Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về loài chó 1. Nguồn gốc loài chó Căn cứ vào những tư liệu khảo cổ học, các nhà khoa học đã so sánh hình thái cấu tạo của bộ xương, bộ não và các khí quan khác trong cơ thể loài chó, qua đó xác định được tổ tiên của loài chó nhà hiện nay là một số loài chó sói sống hoang dã ở các vùng sinh thái khác nhau trên thế giới. Chó nhà được sinh ra từ sự tạp giao giữa chó sói, cầy, cáo.
Nhiều nhà sinh học cho rằng chó nhà được con người thuần dưỡng từ 15.000 năm từ một số loài chó sói sống hoang dã ở hầu hết các Châu lục với mục đích phục vụ cho việc săn bắt, sau đó là giữ nhà và là bạn trong quá trình thuần hóa, chọn lọc để trở thành chó nhà thuần chủng (Stick và cs. Theo Phan Trọng Cung và Phạm Thị Xuân Vân (1998), chó sói xám (Canis lupus) ở Châu Âu phát triển thành nhiều giống chó địa phương Châu Âu nổi tiếng, chó sói vàng (Canis aureus) hiện còn sống ở Bắc Phi, Nam Á, Đông Nam Âu là tổ tiên của nhiều giống chó nhà ở khu vực này. Người ta còn cho rằng có một loài chó lớn ở núi cao (Cuon alpinus) là tổ tiên sinh ra nhiều giống chó Phương Đông hiện nay. Trên thế giới có khoảng 400 giống chó, được gọi chung là loài chó nhà (Canis familiaris).
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1992) cho biết, theo các nhà khảo cổ học, ở Việt Nam, chó được nuôi từ trung kỳ đồ đá mới, khoảng 3.000 năm Trước công nguyên. Chó được phân bố rộng rãi trên toàn thế giới. Có thể nói ở đâu có con người sinh sống thì có hình bóng của con chó (Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, 1992). Bân đầu, chó được thuần hóa để giúp con người săn bắt thú hoang.
Sau đó chó được nuôi để giữ nhà và làm bạn với con người (Phạm Sỹ Lăng và cs. Con người đã tiến hành lựa chọn những con chó đực và những con chó cái có những đặc điểm và chất lượng tốt cho giao phối với nhau để sinh ra đàn chó con mang những đặc điểm tốt giống bố mẹ chúng. 4 Theo Hiệp hội nuôi chó AKC (American Staffordshire Terrier) ở Anh, có khoảng 150 giống chó và chia thành 7 nhóm: Chó thông minh, chó làm việc, chó thể thao, chó săn, chó chăn giữ gia súc, chó cảnh (Stick và cs. Một số giống chó nuôi ở Việt Nam 1.
Một số giống chó nội - Giống chó ta: Chó có tầm vóc lớn trung bình, trọng lượng bình quân lúc 12 - 15 tháng tuổi đạt 9,83 - 11,01kg. Chó có đầu to vừa phải, mắt đen, mũi đen hoặc nâu sậm, màu sắc lông thay đổi. Trong đó, chó có lông màu vàng chiếm 42,4%, lông màu đen tuyền chiếm 28,9%, lông vá màu 12,4%, lông màu trắng sữa 7,8%, lông màu xám 5,2% và lông vện 3,3% (Lê Văn Thọ, 2006). - Giống chó H’Mông: Chó được nuôi nhiều ở các tỉnh miền núi, có chiều cao trung bình 55 - 60cm, trọng lượng bình quân đạt 18 - 20kg.
Chó đực phối giống được ở 16 - 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở 12 - 15 tháng tuổi, đẻ 5 - 8 con/lứa, trung bình 6 con/lứa (Tô Du, Xuân Giao, 2006), (Nguyễn Văn Thanh và cs. - Giống chó Lào: Chó có lông màu hung, có 2 vệt trắng trên mí mắt, chiều cao trung bình 60 - 65cm, trọng lượng bình quân đạt 18 - 25kg. Chó đực có thể phối giống ở độ tuổi 16 - 18 tháng tuổi. Chó cái sinh sản ở độ tuổi 13 - 15 tháng tuổi.
Mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con (Lê Văn Thọ, 1997). - Giống chó Phú Quốc: Chó có nguồn gốc từ bán đảo Phú Quốc Việt Nam, trọng lượng trung bình ở 12 - 15 tháng tuổi đạt từ 12,6 - 13,6kg, chiều cao 60 - 65cm. Chó có đầu cân đối, trán có nếp nhăn, mắt đen linh hoạt, tai thẳng đứng hướng về trước, trên lưng chó có một vệt lông xoáy dài. Đuôi khá dài, kiểu đuôi vòng uốn cong lên lưng.
Bộ lông bóng mượt, ngắn và dày ôm sát thân, màu vàng, đen, vện hoặc úa (Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, 1992), (Lê Văn Thọ, 1997). Một số giống chó nhập nội Chó nhập nội được nhập từ nước ngoài vào Việt Nam thường có chất lượng con giống tốt, được coi là thuần chủng hơn chó sinh ra ở trong nước cùng chủng loại. Tuy nhiên, chó nhập nội thường gặp một số khó khăn như qua quá trình mua, chó có thể bị stress do vận chuyển. Chó nhập nội chịu tác động lớn từ thay đổi chế độ chăm sóc, thức ăn, thời tiết, môi trường, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe.
Do vậy, 5 người nuôi chó nhập nội cần có chế độ dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp (Tô Du, Xuân Giao, 2006). Hiện nay, ở nước ta đã nhập vào rất nhiều giống chó nuôi làm cảnh, giữ nhà, làm vệ sĩ,. Cụ thể: - Giống chó Bergie Đức (German Shepherd dog): Chó có nguồn gốc từ Đức, được phát hiện tại Berlin (năm 1889), là giống Bergie lông ngắn và tại Hanover (năm 1882) là giống Bergie lông dài. Chó có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó ở Việt Nam, chiều dài thân trung bình 110 - 112cm, chiều cao trung bình chó đực 56 - 65cm và chó cái 62 - 66cm; trọng lượng cơ thể bình quân đạt 28 - 37kg.
Chó có lông ngắn, màu đen sẫm, bốn chân màu vàng sẫm. Đầu hình nêm, mũi phân thuỳ, tai dựng đứng hướng về trước. Chó nuôi ở Việt Nam có thể phối giống ở 24 tháng tuổi; chó cái có thể sinh sản ở 18 - 20 tháng tuổi (Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, 1992), (Phạm Sỹ Lăng và cs. - Giống chó Rottweiler (Rottweiler Metzgerhund): Được phát hiện ở thành phố Rottweiler miền Nam nước Đức (Nguyễn Văn Thanh và cs.
Chó có tầm vóc lớn, chiều cao 58 - 68cm, nặng từ 42 - 50kg. Đầu chó dạng hình cầu, khoảng cách giữa hai tai lớn, mõm to bè. Mắt có màu nâu đen rất sáng và linh hoạt, khoảng cách 2 mắt không xa. Chó có lông ngắn đen toàn thân, có đốm vàng ở gò má trên mắt; mõm, bụng và bốn chân vàng sẫm.
Chó Rottweiler được nuôi canh gác, giữ nhà, tìm kiếm, bảo vệ, trinh sát của lực lượng cảnh sát và bộ đội biên phòng,. - Giống chó Chinhuahua: Chó còn được gọi chó fok hươu do hình dáng giống con hươu thu nhỏ hoặc còn gọi là chó bỏ túi (Phạm Sỹ lăng và cs. Chinhuahua được tìm thấy ở bang Chinhuahua của Mexico, là giống chó có thân hình nhỏ nhất trong các loài chó trên thế giới. - Giống chó Fox: Chó có nguồn gốc từ Pháp, được đưa về nuôi tại Việt Nam từ lâu.
Chó có tầm vóc nhỏ, khoảng 1,5 - 2,5kg. Chó Fox có ngoại hình như một con hươu thu nhỏ, lông ngắn, màu vàng bò hoặc đen, có thể vá nâu, có vệt đen hoặc trắng ở giữa sống mũi kéo lên đỉnh đầu. Đầu có nhỏ, tai to vểnh, sống mũi hơi gãy, mõm nhỏ và dài; bốn chân nhỏ, cao, thân hình gọn nên chạy rất nhanh (Lê Văn Thọ, 1997). Bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus 1.
Căn học bệnh học 1. Lịch sử bệnh Bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus là một trong những bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm có tính chất lây lan mạnh, có triệu chứng lâm sàng dễ lẫn với các bệnh khác như nôn mửa, mệt mỏi, bỏ ăn. Chó nhiễm bệnh có hiện tượng tiêu chảy phân lẫn máu, số lượng bạch cầu giảm, tỷ lệ tử vong cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi chó (Nguyễn Như Pho, 2003). Bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1978 do Canine Parvovirus (CPV) gây ra.
Sau đó bệnh lan dần trên toàn thế giới (Nguyễn Văn Biện, 2001). Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2006), mùa thu năm 1977 bệnh xuất hiện ở Texas. Mùa hè năm 1978, bệnh xảy ra ở nhiều vùng khác nhau của Hoa Kỳ và Canada.
Đầu năm 1979, bệnh xuất hiện ở Úc, Bỉ, Hà Lan, Anh, Pháp. Ở Việt nam, bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus được ghi nhận lần đầu tiên năm 1990 trên chó nghiệp vụ. Sau đó bệnh lây lan rất nhanh và rộng. Chó con dưới 6 tháng tuổi mắc bệnh có tỷ lệ chết rất cao 60 - 70% (Trần Thanh Phong, 1996).
Theo Hồ Văn Nam và cs. (1997), bệnh xảy ra trên các giống chó ở mọi lứa tuổi, chó nhập nội mắc bệnh có tỷ lệ chết cao 70 - 80%. Phân loại parvovirus Họ: Parvoviridae Giống: Parvovirus Loài: Canine Parvovirus type 2 Parvovirus type 1 không gây bệnh (Trần Thanh Phong, 1996). Đặc tính sinh học của parvovirus - Hình thái và cấu trúc: Parvovirus là một ADN đơn vi rút không có vỏ bọc, capsid là hạt hình cầu đối xứng khối, đường kính 18 - 22nm, cấu tạo từ 32 capsomer (đơn vị hình thái) (Taylor và cs, 2002), (Phạm Hồng Sơn, 2008).
Canine Parvovirus Protein Type 2 Capsid (Nguồn: http://www.com) - Sức đề kháng với môi trường: Parvovirus có sức đề kháng mạnh với môi trường bên ngoài. Trong phân, vi rút có thể tồn tại hơn 6 tháng ở nhiệt độ phòng. Vi rút đề kháng với tác động của Ete, Chloroforme, axit và nhiệt độ (56oC trong 30 phút) (Mochizuki, San Gabriel, 1993). Parvovirus không nhạy cảm với các chất dung môi hữu cơ và NH4 nhưng bị tiêu diệt bởi sút và nước Javel (Trần Thanh Phong, 1996).
- Đặc tính nuôi cấy: Ở chó con đang bú mẹ, Parvovirus chỉ nhân lên trong nhân tế bào và gây bệnh tích tế bào Cyto Pathogen Effect (CPE) trên tế bào tim. Ở chó sau cai sữa, Parvovirus nhân lên trong tế bào ruột và tế bào lymphocyte (Berns, 1990). - Đặc tính kháng nguyên: Parvovirus xâm nhập vào cơ thể và nhân lên nhanh chóng làm xuất hiện kháng thể, gây ức chế phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hòa huyết thanh. Sử dụng phản ứng ngưng kết hồng cầu trong chẩn đoán huyết thanh học.
Rất 8 khó thực hiện phản ứng trung hòa huyết thanh trong phòng thí nghiệm (Nguyễn Phước Trung, 2002), (Nguyễn Như Pho, 2003). - Khả năng miễn dịch: Sau khi nhiễm bệnh, chó có thể sinh ra miễn dịch kéo dài khoảng 3 năm với hiệu giá kháng thể rất cao. Lúc này, chó mẹ sinh ra chó con có thể cảm nhiễm bệnh ở 9 - 12 tuần tuổi. Sau 2 - 3 năm, hiệu giá kháng thể giảm thấp, chó con sinh ra có thể cảm nhiễm bệnh sớm hơn ở 5 - 6 tuần tuổi (Trần Thanh Phong, 1996).
Miễn dịch thụ động ở chó con có được do kháng thể lấy từ sữa đầu của chó mẹ. Lượng kháng thể này thường được bài thải vào giai đoạn 10 - 11 tuần tuổi. Lúc này, cơ thể dễ cảm nhiễm nhất với bệnh.