Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu đa dạng thành phần loài nấm rễ nội cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất trồng ngô

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus nghiên cứu đa dạng thành phần loài nấm rễ nội cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất trồng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

74
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Nấm rễ nội cộng sinh

1.2. Lịch sử nghiên cứu

1.3. Phương pháp phân loại nấm rễ nội cộng sinh

1.3.1. Phân lập bào tử nấm rễ nội cộng sinh

1.4. Vai trò của nấm rễ nội cộng sinh đối với thực vật

1.4.1. Khả năng huy động nước và các chất dinh dưỡng

1.4.2. Thu nhận hợp chất cacbon trong cây cộng sinh Mycorrhiza

1.4.3. Tăng sức chống chịu của cây trồng trong điều kiện bất lợi của môi trường

1.4.4. Giúp cây chống chịu với bệnh hại

1.4.5. Hấp thu lân

1.5. Tình hình nghiên cứu AMF trên thế giới

1.6. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.7. Đặc điểm tự nhiên của địa điểm nghiên cứu

1.7.1. Đặc điểm tự nhiên của Duy Tiên – Hà Nam

1.7.2. Đặc điểm tự nhiên của Thường Tín - Hà Nội

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Vật liệu và trang thiết bị

2.3.1. Nguyên vật liệu

2.4. Phương pháp

2.4.1. Lấy mẫu đất

2.4.2. Phân lập AMF

2.4.3. Tiệt trùng các bào tử AMF

2.4.4. Phân loại nấm rễ nội cộng sinh

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Phân lập AMF từ mẫu đất thu thập

3.2. Phân loại AMF bằng phương pháp hình thái học

3.3. Đánh giá đa dạng thành phần loài của AMF trong các vùng sinh thái nghiên cứu và mối tương quan giữa điều kiện môi trường sống tới sự đa dạng thành phần loài của các chủng nấm rễ nội cộng sinh trên đất trồng ngô

3.3.1. Dựa vào thành phần loài

3.3.2. Dựa vào tần suất xuất hiện

3.3.3. Dựa vào mật độ loài

3.3.4. Lựa chọn một số AMF có độ đa dạng cao để phân loại chúng bằng kỹ thuật sinh học phân tử

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng loài nấm rễ nội cộng sinh

Nấm rễ nội cộng sinh (AMF) là một nhóm nấm quan trọng trong hệ sinh thái đất, đặc biệt trong đất trồng ngô. Nghiên cứu về sự đa dạng của chúng không chỉ giúp hiểu rõ hơn về vai trò của nấm trong sự phát triển của cây trồng mà còn cung cấp thông tin quý giá cho việc cải thiện năng suất nông nghiệp. AMF có khả năng tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng và nước cho cây trồng, từ đó nâng cao sức đề kháng với các điều kiện bất lợi.

1.1. Định nghĩa và vai trò của nấm rễ nội cộng sinh

Nấm rễ nội cộng sinh (AMF) là nhóm nấm sống cộng sinh trong rễ của thực vật, giúp cây hấp thụ dinh dưỡng và nước hiệu quả hơn. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe của cây trồng và tăng cường khả năng chống chịu với các điều kiện môi trường khắc nghiệt.

1.2. Lịch sử nghiên cứu về nấm rễ nội cộng sinh

Nghiên cứu về nấm rễ nội cộng sinh đã bắt đầu từ thế kỷ 19, với những phát hiện đầu tiên về mối quan hệ giữa nấm và rễ cây. Qua các năm, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của AMF trong nông nghiệp và sinh thái học.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu nấm rễ nội cộng sinh

Mặc dù nấm rễ nội cộng sinh có vai trò quan trọng, nhưng việc nghiên cứu chúng vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là sự đa dạng loài của AMF trong các vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là trong đất trồng ngô. Việc thiếu thông tin về sự phân bố và đặc điểm của các loài nấm này gây khó khăn cho việc ứng dụng chúng trong nông nghiệp.

2.1. Khó khăn trong việc phân lập và phân loại nấm

Phân lập nấm rễ nội cộng sinh từ đất là một quá trình phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật chuyên môn cao. Nấm AMF không thể nuôi cấy trên môi trường nhân tạo, do đó việc xác định và phân loại chúng chủ yếu dựa vào bào tử trong đất.

2.2. Thiếu thông tin về sự đa dạng loài AMF

Nhiều nghiên cứu về AMF vẫn còn hạn chế, đặc biệt là ở Việt Nam. Việc thiếu thông tin về sự đa dạng loài và mối quan hệ giữa chúng với cây trồng gây khó khăn cho việc ứng dụng trong thực tiễn nông nghiệp.

III. Phương pháp nghiên cứu nấm rễ nội cộng sinh hiệu quả

Để nghiên cứu sự đa dạng của nấm rễ nội cộng sinh, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Việc phân lập bào tử nấm từ đất và phân loại chúng dựa trên hình thái học là những bước quan trọng trong nghiên cứu này.

3.1. Phương pháp phân lập bào tử nấm từ đất

Phân lập bào tử nấm rễ nội cộng sinh được thực hiện thông qua việc lấy mẫu đất và sử dụng phương pháp sàng ướt kết hợp với ly tâm. Phương pháp này giúp tách bào tử nấm ra khỏi đất một cách hiệu quả.

3.2. Phân loại nấm rễ nội cộng sinh dựa trên hình thái học

Sau khi phân lập, bào tử nấm sẽ được phân loại dựa trên các đặc điểm hình thái như kích thước, hình dạng và màu sắc. Việc này giúp xác định các loài nấm khác nhau trong mẫu đất.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của nấm rễ nội cộng sinh

Kết quả nghiên cứu về nấm rễ nội cộng sinh trong đất trồng ngô cho thấy sự đa dạng cao của các loài nấm. Những loài nấm này không chỉ giúp cây trồng hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn mà còn tăng cường khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi.

4.1. Đánh giá đa dạng thành phần loài nấm trong đất trồng ngô

Nghiên cứu cho thấy có nhiều loài nấm rễ nội cộng sinh khác nhau trong đất trồng ngô, với sự phân bố không đồng đều giữa các vùng sinh thái. Điều này mở ra cơ hội cho việc lựa chọn các loài nấm phù hợp để cải thiện năng suất cây trồng.

4.2. Ứng dụng nấm rễ nội cộng sinh trong nông nghiệp

Việc ứng dụng nấm rễ nội cộng sinh trong nông nghiệp có thể giúp tăng cường năng suất cây trồng, cải thiện sức khỏe đất và giảm thiểu sử dụng phân bón hóa học. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu nấm rễ nội cộng sinh

Nghiên cứu về nấm rễ nội cộng sinh trong đất trồng ngô đã chỉ ra tầm quan trọng của chúng trong nông nghiệp. Việc hiểu rõ hơn về sự đa dạng và vai trò của AMF sẽ giúp phát triển các phương pháp canh tác bền vững hơn trong tương lai.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã xác định được nhiều loài nấm rễ nội cộng sinh trong đất trồng ngô, cho thấy sự đa dạng và vai trò quan trọng của chúng trong việc hỗ trợ cây trồng.

5.2. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc ứng dụng các loài nấm rễ nội cộng sinh trong thực tiễn nông nghiệp, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, đồng thời bảo vệ môi trường.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu đa dạng thành phần loài nấm rễ nội cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất trồng ngô

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Nấm rễ nội cộng sinh (AMF - Arbuscular Mycorrhizal Fungi) là một nhóm nấm có lợi trong đất và sống cộng sinh trong rễ của thực vật bậc cao. Đây là quần hợp nấm - thực vật đƣợc biết nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thực vật cũng nhƣ hệ sinh thái. AMF đƣợc phát hiện từ ít nhất 400 triệu năm trƣớc, có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển, sinh sản của cả thực vật và nấm. Đây đƣợc xem là nhóm vi sinh vật chủ yếu tồn tại ở rễ và đất của cây trồng, đƣợc tìm thấy trong hầu hết các sinh cảnh trên toàn thế giới và trong khoảng 90% các loài thực vật [74].

Mặc dù là nội cộng sinh bắt buộc nhƣng mối quan hệ giữa nấm và thực vật đƣợc đƣợc coi là mối quan hệ “Hội sinh”, do nó mang lại lợi ích cho cả vật chủ và nấm. Trƣớc hết, nấm nhận đƣợc các sản phẩm quang hợp từ thực vật bằng cách sống cố định trong rễ của chúng và sau đó phát triển mạng lƣới hệ sợi nấm trong vùng bầu rễ để tạo thuận lợi cho việc hấp thụ các chất dinh dƣỡng và cung cấp các chất có lợi khác cho vật chủ, cạnh tranh với các vi khuẩn trong đất khác, đồng thời giúp thực vật tăng khả năng lấy nƣớc và chất dinh dƣỡng nhƣ phốt pho, lƣu huỳnh, nitơ và các vi chất dinh dƣỡng từ các sợi nấm tạo ra ngoài vùng rễ. Ngoài ra, sự cộng sinh của nấm đã đƣợc chứng minh là giúp cho cây trồng có khả năng chống chịu đƣợc sự khô hạn hay đề kháng với một số tác nhân gây bệnh [55,57]. Cây ngô là nhóm cây chủ lực của Việt Nam, đứng thứ hai sau cây lúa.

Tuy nhiên, sự đa dạng nấm AMF trong đất trồng ngô ở Việt Nam cũng nhƣ mối tƣơng quan giữa điều kiện môi trƣờng sống tới sự đa dạng thành phần loài của các chủng nấm rễ nội cộng sinh trên đất trồng ngô còn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Việc nghiên cứ sự có mặt của AMF trong đất trồng ngô sẽ góp phần làm rõ hơn về sự đa dạng của nhóm nấm này trên cây ngô. Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu có thể lựa chọn đƣợc những loài ƣu thế, tìm hiểu đƣợc vai trò và có những đặc tính của AMF trong việc ứng dụng nâng cao năng suất cây trồng. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuất phát từ những lý do nếu trên, đề tài “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài nấm rễ nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhiza) trong đất trồng ngô” đƣợc tiến hành với các mục tiêu nghiên cứu sau: 1.

Phân lập, phân loại các chủng nấm rễ nội cộng sinh từ đất trồng ngô tại Hà Nội và Hà Nam. Đánh giá đa dạng thành phần loài của AMF trong các vùng sinh thái nghiên cứu và mối tƣơng quan giữa điều kiện môi trƣờng sống tới sự đa dạng thành phần loài của các chủng nấm rễ nội cộng sinh trên đất trồng ngô. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 Nấm rễ nội cộng sinh Nấm rễ (Mycorrhizal) là một hình thức sinh trƣởng cộng sinh giữa thực vật và nấm. Đây là quần hợp nấm - thực vật đƣợc biết nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thực vật cũng nhƣ nhiều hệ sinh thái, với hơn 90% các loài thực vật có quan hệ với nấm theo hình thức nấm rễ và phụ thuộc vào mối quan hệ này để tồn tại [67].

Có hai loại nấm rễ: nấm rễ nội sinh và nấm rễ ngoại sinh [63]. Nấm rễ nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhizal Fungi, AMF) là nhóm cộng sinh bắt buộc với thực vật và thuộc ngành Glomeromycota. Nấm rễ ngoại cộng sinh (Ectomycorrhizal) là sợi nấm bao quanh rễ dinh dƣỡng chƣa hóa gỗ, không xuyên qua mô tế bào mà chỉ kéo dài giữa các vách tế bào. Để phát triển, đầu tiên bào tử nấm thâm nhập qua tế bào vỏ của rễ cây, sau đó màng sinh chất của tế bào chủ bao quanh sợi nấm, tạo ra những vòng xoắn của sợi nấm ở bên trong tế bào.

Nấm rễ cộng sinh vào rễ thực vật, hình thành hệ sợi, mở rộng thành mạng lƣới vào đất xung quanh rễ và hình thành một mối liên kế cơ bản và quan trọng giữa thực vật và môi trƣờng xung quanh nó. Sự nội cộng sinh nấm và rễ cây thực chất là hình thức hỗ sinh. Cả hai bên sử dụng chất dinh dƣỡng trong mối quan hệ tƣơng hỗ, nấm rễ giúp thực vật lấy dinh dƣỡng nhƣ photpho, sulfur, nitrogen và các vi lƣợng từ đất. Sự cộng sinh của nấm làm cải thiện khả năng hấp thụ và tuổi đời rễ, tăng cƣờng hấp thu các dinh dƣỡng đặc biệt là phốt phát và giảm khả năng nhiễm bệnh của cây [55,57].

Các nấm này đồng thời cũng giảm những ảnh hƣởng gây ra bởi các vi sinh vật nhiễm vào rễ, đất mặn, hay bởi nƣớc tù [46].2 Lịch sử nghiên cứu Thuật ngữ “Mycorrhiza” lần đầu tiên đƣợc Frank - nhà bệnh cây lâm nghiệp ngƣời Đức đƣa ra vào năm 1885 để chỉ mối quan hệ đặc biệt giữa rễ cây và nấm ngoại cộng sinh. Thuật ngữ này bắt nguồn từ chữ Hy Lạp: Mykes (nấm) và Rhiza (rễ). Năm 1887, Frank đã chỉ ra sự khác biệt giữa nấm ngoại cộng sinh và nấm nội 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cộng sinh, thực chất là sự khác biệt giữa Ericaceous và Orchid, từng đƣợc gọi là “Phycomycetous Endomycorrihiza” để phân biệt với dạng cộng sinh của nấm bậc cao với các loài trong họ Ericaceae và Orchidaceae. Những nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc đã dẫn đến sự thay đổi tên gọi của hình thức cộng sinh này.

Năm 1897, tác giả Janse đã gọi cấu trúc dạng bọng bên trong tế bào rễ của thực vật bị nhiễm nấm Mycorrhiza là “Vesicules” (gọi là thể V). Năm 1905, Gallaud gọi những cấu trúc dạng bụi (chùm) trong tế bào thƣờng đƣợc quan sát thấy là “Arbuscular” (gọi là thể A). Do vậy, tên gọi “Vesicular - Arbuscular Mycorrhiza” (viết tắt là VAM) đƣợc hình thành và tồn tại cho đến thời gian gần đây. Bên cạnh đó, một số bài báo và công trình khoa học khác còn sử dụng tên gọi “Vesicular - Arbuscular Mycorrhiza Fungi” để chỉ loại hình cộng sinh này [26].

Những nghiên cứu sau này cho thấy, thể A là đặc điểm chung nhất của các chi nấm AMF, còn sự hình thành thể V không thấy có mặt ở tất cả nấm nội cộng sinh. Do vậy, loại hình cộng sinh này còn có tên gọi là “Arbuscular Mycorrhiza” tuy nhiên tên này vẫn chƣa hoàn toàn thống nhất. Năm 2005, Hội nghị Quốc tế về Mycorrhiza lần thứ 17 đƣợc tổ chức tại Bồ Đào Nha đã quyết định lấy tên “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (AMF) để chỉ loại hình cộng sinh này. Do vậy, trong các tài liệu đƣợc công bố sau này, thuật ngữ “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (viết tắt là AMF) đã đƣợc thống nhất sử dụng thay cho thuật ngữ “Vesicular - Arbuscular Mycorrhiza” bắt đầu từ năm 2008 [30].3 Phƣơng pháp phân loại nấm rễ nội cộng sinh 1.1 Phân lập bào tử nấm rễ nội cộng sinh Nấm rễ nội cộng sinh có đặc điểm không thể nuôi cấy đƣợc trên các môi trƣờng nuôi cấy thông thƣờng mà chỉ có thể sinh trƣởng phát triển trong rễ cây nên việc phân lập nấm rễ nội cộng sinh phải gián tiếp dựa vào sự có mặt của các bào tử trong đất xung quanh rễ thực vật.

Hay nói các khác, việc phân lập nấm rễ nội cộng sinh đƣợc thực hiện thông qua việc phân lập các bào tử của loài nấm này. Bào tử AMF phân bố rộng rãi trong lòng đất, từ bề mặt phía trên đến độ sâu 2,2m. Tuy nhiên, 70-85% các bào tử là đƣợc tìm thấy ở lớp đất bề mặt 3-10 cm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do vậy, để phân lập AMF, lấy các mẫu đất đã đƣợc loại bỏ lớp bên ngoài (3 cm ở phía trên) để đảm bảo mật độ, cấu trúc quần thể nấm AMF không bị ảnh hƣởng của các yếu tố (ánh sáng, nhiệt độ,…).

Để phân lập AMF, trƣớc hết cần tách bào tử từ đất bằng phƣơng pháp sàng ƣớt và lọc. Phƣơng pháp này đƣợc Gerdemann, 1963 đã cải biên cho phù hợp với nấm nội cộng sinh [38]. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả Daniel và Skipper, 1982 và tiếp sau đó tác giả Tommerup, 1992 đã cải tiến thành phƣơng pháp sàng ƣớt (wet sieving) kết hợp với ly tâm trong thang nồng độ của sucrose (dịch 50%) [28,70]. Phƣơng pháp tích cực và hiệu quả nhất thƣờng đƣợc sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của Brundrett, 1996 là dùng sàng lọc với các kích cỡ màng khác nhau: 250µm, 100µm và 45µm đƣờng kính lỗ sàng kết hợp với ly tâm ở các nồng độ đƣờng khác nhau [28].

Bào tử AMF sau khi phân lập đƣợc phân loại dựa vào hình thái, kích thƣớc theo khóa phân loại của Monton, 1988; Schenck và Pertez, 1990 [51,62].1 Phân loại dựa trên đặc điểm hình thái học Lịch sử hình thành hệ thống phân loại này trƣớc hết phải kể đến việc hình thành chi Endogone năm 1808. Tiếp đó là chi Glomus do anh em Tulasne mô tả năm 1844. Đến năm 1849, tác giả Fries xây dựng nên họ Endogonaceae, sau đó họ này bị thay đổi do loài mới phát hiện có rất ít đặc điểm chung. Đây là thời điểm để hoàn thiện sự phân loại và phƣơng pháp nhận biết tất cả các loại bào tử của AMF.

Tuy nhiên, khi áp dụng phƣơng pháp này thì Gerdermann đã phát hiện ra rằng nhóm Endogone có số lƣợng loài rất lớn, cần phải xem xét lại và tác giả đã chia Endogone thành 7 chi với 3 chi không cộng sinh là Endogone, Modicella, Glaziella và 4 chi cộng sinh: Glomus, Sclerocystics, Gigaspora, Acaulospora (trong đó Gigaspora và Acaulospora là 2 chi mới). Với hệ thống phân loại của Gerdermann, Viện Nghiên cứu sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học Ấn Độ đã phân 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập từ đất vƣờn ƣơm 4 chi AMF: Glomus, Sclerocystics, Gigaspora, Acaulospora và 1 chi không cộng sinh (Endogone) [36]. Năm 1982, Trappe và Schenck đã đề xuất đƣa 5 loài AMF ra khỏi chi Sclerocystics để hình thành chi mới Scutellospora [71], đến năm 1987 Walker cũng đề xuất nhƣ trên [74]. Năm 1990, tác giả Morton và Benny đặt 5 chi của Walker vào 3 họ: Glomaceae, Gigasporaneae, Acaulosporaceae và 2 bộ phụ: Glomineae, Gigasporineae, trong đó 2 bộ phụ này đƣợc đặt trong bộ mới Glomales [52].

Thông thƣờng, việc phân loại nấm rễ nội cộng sinh chủ yếu dựa vào các đặc điểm hình thái và cấu trúc của các loại bào tử. Một trong những cơ sở quan trọng để phân loại theo hình thái là bảng màu của Morton [51].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đa dạng loài nấm rễ nội cộng sinh trong đất trồng ngô" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng của các loài nấm rễ nội cộng sinh, đặc biệt là trong môi trường đất trồng ngô. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của nấm rễ trong việc cải thiện sức khỏe cây trồng mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng trong việc tăng cường năng suất nông nghiệp. Bằng cách khám phá mối quan hệ giữa nấm và cây trồng, tài liệu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu và ứng dụng trong nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nông học định danh nấm rễ nội cộng sinh vesicular arbuscular mycorrhiza trên măng cụt, nơi nghiên cứu về ảnh hưởng của cơ chất đến sinh khối nấm rễ nội cộng sinh. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất và rễ cam tại quỳ hợp tỉnh nghệ an cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về hệ nấm cộng sinh trong các loại cây trồng khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của nấm rễ trong nông nghiệp.