Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh trypanosomiasis ở trâu tại huyện Yên Sơn, Tuyên Quang

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở trâu tại Yên Sơn, Tuyên Quang và thử nghiệm phác đồ điều trị hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2013

67
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI NÓI ĐẦU

1. Phần 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

1.2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

2. Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại Trypanosoma

2.2.1. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động vật học

2.2.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng

2.2.3. Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi

2.2.3.1. Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
2.2.3.2. Kháng nguyên biến đổi
2.2.3.3. Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

2.3. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng

2.3.1. Phân bố của bệnh

3. Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5. Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu dịch tễ bệnh trypanosomiasis ở trâu tại Yên Sơn Tuyên Quang

Nghiên cứu dịch tễ bệnh trypanosomiasistrâu tại Yên Sơn, Tuyên Quang tập trung vào việc xác định các đặc điểm dịch tễ học của bệnh do Trypanosoma evansi gây ra. Nghiên cứu này nhằm hiểu rõ hơn về sự phân bố, tỷ lệ nhiễm bệnh, và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lây lan của bệnh trong đàn trâu. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở các xã thuộc huyện Yên Sơn, đặc biệt là trong mùa mưa, khi điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của côn trùng môi giới truyền bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bệnh ký sinh trùng này gây thiệt hại đáng kể đến sức khỏe và năng suất của đàn trâu, ảnh hưởng đến nông nghiệpchăn nuôi tại địa phương.

1.1. Phân bố và tỷ lệ nhiễm bệnh

Phân bố của bệnh trypanosomiasistrâu tại Yên Sơn, Tuyên Quang được nghiên cứu qua việc khảo sát tỷ lệ nhiễm bệnh ở các xã khác nhau. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm bệnh dao động từ 13% đến 30%, với tỷ lệ tử vong lên đến 20%. Bệnh phổ biến hơn ở các vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của côn trùng môi giới, như ruồi và mòng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn ở trâu trưởng thành so với trâu non, do thời gian tiếp xúc với môi trường nhiễm bệnh lâu hơn.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến dịch tễ bệnh

Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch tễ học của bệnh trypanosomiasis bao gồm điều kiện thời tiết, tập quán chăn nuôi, và sự hiện diện của côn trùng môi giới. Nghiên cứu chỉ ra rằng, bệnh phát triển mạnh trong mùa mưa, khi độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản của ruồi và mòng. Ngoài ra, tập quán chăn thả tự do của người dân địa phương cũng làm tăng nguy cơ lây lan bệnh. Việc thiếu các biện pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời cũng góp phần làm bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

II. Phác đồ điều trị bệnh trypanosomiasis

Phác đồ điều trị bệnh trypanosomiasis được nghiên cứu và thử nghiệm nhằm tìm ra phương pháp hiệu quả nhất để kiểm soát và điều trị bệnh ở trâu tại Yên Sơn, Tuyên Quang. Nghiên cứu đã thử nghiệm các loại thuốc khác nhau và đánh giá hiệu quả của chúng trong việc giảm tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong. Kết quả cho thấy, phác đồ điều trị kết hợp giữa thuốc đặc hiệu và các biện pháp hỗ trợ như bổ sung dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe đã mang lại hiệu quả cao. Phác đồ này không chỉ giúp giảm tỷ lệ nhiễm bệnh mà còn cải thiện sức khỏe tổng thể của đàn trâu, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôisức khỏe động vật tại địa phương.

2.1. Thử nghiệm thuốc điều trị

Nghiên cứu đã thử nghiệm các loại thuốc khác nhau để điều trị bệnh trypanosomiasistrâu. Kết quả cho thấy, thuốc đặc hiệu như Diminazene aceturate và Isometamidium chloride có hiệu quả cao trong việc tiêu diệt Trypanosoma evansi. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc cần được kết hợp với các biện pháp hỗ trợ như bổ sung dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe để đạt hiệu quả tối ưu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc điều trị sớm và đúng phác đồ có thể giảm tỷ lệ tử vong và thiệt hại do bệnh gây ra.

2.2. Đề xuất biện pháp phòng chống

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các biện pháp phòng chống bệnh trypanosomiasis được đề xuất bao gồm việc kiểm soát côn trùng môi giới, cải thiện điều kiện chăn nuôi, và tăng cường công tác giám sát dịch bệnh. Nghiên cứu khuyến nghị sử dụng các biện pháp như phun thuốc diệt côn trùng, xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, và thực hiện các chương trình tiêm phòng định kỳ. Những biện pháp này không chỉ giúp giảm nguy cơ lây lan bệnh mà còn góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôisức khỏe động vật tại địa phương.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Bệnh tiên mao trùng hay còn gọi là bệnh ngã nước, trâu bò mắc bệnh thể cấp tính thường sốt cao 41 - 41,70C với các triệu chứng thần kinh như ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn… Trâu bò bệnh sẽ chết sau 7 - 15 ngày. Ở thể mãn tính, các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn và bệnh kéo dài 1 - 2 tháng, con vật ngày càng gầy, da khô mốc, niêm mạc mắt tụ máu màu đỏ tía, đôi khi có chấm máu, chảy nước mắt và mắt có nhiều dử đặc như keo, niêm mạc mắt vàng nhạt hay sẫm. Sức khoẻ suy yếu dần, kém ăn, kém nhai lại, đi phân táo có lẫn máu hoặc đi tháo lỏng mùi thối khắm, có khi con vật đi ỉa ra cả màng ruột, nát từng đoạn. Thường thấy có thuỷ thũng ở hầu, ức, nách, chân, háng.

Trường hợp bệnh nặng, con vật đột ngột sốt cao, bụng chướng to rồi lăn ra chết. Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [8], Phan Địch Lân và cộng sự (2004) [13], Phan Văn Chinh (2006) [4], bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 - 30%, trên bò là 7 - 14%, trong đó tỷ lệ gia súc chết lên tới 6,3 - 20%. Cũng theo báo cáo của các tác giả trên, tỷ lệ mắc Trypanosoma evansi ở gia súc vùng núi và trung du cao hơn các vùng đồng bằng và ven biển. Trong khi đó, ở nước ta, chăn nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức kéo, thịt, sữa lại tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi và trung du, là các vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại, nhưng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại địa phương còn yếu kém, dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn.

n 2 Khả năng phát sinh và phát triển bệnh tiên mao trùng phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu, tập quán chăn nuôi và chế độ làm việc của gia súc. Sự thay đổi các điều kiện trên sẽ ảnh hưởng sẽ ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh cũng như dịch tễ bệnh. Bên cạnh đó, việc mở cửa thương mại, phát triển du lịch cũng dẫn tới sự du nhập các tác nhân gây bệnh mới, hoặc tạo nên các biến chủng gây bệnh mới làm cho tình hình bệnh ngày càng phức tạp hơn. Huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang là huyện có diện tích rộng với số lượng trâu lớn.

Với địa hình đồi núi cùng với nhiều ao hồ sông suối và tập quán chăn thả tập trung, đây là điều kiện thuận lợi cho bệnh tiên mao trùng lây lan và phát triển. Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở trâu tại huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang và thử nghiệm phác đồ điều trị”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định các đặc điểm dịch tễ bệnh do Trypanosoma evansi gây ra ở đàn trâu tại huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang. - Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi.

- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu ở huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và quy trình phòng chống bệnh tiên mao trùng ở trâu. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh tiên mao trùng.

Nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do Trypanosoma evansi gây ra. Góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu phát triển. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam.

Sau đó, bệnh được xác định là phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Bệnh do loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi gây ra. Trâu, bò, ngựa mắc bệnh dễ chết hoặc thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và sức sản xuất. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại Trypanosoma 2.

Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động vật học Theo Levine et al (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [6], vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau: Ngành Sarcomastigophora Phân ngành Mastigophora Lớp Zoomastigophorasida Bộ Kinetoplastorida Phân bộ Trypanosomatorida Họ Trypanosomatidae Donein, 1901 Giống Trypanosoma Gruby, 1843 Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (M) theileria Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901 Loài Trypanosoma (H) leisi Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909 Loài Trypanosoma (S) cruzi n 5 Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918 Loài Trypanosoma (D) vivax Loài Trypanosoma (D) uniform Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) siminae Loài Trypanosoma (N) vanhogi Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906 Loài Trypanosoma (T) brucei Loài Trypanosoma (T) gambience Loài Trypanosoma (T) rhodesiense Loài Trypanosoma (T) equiperdum Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843 Loài Trypanosoma evansi Steel, 1885 Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ quốc tế (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là: T. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng Tiên mao trùng T. evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34 µm (trung bình là 25 µm), chiều rộng 1,5 - 2µm. Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân nhọn.

Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T. evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae. Cấu trúc từ ngoài vào trong được chia thành 3 phần chính: - Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp n 6 (lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa). Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface -VGS).

Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng. Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972 [32]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [8]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [5] ). - Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài. Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới golgi.

- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng. Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể. Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN). Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do.

Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare, 1972 [32]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [5]). Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi Kháng nguyên của T. evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi.

* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi) Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong quá trình sống ký sinh. Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết thanh thỏ tối miễn dịch với T. evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30 thành phần kháng nguyên khác nhau. Có ba loại kháng nguyên không biến đổi ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface n 7 Glycoprotein): ISG 65, ISG 75 và ISG 100.

Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ (Nolan, 1997). * Kháng nguyên biến đổi Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi. Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins (1969) đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt. Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type).

Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng kích thích vật chủ tạo miền dịch chủ động. Người ta ước lượng rằng, một con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này. Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ. Tuy nhiên, Van Meirvenne (1975) cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề mặt của ký sinh trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi xuất hiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ).

Theo Hajduc và Vickernlan (1981), hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng còn thấy ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch. Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng. Như vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất. n 8 * Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hoá của gen.

Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử VSG mới. Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này. Theo Barry và Tumer (1991) [30], Vanhamme và cs (1995) [36], các VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt. Một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp ra một loại kháng nguyên VSG.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu dịch tễ bệnh trypanosomiasis ở trâu tại Yên Sơn, Tuyên Quang và phác đồ điều trị là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích đặc điểm dịch tễ của bệnh trypanosomiasis (bệnh tiên mao trùng) ở trâu tại khu vực Yên Sơn, Tuyên Quang. Nghiên cứu này không chỉ xác định các yếu tố nguy cơ và mức độ lây lan của bệnh mà còn đề xuất các phác đồ điều trị hiệu quả, giúp người chăn nuôi và cán bộ thú y có thêm công cụ để kiểm soát và phòng ngừa bệnh. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến sức khỏe vật nuôi và quản lý dịch bệnh trong chăn nuôi.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh dịch tương tự, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị, nghiên cứu này cung cấp thêm thông tin về chẩn đoán và phòng trị bệnh tiên mao trùng. Ngoài ra, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh lở mồm long móng ở trâu bò lợn tại tỉnh Quảng Ninh và đánh giá hiệu lực của vaccine phòng bệnh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các bệnh truyền nhiễm khác ở gia súc. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu bò tại 3 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa và biện pháp khống chế là một tài liệu bổ sung về các biện pháp kiểm soát bệnh truyền nhiễm. Hãy khám phá để nâng cao hiểu biết của bạn về lĩnh vực này!