huyết xảy ra vào ngày thứ 5 hoặc thứ 6, lòng ruột non chứa đầy máu, có nhiều đốm máu xung quanh những tụ điểm màu trắng.
Manh tràng ít bị tổn thương hơn, có chứa nhiều dịch nhầy, tử cung thường xuất hiện ở ngày thứ 7 sau khi xuất hiện triệu chứng. Gia cầm không uống nước, yếu ớt hay đứng ở tư thế cánh xã, mắt nhắm lại. praecox: (Johnson (1930) [37]), loài này phân bố rộng, nằm ở trên 1/3 phía trên ruột non, có độc lực yếu, nang trứng hình bầu dục không màu, khối nguyên sinh chất dạng hình hạt tròn, có nhân ở giữa. Hạt cực không rõ, không có lỗ noãn, kích thước nhỏ 10,6 - 27,7 x 14,8 - 19,4 µm.
Thời gian sinh sản của bào tử từ 24 - 36 giờ, phát triển nội sinh tại tế bào biểu bì lớp niêm mạc phần đầu ruột non. hagani (Levine (1938)): loài này hiếm gặp, có độc lực yếu, nằm ở nửa đoạn đầu ruột non của gà, nang trứng hình bầu dục không màu, khối nguyên sinh chất dạng hạt tròn, có nhân ở giữa, không có noãn nang, có hạt cực nhìn thấy 1 - 2 ngày sau khi sinh sản bào tử. Kích thước từ 15,8 - 20,5 x 14,3 - 19,5 µm, phát triển nội sinh chủ yếu trong tá tràng. brunetti (Levine (1938)): là loại cầu trùng có độc lực cao gần như E.
Nang trứng hình bầu dục không màu, kích thước 20,7 - 30,3 x 18,1 - 24,2 µm. Sinh sản bào tử kết thúc trong 24 giờ, trong nang trứng có một cực hay một số hạt cực, trong thời kỳ nội sinh phát triển chủ yếu trong ruột già, phần cuối ruột non e 6 cũng như trực tràng, lỗ huyệt cũng có thể bị nhiễm. brunetti gây bệnh phụ thuộc vào mức độ nhiễm. Nhiễm nhẹ không thấy tổn thương.
Nhiễm nặng vách ruột dầy và có dịch màu hồng. Phân lỏng có chứa chất nhầy và lẫn máu, gia cầm ủ rũ. Triệu chứng kéo dài 5 ngày. Ruột non xuất huyết ở phần cuối và có xuất huyết ở ruột già.
Nhiễm nặng có hiện tượng viêm hoại tử toàn bộ ống tiêu hoá nhưng thường thấy ở đoạn cuối ruột non, hồi tràng và manh tràng. mivati (Edgar và Seibold (1964)): nang trứng có hình trứng, hình bầu dục không màu, có lỗ noãn và hạt cực, kích thước 10,7 - 20 x 10,1 - 15,3 µm. Sinh sản bào tử tiến hành trong 18 - 24 giờ. Thời kỳ phát triển nội sinh của cầu trùng gây tổn thương tế bào biểu bì, nhung mao hay những khe hốc suốt chiều dài ruột non.
Loài này phân bố rộng, định cư ở đoạn ruột non, cũng có khi ở cả ruột non và ruột già của gà. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của Oocyst (noãn nang) cầu trùng Oocyst (noãn nang) cầu trùng có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu, hình tròn, hình ovan hay có khi có hình quả lê…, kích thước cũng khác nhau thay đổi theo từng loài. Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo như sau: Oocyst màu sáng hoặc không màu, màu vàng nhạt hoặc màu nâu nhạt. Lớp vỏ ngoài thường nhẵn, cũng có loài xù xì (E.