Tổng quan nghiên cứu

Nấm rễ nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhizal Fungi - AMF) thuộc ngành Glomeromycota là nhóm vi sinh vật đất có mối quan hệ cộng sinh hỗ sinh với hơn 90% các loài thực vật bậc cao trên toàn cầu. Đối với cây ngô (Zea mays), loại cây lương thực chủ lực đứng thứ hai tại Việt Nam sau cây lúa, sự hiện diện của mạng lưới sợi nấm AMF trong vùng rễ đóng vai trò then chốt giúp gia tăng khả năng hấp thu khoáng chất, đặc biệt là nâng cao hiệu suất hấp thu phospho từ 35% đến 98%, đồng thời giúp cây trồng giảm từ 30% đến 45% tác hại do các bệnh rễ và khô hạn gây ra. Mặc dù sở hữu giá trị nông học to lớn, các dữ liệu thực nghiệm về cấu trúc quần xã, mật độ bào tử và tính đa dạng thành phần loài của AMF trong đất chuyên canh ngô tại vùng đồng bằng sông Hồng trước đây vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống.

Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Vi sinh vật học mã số 60420107 của học viên Lưu Thị Dung được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 1/2016 đến tháng 11/2017 tại Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự tài trợ kinh phí từ đề tài khoa học mã số QG 16.35 và sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Hoàng Yến cùng TS. Mai Thị Đàm Linh. Nghiên cứu đặt ra mục tiêu phân lập, giám định hình thái, định danh phân tử và đánh giá mức độ đa dạng thành phần loài AMF tại 30 điểm thu mẫu đất trồng ngô thuộc hai huyện Duy Tiên (tỉnh Hà Nam) và Thường Tín (thành phố Hà Nội). Kết quả thu thập và phân loại 3174 bào tử nấm rễ nội cộng sinh từ công trình không chỉ cung cấp cơ sở dữ liệu vi sinh vật học đất có giá trị học thuật cao, mà còn tạo tiền đề khoa học vững chắc để tuyển chọn các chủng nấm ưu thế bản địa phục vụ sản xuất phân bón vi sinh, hướng đến mục tiêu giảm thiểu từ 20% đến 30% lượng phân bón hóa học trong canh tác nông nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở lý luận của đề tài được xây dựng trên thuyết cộng sinh nấm - thực vật (Mycorrhizal Symbiosis) đã tồn tại hơn 400 triệu năm trong lịch sử tiến hóa tự nhiên. AMF là vi sinh vật cộng sinh nội bào bắt buộc, xâm nhiễm qua lớp biểu bì rễ vào mô vỏ để hình thành hai cấu trúc chuyên hóa đặc trưng: cấu trúc dạng chùm arbuscule thực hiện chức năng trao đổi ion khoáng và cấu trúc túi bọt vesicle có chức năng dự trữ năng lượng. Mối quan hệ hội sinh này vận hành theo cơ chế trao đổi hai chiều: thực vật chủ cung cấp từ 10% đến 20% sản phẩm quang hợp dạng cacbon hữu cơ cho nấm, đổi lại hệ sợi nấm ngoài rễ phát triển dày đặc với tổng chiều dài từ 1 đến 20 mét sợi nấm trên mỗi gam đất, vượt qua vùng cạn kiệt dinh dưỡng quanh rễ để huy động nguồn phospho vô cơ bị cố định, các ion kẽm, đồng và nước cung cấp ngược lại cho cây.

Hệ thống phân loại trong nghiên cứu áp dụng khung lý thuyết phân loại học của Morton và Benny (1990) kết hợp với các tiêu chuẩn mô tả hình thái của Trung tâm Dữ liệu Nấm rễ Quốc tế INVAM. Các khái niệm và chỉ số nghiên cứu cốt lõi bao gồm: mật độ bào tử (Spore Density - xác định bằng số lượng bào tử trên 100g đất), tần suất xuất hiện (Frequency of Occurrence - tỷ lệ phần trăm mẫu đất xuất hiện loài/chi nghiên cứu với ngưỡng loài ưu thế trên 10%), mật độ loài (Species Richness - số loài ghi nhận trên một đơn vị mẫu) và đặc điểm vi giải phẫu bào tử (kích thước đo bằng micromet, số lượng lớp vách từ 1 đến 4 lớp, màu sắc và phản ứng hóa học bắt màu với thuốc thử Melzer).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành thu thập cỡ mẫu thực nghiệm gồm 30 mẫu đất trồng ngô đại diện, chia đều cho 2 vùng sinh thái thổ nhưỡng: 15 mẫu tại huyện Duy Tiên (Hà Nam) và 15 mẫu tại huyện Thường Tín (Hà Nội). Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo các loại chất đất đặc trưng được áp dụng nhằm phản ánh chính xác tính đa dạng sinh học theo điều kiện vi khí hậu và thổ nhưỡng (bao gồm đất phù sa pha cát tơi xốp, đất thịt vàng nhạt, đất cát khô và đất cứng nén dẽ). Quy trình lấy mẫu thực địa tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật lấy mẫu vùng rễ: loại bỏ 3 cm tầng thảm mục bề mặt nhằm triệt tiêu các vi sinh vật hoại sinh, dùng dụng cụ vô trùng đào lấy khối đất bao quanh hệ rễ non ở độ sâu từ 3 đến 20 cm với khối lượng 500 gam mỗi mẫu, sau đó đưa về phòng thí nghiệm phơi khô tự nhiên trong bóng râm và bảo quản ở nhiệt độ từ 2 đến 5 độ C trong tối thiểu 4 ngày trước khi phân tích.

Quy trình phân tích kết hợp đồng bộ giữa phương pháp hình thái học truyền thống và kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại nhằm khắc phục triệt để nguy cơ nhầm lẫn do hiện tượng biến dị hình thái bào tử trong tự nhiên. Bào tử nấm được phân lập bằng phương pháp sàng ướt đa cấp qua hệ thống màng rây có kích thước mắt lưới giảm dần gồm 500, 250, 100 và 50 micromet, kết hợp ly tâm phân tầng trong thang dung dịch đường sucrose nồng độ 30% đến 50% ở tốc độ 2500 vòng/phút trong thời gian từ 2 đến 5 phút. Sau khi khử trùng bề mặt bằng cloramin 2% hoặc natri hypochlorit 0,005%, các bào tử đơn lẻ được nhuộm bằng dung dịch Melzer (pha chế từ 1,5g KI, 0,5g I2 và 20g cloral hydrat) và quan sát dưới kính hiển vi quang học Olympus. Đối với các chủng nấm có độ phong phú cao, kỹ thuật Nested-PCR (PCR lồng) được áp dụng với cặp mồi ngoài NS1/NS4 và cặp mồi trong đặc hiệu AML1/AML2 để nhân bản đoạn gen 18S rRNA có độ dài xấp xỉ 800 cặp bazơ (bp). Sản phẩm khuếch đại được điện di trên gel agarose 0,8%, tinh sạch và giải trình tự tự động trên máy ABI 3100 Avant, tiếp tục đối chiếu dữ liệu BLAST trên ngân hàng gen quốc tế và thiết lập cây phát sinh chủng loại bằng phần mềm Clustal X phiên bản 1.8 theo phương pháp Neighbor-Joining.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Từ 30 mẫu đất khảo nghiệm tại hai địa phương, nghiên cứu đã phân lập và thu nhận thành công 3174 bào tử nấm rễ nội cộng sinh AMF. Sự phân bố số lượng bào tử thể hiện tính phân hóa sâu sắc giữa hai vùng sinh thái: khu vực Duy Tiên (Hà Nam) ghi nhận số lượng vượt trội với 2486 bào tử (chiếm tỷ lệ 78,32% tổng số), trong khi khu vực Thường Tín (Hà Nội) chỉ thu được 688 bào tử (chiếm 21,68%). Mật độ bào tử trung bình tại Hà Nam đạt mức 165,75 bào tử/100g đất, cao gấp 3,61 lần so với mật độ trung bình tại Hà Nội là 45,83 bào tử/100g đất. Đáng chú ý, tại địa bàn Hà Nội, mật độ bào tử có sự phân tầng rõ rệt: ở 5 mẫu đất cát pha ẩm (từ mẫu N06 đến N10), số lượng bào tử tăng vọt lên 77,33 đến 102,00 bào tử/100g đất, cao hơn gấp 8 lần so với các mẫu đất thịt nén cứng chỉ đạt 9,33 đến 10,33 bào tử/100g đất (như mẫu N01, N02). Tại Hà Nam, mật độ bào tử duy trì ở mức rất cao, dao động từ 110,66 đến đỉnh điểm là 304,00 bào tử/100g đất tại mẫu N04.

Công trình đã giám định và định danh được 20 loài nấm rễ nội cộng sinh thuộc 6 chi chính: Acaulospora, Glomus, Gigaspora, Dentiscutata, Centraspora và Racocetra. Trong đó, hai chi Acaulospora và Glomus chiếm ưu thế tuyệt đối về tần suất xuất hiện và độ đa dạng loài. Các loài đặc trưng được mô tả chi tiết gồm: Acaulospora gerdemanii (kích thước 100-140 x 180-240 micromet, vách 2 lớp tế bào), Acaulospora morrowiae (kích thước 120-150 x 180-240 micromet, vách dày 4 lớp tạo xoáy đồng tâm), Glomus intraradices (kích thước 150-200 x 240-270 micromet), Gigaspora margarita (kích thước lớn từ 260 đến 400 micromet, vách sần sùi) và Racocetra gregaria (kích thước 120-180 x 150-220 micromet). Phân tích chuỗi trình tự vùng gen 18S rRNA cho thấy sự tương thích hoàn toàn giữa kết quả giám định hình thái học và dữ liệu phát sinh chủng loại phân tử với độ tương đồng chuỗi đạt trên 97% so với các chủng chuẩn trên GenBank.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt rõ rệt về mật độ bào tử giữa hai vùng nghiên cứu bắt nguồn từ các yếu tố lý hóa thổ nhưỡng và chế độ canh tác thực tế. Huyện Duy Tiên nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng và sông Châu Giang, sở hữu diện tích đất phù sa màu mỡ lên tới 6679 ha (chiếm 48,55% diện tích tự nhiên). Đất có kết cấu tơi xốp, giàu ẩm và độ thông khí cao, tạo môi trường vi sinh vật tối ưu kích thích hệ sợi nấm xâm nhiễm rễ ngô và hình thành mật độ bào tử cực đại đạt 304,00 bào tử/100g đất. Trái lại, vùng đất Thường Tín có tới 57,45% là đất phù sa chua, chịu tác động của cường độ thâm canh cao và sử dụng phân bón hóa học lâu năm, dẫn đến hiện tượng chai cứng đất, làm suy giảm mật độ bào tử AMF xuống mức 45,83 bào tử/100g đất.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, mật độ bào tử AMF trong đất trồng ngô tại Hà Nam (165,75 bào tử/100g) tương đương với mật độ trong đất trồng cà chua (173 bào tử/100g) và đất trồng lúa (181 bào tử/100g) tại Hà Nội do Trần Thị Như Hằng công bố năm 2012. Tuy nhiên, con số này thấp hơn so với mật độ tự nhiên tại rừng mưa nhiệt đới Tây Song Bản Nạp (Trung Quốc) của Zhao (2003) đạt trung bình 675 bào tử/100g đất, minh chứng cho thấy hoạt động canh tác nông nghiệp có tác động làm giảm mật độ bào tử tự nhiên. Để dữ liệu được minh họa sinh động trong các nghiên cứu mở rộng, toàn bộ các biến thiên này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh mật độ bào tử giữa các nhóm đất và bảng ma trận thể hiện tần suất xuất hiện của 20 loài AMF trên từng vùng sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa tiềm năng sinh học của nấm rễ nội cộng sinh bản địa phục vụ phát triển nông nghiệp xanh, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất:

  • Tuyển chọn và nhân nuôi sinh khối các chủng AMF bản địa ưu thế: Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học phối hợp cùng Bộ môn Vi sinh vật (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên) thực hiện quy trình phân lập thuần khiết và nhân giống in vivo các chủng có khả năng thích nghi cao như Glomus intraradices, Acaulospora morrowiae và Gigaspora margarita trên cây ký chủ ngô trong thời gian từ 6 đến 12 tháng, đặt mục tiêu tạo ra nguồn giống đạt mật độ từ 500 đến 1000 bào tử hoạt tính trên mỗi gam giá thể.
  • Sản xuất chế phẩm phân bón vi sinh vật AMF thế hệ mới: Các viện nghiên cứu nông nghiệp liên kết với các doanh nghiệp sản xuất phân bón sinh học trong giai đoạn 2019-2021 để chuẩn hóa quy trình công nghệ tạo chế phẩm dạng bột hoặc hạt bao bọc sợi nấm và bào tử, hướng tới mục tiêu nâng cao khả năng hòa tan và hấp thu lân của cây trồng thêm 25% đến 40%, đồng thời tiết giảm từ 20% đến 30% lượng phân lân vô cơ bón vào đất.
  • Triển khai mô hình canh tác ngô hữu cơ ứng dụng nấm rễ tại địa phương: Trung tâm Khuyến nông các tỉnh Hà Nam và Hà Nội chủ trì áp dụng quy trình xử lý hạt giống ngô kết hợp bón chế phẩm nấm rễ liều lượng từ 80 đến 140 kg/ha tại các vùng chuyên canh trong giai đoạn 2020-2022, hướng tới mục tiêu tăng năng suất hạt từ 5% đến 15% và giảm 40% tỷ lệ cây chết do bệnh thối đen gốc rễ.
  • Ban hành quy trình kỹ thuật canh tác bảo tồn hệ sinh thái vi sinh vật đất: Cơ quan khuyến nông hướng dẫn người nông dân giảm 50% số lần cày xới sâu quá 20 cm, hạn chế tối đa các loại thuốc trừ nấm hóa học phổ rộng và áp dụng chế độ luân canh ngô với các cây họ đậu nhằm duy trì mật độ bào tử AMF tự nhiên luôn ổn định trên mức 150 bào tử/100g đất qua các vụ mùa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Vi sinh vật học, Công nghệ sinh học và Khoa học đất: Luận văn cung cấp toàn bộ quy trình chuẩn hóa từ kỹ thuật lấy mẫu rễ tầng 3 đến 20 cm, phương pháp sàng ướt ly tâm gradient sucrose, đến kỹ thuật Nested-PCR khuếch đại đoạn gen 18S rRNA dài 800 bp phục vụ công tác giảng dạy và thực hiện các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các nhà khoa học tại Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Viện Bảo vệ Thực vật và Viện Công nghệ Sinh học: Nguồn tư liệu trực quan về hình thái học hiển vi, khóa phân loại của 20 loài AMF và bộ dữ liệu giải trình tự gen là cơ sở tham chiếu chính xác cho các nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học và phát sinh chủng loại vi nấm đất tại Việt Nam.
  • Cán bộ quản lý kỹ thuật tại các Trung tâm Khuyến nông và Chi cục Trồng trọt: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt mật độ bào tử từ 45,83 đến 165,75 bào tử/100g đất giữa các vùng đất cát pha và đất thịt chua, giúp cán bộ kỹ thuật xây dựng các giải pháp cải tạo đất và chuyển giao kỹ thuật bón phân vi sinh phù hợp cho từng tiểu vùng sinh thái.
  • Doanh nghiệp sản xuất phân bón sinh học và chế phẩm vi sinh nông nghiệp: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng về các đặc tính sinh học của các chi nấm ưu thế như Glomus và Acaulospora để lập dự án đầu tư công nghệ nhân sinh khối, sản xuất chế phẩm sinh học Mycorrhiza thương mại quy mô công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  • Nấm rễ nội cộng sinh AMF đem lại những lợi ích sinh học cụ thể nào đối với cây ngô? Hệ sợi nấm AMF phát triển kéo dài từ 1 đến 20 mét trên mỗi gam đất giúp mở rộng vùng hấp thu khoáng chất ngoài rễ, tăng cường hiệu quả hấp thu phospho vô cơ khó tan từ 35% đến 98%. Ngoài ra, AMF kích thích cây tiết enzyme phòng vệ giúp giảm từ 30% đến 45% nguy cơ nhiễm nấm bệnh vùng rễ và duy trì năng suất ngô tăng từ 5% đến 15% trong điều kiện hạn hán.

  • Tại sao nghiên cứu cần phối hợp cả phương pháp hình thái học và sinh học phân tử? AMF là vi sinh vật nội sinh bắt buộc không thể nuôi cấy trên đĩa thạch dinh dưỡng thông thường, trong khi bào tử tự nhiên dễ bị biến đổi hình thái do tác động môi trường. Việc kết hợp nhuộm Melzer nhận diện cấu trúc vách bào tử và thực hiện Nested-PCR mồi AML1/AML2 khuếch đại gen 18S rRNA dài 800 bp giúp đảm bảo độ chính xác định danh tuyệt đối với độ tương đồng chuỗi đạt trên 97%.

  • Mật độ bào tử AMF tại Duy Tiên (Hà Nam) và Thường Tín (Hà Nội) có sự chênh lệch như thế nào? Mật độ bào tử trung bình tại Duy Tiên đạt 165,75 bào tử/100g đất, cao gấp 3,61 lần so với mức 45,83 bào tử/100g đất tại Thường Tín. Nguyên nhân chính là do đất phù sa Duy Tiên tơi xốp, giữ ẩm tốt, trong khi đất tại Thường Tín bị nén dẽ và chịu ảnh hưởng tiêu cực từ việc thâm canh sử dụng nhiều phân bón vô cơ.

  • Loại đất canh tác nào ghi nhận mật độ bào tử AMF cao nhất trong kết quả nghiên cứu? Các mẫu đất phù sa pha cát tơi xốp và đất cát pha ẩm tạo môi trường thuận lợi nhất cho sự sinh sản của AMF. Nghiên cứu ghi nhận mẫu N04 tại Hà Nam đạt mật độ cao nhất lên đến 304,00 bào tử/100g đất, và các mẫu đất cát pha ẩm N06 đến N10 tại Hà Nội cũng đạt mật độ vượt trội từ 77,33 đến 102,00 bào tử/100g đất.

  • Quy trình phân lập bào tử nấm AMF từ đất trồng ngô được tiến hành qua các bước cơ bản nào? Quy trình gồm lấy 100g đất xử lý qua hệ thống rây lọc kích thước 500, 250, 100 và 50 micromet, sau đó chuyển phần cặn vào dung dịch đường sucrose nồng độ 30% đến 50% để ly tâm ở tốc độ 2500 vòng/phút trong 2 đến 5 phút. Bào tử thu được tiếp tục được khử trùng bề mặt bằng dung dịch cloramin 2% trước khi soi tách đơn bào tử dưới kính hiển vi.

Kết luận

  • Luận văn đã phân lập thành công 3174 bào tử và xác định được 20 loài nấm rễ nội cộng sinh thuộc 6 chi chính trong đất trồng ngô tại miền Bắc Việt Nam, khẳng định sự ưu thế của hai chi Acaulospora và Glomus.
  • Công trình chứng minh tính đa dạng sinh học và mật độ bào tử tại vùng đất phù sa Duy Tiên - Hà Nam (trung bình 165,75 bào tử/100g đất) cao vượt trội gấp 3,61 lần so với vùng đất Thường Tín - Hà Nội (trung bình 45,83 bào tử/100g đất).
  • Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quy trình chuẩn kết hợp giữa kỹ thuật sàng ướt ly tâm, phân loại hình thái học qua thuốc thử Melzer và định danh sinh học phân tử qua đoạn gen 18S rRNA bằng cặp mồi đặc hiệu AML1/AML2.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và nguồn dữ liệu thực nghiệm giá trị phục vụ lộ trình giai đoạn 2019-2025 về nghiên cứu sản xuất chế phẩm nấm rễ sinh học nhằm nâng cao năng suất ngô và giảm thiểu phân bón hóa học.
  • Các nhà khoa học, cơ quan quản lý nông nghiệp và doanh nghiệp phân bón vi sinh cần tăng cường liên kết để sớm đưa các chủng AMF bản địa ưu thế vào sản xuất thương mại, thúc đẩy nền nông nghiệp hữu cơ bền vững.