Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis), dân gian thường gọi là bệnh ngã nước, là bệnh truyền nhiễm do đơn bào ký sinh trong máu Trypanosoma evansi gây ra trên trâu, bò, ngựa và nhiều loài gia súc khác. Ở thể cấp tính, gia súc mắc bệnh thường sốt cao gián đoạn từ 40°C đến 41,7°C, xuất hiện các triệu chứng thần kinh như điên loạn, ngã quỵ, đi vòng tròn, mắt trợn ngược, sùi bọt mép và có thể chết sau 7 đến 15 ngày. Ở thể mạn tính, bệnh kéo dài từ 1 đến 2 tháng với các biểu hiện suy nhược tiến triển: con vật gầy rộc, da khô mốc, niêm mạc mắt nhợt nhạt hoặc vàng sẫm, chảy nước mắt nhiều dử keo, phù thũng vùng thấp (yếm, ngực, bao dịch hoàn, 4 chân) và ỉa chảy dai dẳng. Dẫn liệu dịch tễ học tại Việt Nam của các tác giả Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân và Phan Văn Chinh cho thấy bệnh xuất hiện ở nhiều vùng sinh thái với tỷ lệ nhiễm trên trâu từ 13% đến 30%, trên bò từ 7% đến 14%, tỷ lệ tử vong dao động từ 6,3% đến 20%, trong đó gia súc ở vùng trung du và miền núi có tỷ lệ mắc cao hơn vùng đồng bằng.
Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, trâu là gia súc nhai lại đóng vai trò chủ lực cung cấp sức kéo và sinh khối thịt. Huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang có địa hình đồi núi xen kẽ hệ thống sông suối, đồng ruộng và ao hồ dày đặc, kết hợp với tập quán chăn thả tập trung của các nông hộ tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi hút máu và mòng trung gian phát triển, làm gia tăng nguy cơ lây truyền mầm bệnh. Tuy nhiên, điều kiện chẩn đoán và năng lực phòng trị tại chỗ còn gặp nhiều khó khăn, khiến dịch bệnh dễ lưu hành kéo dài. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Hà Xuân Bách đã thực hiện đề tài khóa luận nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học và thực tiễn cụ thể.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 3 nội dung:
- Xác định các đặc điểm dịch tễ bệnh do Trypanosoma evansi gây ra ở đàn trâu tại huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang.
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi.
- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu ở huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn trâu nuôi tại các nông hộ và trại chăn nuôi gia đình; ký sinh trùng đường máu Trypanosoma evansi; côn trùng môi giới truyền bệnh (các loài ruồi hút máu và mòng). Động vật thí nghiệm phục vụ nhân chủng và kiểm tra lâm sàng là chuột bạch khối lượng 18 - 20 g/con khỏe mạnh.
- Phạm vi không gian: Khảo sát dịch tễ và lấy mẫu thực địa tại 3 xã thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (xã Trung Sơn, xã Thắng Quân và xã Kim Phú). Thực hiện xét nghiệm mẫu tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; định loại mẫu côn trùng tại Viện Công nghệ sinh học.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu được tiến hành từ ngày 06/03/2013 đến ngày 18/11/2013; các chỉ tiêu dịch tễ và hoạt động của côn trùng môi giới được theo dõi trọng tâm vào các tháng 6, 7, 8, 9 và 10 năm 2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về vị trí phân loại học động vật, theo hệ thống của Levine và cộng sự (1980), Trypanosoma evansi (Steel, 1885) thuộc ngành Sarcomastigophora, phân ngành Mastigophora, lớp Zoomastigophorasida, bộ Kinetoplastorida, họ Trypanosomatidae, giống Trypanosoma, phân giống Trypanozoon (hoặc phân giống Trypanosoma Gruby, 1843). Cơ thể ký sinh trùng có dạng đơn hình thái, cấu tạo đơn bào hình thoi hoặc hình suốt chỉ mảnh dài 18 - 34 µm (trung bình 25 µm), rộng 1,5 - 2 µm, tận cùng phía sau nhọn. Cấu trúc gồm lớp vỏ 3 lớp dày 10 - 15 nm với lớp ngoài cùng là các phân tử biến đổi bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), tiếp giáp 9 cặp vi ống xếp song song; nguyên sinh chất chứa nhân bầu dục ở trung tâm, thể gốc kinetoplast chứa ADN (KADN) ở gần đuôi, từ đó xuất phát một màng lượn sóng và một roi tự do vươn ra phía trước.
Cấu trúc kháng nguyên của T. evansi gồm hai hệ thống:
- Kháng nguyên ổn định (không biến đổi): Nằm ở màng nguyên sinh chất (ISG: Invariant Surface Glycoprotein) gồm ISG 65, ISG 75 và ISG 100, do đặc tính ưa nước và cấu trúc không gian nên không kết hợp với kháng thể dịch thể của vật chủ.
- Kháng nguyên biến đổi: Lớp glycoprotein bề mặt VSG có từ vài trăm đến vài nghìn biến thể gen chi phối (chiếm 5 - 10% bộ gen của ký sinh trùng). Sự chuyển đổi các điểm biểu hiện (expression sites) hoặc tái tổ hợp gen cho phép T. evansi tạo ra các type kháng nguyên biến đổi mới (VAT - Variable Antigen Type), giúp ký sinh trùng né tránh đáp ứng miễn dịch đặc hiệu của vật chủ, hình thành các đợt sốt gián đoạn dạng làn sóng trên lâm sàng.
Về cơ chế bệnh sinh, T. evansi ký sinh trong huyết tương, thẩm thấu trực tiếp glucose, đạm, mỡ và muối khoáng, đồng thời tiết ra độc tố Trypanotoxin (tiết qua màng thân và giải phóng khi tế bào phân hủy sau 15 - 30 ngày). Độc tố gây rối loạn trung khu điều nhiệt ở hệ thần kinh trung ương, phá hủy hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu, làm giảm protein tổng số và albumin (chỉ số A/G < 0,5), tăng tính thấm thành mạch tạo dịch thẩm xuất keo nhầy dưới da và gây sảy thai ở trâu cái chửa.
Về vật môi giới truyền lây, bệnh lây lan cơ học thông qua vòi hút của các loài mòng (họ Tabanidae: Tabanus rubidus, Tabanus kiangsuensis, Tabanus striatus...) và ruồi hút máu (họ phụ Stomoxydinae: Stomoxys calcitrans, Liperosis exigua...). Trong vòi mòng, T. evansi có thể tồn tại và giữ hoạt lực gây bệnh mạnh nhất từ giờ thứ 1 đến giờ thứ 34 (sống tối đa đến 53 giờ).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp xác định cỡ mẫu: Tính toán dung lượng mẫu tối thiểu theo công thức dịch tễ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1991):
$$n = \frac{(Z_{1-\alpha/2})^2 \cdot p(1-p)}{d^2}$$
Trong đó $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$ (độ tin cậy 95%), $d < 0,05$, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo 4 nhóm tuổi trâu căn cứ vào độ mòn và thay răng theo tiêu chuẩn của Trần Văn Tường (2000): dưới 2 năm tuổi, 2 - 5 năm tuổi, 5 - 8 năm tuổi và trên 8 năm tuổi.
- Thu thập mẫu máu: Lấy máu tĩnh mạch cổ trâu (thể tích $\le$ 1 ml) bằng xilanh 3 ml đã sát trùng bằng cồn 70°, tiêm ngay 0,2 ml máu vào xoang phúc mạc chuột bạch, làm đồng thời 3 tiêu bản phết máu trên phiến kính.
- Kỹ thuật phát hiện ký sinh trùng:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear): Nhỏ 1 giọt máu tươi lên phiến kính có sẵn 1 giọt dung dịch chống đông EDTA 1%, đậy lamen và soi dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 10x20 hoặc 10x40 để quan sát chuyển động xoáy lượn của T. evansi.
- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô: Dàn tiêu bản giọt mỏng, để khô tự nhiên, cố định bằng cồn Methanol trong 2 phút, nhuộm bằng dung dịch Giemsa pha loãng tỷ lệ 1:9 với nước cất trong 25 phút; rửa sạch dưới vòi nước chảy nhẹ và soi kính ở vật kính dầu 10x100. Tiên mao trùng dương tính bắt màu xanh lơ, nguyên sinh chất màu tím thẫm, nhân và roi màu đỏ tía.
- Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm: Tiêm phúc mạc chuột bạch 0,2 ml máu tươi trâu nghi nhiễm, theo dõi lâm sàng và kiểm tra máu chuột hằng ngày bằng phương pháp soi tươi.
- Phương pháp điều tra côn trùng: Dùng vợt vải thưa miệng sắt đường kính 30 cm thu bắt mòng, ruồi tại chuồng nuôi, bãi chăn và nơi trâu nghỉ ngơi. Làm ngất côn trùng bằng hơi Kalicianua trong 10 - 20 phút, cắm kim côn trùng số 1 - 2, chỉnh hình cánh chân, phơi khô tránh gió và định loại hình thái theo khóa định loại của Trịnh Văn Thịnh (1967) và Phan Địch Lân (1983). Đánh giá tần suất theo thang quy ước: ngừng hoạt động (-), hoạt động ít (+), hoạt động trung bình (++), hoạt động mạnh (+++).
- Thiết kế phác đồ điều trị thử nghiệm: Xây dựng 3 phác đồ gồm thuốc đặc trị phối hợp thuốc trợ tim, trợ sức và vitamin:
- Phác đồ I: Adizin liều 4,0 mg/kg thể trọng (TT) + Nước sinh lý mặn 200 ml/con + Cafein 20% (15 ml/con) + Vitamin C 5% (15 ml/con) + Vitamin B1 2,5% (15 ml/con).
- Phác đồ II: Trypamidium samorin liều 1,2 mg/kg TT + Nước sinh lý mặn 200 ml/con + Cafein 20% (15 ml/con) + Vitamin C 5% (15 ml/con) + Vitamin B1 2,5% (15 ml/con).
- Phác đồ III: Diminavet liều 4,0 mg/kg TT + Nước sinh lý mặn 200 ml/con + Cafein 20% (15 ml/con) + Vitamin C 5% (15 ml/con) + Vitamin B1 2,5% (15 ml/con).
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu dịch tễ học thực nghiệm được xử lý bằng toán thống kê sinh học trong thú y theo giáo trình của Nguyễn Văn Thiện (2008).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tác hại to lớn của bệnh ngã nước đối với sức kéo và năng suất chăn nuôi trâu tại các tỉnh miền núi, nơi cơ sở hạ tầng thú y còn nhiều hạn chế. Văn bản xác định rõ 3 mục tiêu khoa học, chỉ rõ đối tượng nghiên cứu là đàn trâu tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học về dịch tễ học ký sinh trùng thú y tại địa phương, đồng thời cung cấp phác đồ điều trị và quy trình kỹ thuật ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn sản xuất nhằm giảm tỷ lệ mắc và tử vong cho đàn trâu.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến bệnh tiên mao trùng:
- Phân loại học, hình thái đơn bào và cơ chế biến đổi kháng nguyên bề mặt VSG nhằm né tránh hàng rào miễn dịch vật chủ.
- Cơ chế tác động của độc tố Trypanotoxin gây tổn thương tế bào máu, sốt gián đoạn, biến đổi sinh hóa máu (giảm hồng cầu, albumin, tăng globulin) và bệnh tích đại thể khi mổ khám (tràn dịch bao tim, tim nhão, gan lách phì đại, viêm phổi xung huyết, tổ chức mỡ dưới da keo nhầy).
- Vai trò môi giới truyền bệnh cơ học của các loài ruồi hút máu (Stomoxys calcitrans) và mòng họ Tabanidae (Tabanus rubidus, Tabanus kiangsuensis), dẫn liệu về thời gian sống sót của đơn bào trong vòi hút mòng tới 53 giờ.
- Hệ thống hóa các phương pháp chẩn đoán: chẩn đoán trực tiếp (soi tươi, giọt dày, giọt mỏng nhuộm Giemsa, ly tâm ống Haematocrit theo Woo 1971, tiêm truyền chuột bạch) và chẩn đoán huyết thanh học (ngưng kết phiến kính SAT, ngưng kết hồng cầu LATEX, thử nghiệm CATT, kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT, kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể và Ag-ELISA phát hiện kháng nguyên).
- Lịch sử nghiên cứu hóa dược phòng trị (Naganin, Novarsenobenzol, Trypamidium, Berenyl, Trypazen) và tình hình phân bố bệnh tại các vùng sinh thái ở Việt Nam cũng như trên thế giới (Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Venezuela...).
Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết kế hoạch thực nghiệm, quy cách mẫu và tiêu chuẩn hóa các kỹ thuật xét nghiệm:
- Lựa chọn 3 xã đại diện cho các tiểu vùng sinh thái của huyện Yên Sơn (Trung Sơn, Thắng Quân, Kim Phú).
- Sử dụng chuột bạch (18 - 20 g) làm vật chủ nhân giống và kiểm tra độ độc của chủng phân lập.
- Quy chuẩn hóa thao tác lấy máu tĩnh mạch cổ trâu, phương pháp soi tươi với dung dịch EDTA 1%, kỹ thuật cố định và nhuộm Giemsa tiêu bản máu mỏng, quy trình tiêm truyền phúc mạc chuột bạch.
- Quy trình thu bắt, xử lý bằng bình hơi Kalicianua, cắm kim định loại ruồi mòng truyền bệnh theo tài liệu của Trịnh Văn Thịnh và Phan Địch Lân.
- Tiêu chí phân nhóm tuổi trâu theo độ mòn răng (4 nhóm tuổi) và khung thời gian khảo sát dịch tễ theo tháng (tháng 6 đến tháng 10).
- Thành phần cấu tạo chi tiết của 3 phác đồ hóa dược điều trị thử nghiệm (Adizin, Trypamidium samorin, Diminavet) kết hợp chế độ điều trị hỗ trợ thể trạng (dung dịch mặn sinh lý, Cafein, Vitamin C, Vitamin B1).
- Phương pháp xử lý dữ liệu theo thống kê sinh học của Nguyễn Văn Thiện.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Văn bản trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được:
- Tỷ lệ nhiễm bệnh tiên mao trùng ở trâu tại 3 xã nghiên cứu: Lấy mẫu máu ngẫu nhiên trên 134 con trâu tại 3 xã thuộc huyện Yên Sơn, phát hiện 26 con nhiễm T. evansi, đạt tỷ lệ nhiễm chung là 19,40%. Tỷ lệ nhiễm có sự sai khác giữa các xã: Kim Phú cao nhất (20,83%), tiếp đến là Trung Sơn (20,00%) và thấp nhất là Thắng Quân (17,39%).
- Nguyên nhân sinh thái học: Xã Kim Phú và Trung Sơn có địa hình nhiều đồi núi, ruộng lúa, ao hồ sông suối, tập quán chăn thả tự do tập trung tạo môi trường lý tưởng cho ruồi, mòng phát triển và truyền lây mầm bệnh. Ngược lại, xã Thắng Quân có địa hình ít đồi núi và ao hồ hơn, chăn thả phân tán, người dân có ý thức vệ sinh chuồng trại, chăm sóc quản lý và tiêm phòng định kỳ tốt hơn.
- Kết quả tỷ lệ nhiễm 19,40% tại Yên Sơn tương đương với ghi nhận của Lê Đức Quyết và cs (1995) tại Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên (21,20%), đồng thời nằm trong quy luật lưu hành của các tỉnh miền núi phía Bắc theo Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) (21,27%).
- Triển khai hệ thống bảng biểu khảo sát dịch tễ và thực nghiệm điều trị gồm: Tỷ lệ nhiễm theo 4 nhóm tuổi; biến động tỷ lệ nhiễm theo các tháng trong năm (tháng 6 - 10); thành phần loài và tần suất xuất hiện của ruồi, mòng; quy luật hoạt động theo tháng và theo giờ trong ngày của côn trùng trung gian; kết quả thử nghiệm 3 phác đồ điều trị trên diện hẹp và ứng dụng phác đồ hiệu quả trên diện rộng; đề xuất các giải pháp kỹ thuật phòng chống dịch bệnh tại địa phương.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đúc kết các phát hiện khoa học chính về đặc điểm lưu hành dịch tễ của T. evansi trên đàn trâu tại huyện Yên Sơn; khẳng định vai trò của điều kiện tự nhiên và tập quán chăn thả đối với mức độ nhiễm bệnh; xác định giá trị ứng dụng của các phác đồ điều trị thử nghiệm và đề xuất các khuyến nghị cụ thể cho trạm thú y địa phương cùng người chăn nuôi trong việc phòng ngừa, kiểm soát mầm bệnh và vật môi giới.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã thu thập và phân tích dữ liệu dịch tễ học thực nghiệm trực tiếp trên đàn trâu tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả xét nghiệm mẫu máu ngẫu nhiên được tổng hợp tại bảng dưới đây:
| Địa phương (xã) |
Số trâu kiểm tra (con) |
Số trâu nhiễm (con) |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
| Xã Trung Sơn |
40 |
8 |
20,00 |
| Xã Thắng Quân |
46 |
8 |
17,39 |
| Xã Kim Phú |
48 |
10 |
20,83 |
| Tính chung |
134 |
26 |
19,40 |
Về mặt lâm sàng và điều trị, đề tài đã xây dựng và đưa vào khảo nghiệm 3 phác đồ điều trị hóa dược phối hợp thuốc trợ lực:
- Phác đồ I: Sử dụng Adizin (4,0 mg/kg TT).
- Phác đồ II: Sử dụng Trypamidium samorin (1,2 mg/kg TT).
- Phác đồ III: Sử dụng Diminavet (4,0 mg/kg TT).
Tất cả các phác đồ đều kết hợp bù dịch bằng 200 ml nước sinh lý mặn, trợ tim bằng 15 ml dung dịch Cafein 20%, nâng cao sức đề kháng bằng 15 ml Vitamin C 5% và hỗ trợ chuyển hóa thần kinh bằng 15 ml Vitamin B1 2,5%.
Về giải pháp phòng chống dịch, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp kiểm soát tổng hợp:
- Cách ly triệt để trâu bệnh, đưa vào chuồng có lưới che chắn côn trùng để điều trị dứt điểm.
- Kiểm dịch nghiêm ngặt đàn gia súc mới nhập từ vùng khác về địa phương, nuôi cách ly theo dõi trước khi nhập đàn.
- Tác động sinh thái nhằm hạn chế nơi sinh sản của ruồi mòng: phát quang bụi rậm quanh chuồng và nguồn nước, khơi thông cống rãnh tránh nước tù đọng, ủ phân sinh học tiêu diệt ấu trùng.
- Ứng dụng hóa dược tiêm phòng định kỳ tại các vùng lưu hành bệnh cao trước mùa phát dịch.
Về đóng góp khoa học, đề tài đã bổ sung số liệu dịch tễ học thực địa chính xác về tỷ lệ nhiễm Trypanosoma evansi trên đàn trâu tại huyện Yên Sơn, làm sáng tỏ mối liên quan giữa tỷ lệ nhiễm với điều kiện sinh thái vi mô và tập quán chăn thả của từng xã. Đồng thời, nghiên cứu kiểm chứng hiệu quả của các phác đồ hóa dược mới trong điều kiện chăn nuôi miền núi, tạo cơ sở thực tiễn để cơ quan thú y địa phương ban hành quy trình can thiệp phù hợp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực địa và điều kiện thời gian:
- Giới hạn về không gian và thời gian khảo sát: Đề tài chỉ triển khai khảo sát dịch tễ tại 3 xã (Kim Phú, Trung Sơn, Thắng Quân) trên tổng số các xã của huyện Yên Sơn; khoảng thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong năm 2013 với các chỉ tiêu dịch tễ tập trung theo dõi trong 5 tháng (tháng 6 đến tháng 10), chưa bao quát toàn bộ chu kỳ 12 tháng của năm để đối chiếu biến động giữa mùa khô lạnh (mùa đông - đầu xuân) và mùa mưa nóng ẩm. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng diện điều tra trên toàn bộ các xã thuộc huyện và theo dõi liên tục qua nhiều năm.
- Giới hạn về phương pháp chẩn đoán ký sinh trùng: Khóa luận chủ yếu sử dụng các phương pháp chẩn đoán trực tiếp truyền thống (soi tươi, nhuộm Giemsa tiêu bản giọt mỏng và tiêm truyền chuột bạch). Mặc dù các kỹ thuật này có độ đặc hiệu cao khi xuất hiện ký sinh trùng trong máu, độ nhạy sẽ bị suy giảm ở các ca nhiễm mạn tính thể ẩn hoặc giai đoạn giữa các cơn sốt khi mật độ ký sinh trùng trong máu ngoại vi xuống thấp. Văn bản định hướng việc ứng dụng bổ sung các kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học có độ nhạy cao (như thử nghiệm ngưng kết CATT, kháng thể huỳnh quang IFAT hoặc kỹ thuật ELISA) và sinh học phân tử trong các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo nhằm phát hiện triệt để thể bệnh ẩn.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi Thú y và Bệnh học thủy bộ: Tài liệu cung cấp cơ sở lý thuyết chi tiết về hình thái, chu kỳ sinh học, cơ chế biến đổi kháng nguyên VSG/ISG và sinh bệnh học của đơn bào đường máu Trypanosoma evansi; đồng thời là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm dịch tễ học thực địa kết hợp thử nghiệm lâm sàng.
- Cán bộ thú y cơ sở, Trạm Thú y huyện và Chi cục Thú y các tỉnh miền núi: Nắm vững các chỉ tiêu dịch tễ, triệu chứng lâm sàng đặc thù (sốt gián đoạn, phù thũng, củi nhãn, hội chứng thần kinh), bệnh tích mổ khám và kỹ thuật chẩn đoán phòng thí nghiệm để kịp thời khoanh vùng xử lý khi có ổ dịch ngã nước xảy ra.
- Người chăn nuôi và chủ gia trại: Áp dụng trực tiếp quy trình chăm sóc cách ly, biện pháp tiêu độc khử trùng chuồng trại, phát quang bụi rậm diệt côn trùng truyền lây và sử dụng các phác đồ hóa dược điều trị đặc hiệu kết hợp trợ lực để giảm thiểu tỷ lệ chết trên đàn trâu.
Phần nội dung đáng tham khảo nhất trong công trình là quy trình chuẩn bị tiêu bản nhuộm Giemsa giọt mỏng, kỹ thuật tiêm truyền qua chuột bạch, phương pháp thu bắt định loại côn trùng bằng bình Kalicianua và công thức phối hợp thuốc trong 3 phác đồ điều trị thử nghiệm.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ nhiễm bệnh tiên mao trùng trên đàn trâu tại huyện Yên Sơn được ghi nhận là bao nhiêu và phân bố giữa các xã như thế nào?
Theo kết quả xét nghiệm mẫu máu ngẫu nhiên trên 134 con trâu tại 3 xã thuộc huyện Yên Sơn, tỷ lệ nhiễm Trypanosoma evansi chung là 19,40% (26/134 con dương tính). Trong đó, xã Kim Phú có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 20,83% (10/48 con), xã Trung Sơn đạt 20,00% (8/40 con) và xã Thắng Quân có tỷ lệ nhiễm thấp nhất với 17,39% (8/46 con).
2. Vì sao có sự chênh lệch về tỷ lệ nhiễm bệnh tiên mao trùng giữa xã Kim Phú, Trung Sơn so với xã Thắng Quân?
Sự khác biệt bắt nguồn từ điều kiện địa hình và tập quán chăn nuôi: xã Kim Phú và Trung Sơn có địa hình nhiều đồi núi, ruộng lúa, ao hồ sông suối thuận lợi cho các loài ruồi, mòng sinh sản, kết hợp với tập quán thả trâu tập trung ngoài đồi bãi tạo cơ hội cho côn trùng truyền bệnh từ trâu ốm sang trâu khỏe. Ngược lại, xã Thắng Quân có ít đồi núi và ao hồ hơn, đàn trâu được chăn thả phân tán, người dân có ý thức vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng và tiêm phòng định kỳ tốt hơn.
3. Tác giả đã thiết kế những phác đồ hóa dược nào để thử nghiệm điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu?
Tác giả xây dựng 3 phác đồ điều trị kết hợp thuốc diệt ký sinh trùng với thuốc trợ tim, trợ sức:
- Phác đồ I: Adizin (4,0 mg/kg TT).
- Phác đồ II: Trypamidium samorin (1,2 mg/kg TT).
- Phác đồ III: Diminavet (4,0 mg/kg TT).
Cả 3 phác đồ đều phối hợp tiêm hỗ trợ: Nước sinh lý mặn 200 ml/con, dung dịch Cafein 20% (15 ml/con), Vitamin C 5% (15 ml/con) và Vitamin B1 2,5% (15 ml/con).
4. Phương pháp lấy mẫu máu và kỹ thuật xét nghiệm trực tiếp tìm tiên mao trùng trong đề tài được tiến hành ra sao?
Máu được lấy từ tĩnh mạch cổ trâu (thể tích $\le$ 1 ml) bằng xilanh 3 ml sau khi sát trùng cồn 70°, tiêm ngay 0,2 ml vào xoang phúc mạc chuột bạch (18 - 20 g) và làm 3 tiêu bản kính. Kỹ thuật xét nghiệm trực tiếp gồm: soi tươi máu hòa dung dịch chống đông EDTA 1% ở độ phóng đại 10x20/10x40 để tìm đơn bào di động; nhuộm Giemsa giọt mỏng (cố định methanol 2 phút, nhuộm Giemsa pha loãng 1:9 trong 25 phút) soi ở vật kính dầu 10x100; và theo dõi máu chuột bạch thí nghiệm hằng ngày bằng phương pháp soi tươi.
5. Khóa luận phân loại tuổi của trâu theo tiêu chuẩn nào để đánh giá dịch tễ?
Căn cứ vào mức độ mòn răng và thời điểm thay răng của trâu bò theo tài liệu của Trần Văn Tường (2000), đàn trâu nghiên cứu tại huyện Yên Sơn được phân chia thành 4 nhóm tuổi: dưới 2 năm tuổi, từ 2 đến 5 năm tuổi, từ 5 đến 8 năm tuổi và trên 8 năm tuổi.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hà Xuân Bách là công trình nghiên cứu dịch tễ học thú y thực nghiệm có hệ thống, phản ánh tình trạng lưu hành thực tế của bệnh tiên mao trùng (Trypanosoma evansi) trên đàn trâu tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang với tỷ lệ nhiễm chung là 19,40%. Đề tài đã chỉ rõ vai trò của điều kiện tự nhiên đồi núi, nguồn nước và phương thức chăn thả tập trung đối với sự phát triển của côn trùng môi giới (ruồi hút máu, mòng) và sự lây lan mầm bệnh. Các phác đồ điều trị được xây dựng trên cơ sở phối hợp hóa dược đặc hiệu (Adizin, Trypamidium samorin, Diminavet) với liệu pháp trợ tim, trợ sức cung cấp giải pháp kỹ thuật đồng bộ, có tính ứng dụng cao cho công tác phòng chống dịch bệnh gia súc tại các địa phương miền núi.