Luận văn thạc sĩ về hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất và rễ cam tại Nghệ An

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất và rễ cam tại quỳ hợp tỉnh nghệ an, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

68
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất và rễ cam

Hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza (AMF) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cây trồng, đặc biệt là cây cam tại Quỳ Hợp, Nghệ An. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu sự phân bố và tác động của AMF trong đất và rễ cam. AMF giúp cây hấp thu dinh dưỡng hiệu quả hơn, đặc biệt trong điều kiện đất nghèo dinh dưỡng. Việc nghiên cứu hệ nấm này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn cho sản xuất nông nghiệp.

1.1. Khái niệm về nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza

Nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza là loại nấm sống cộng sinh với rễ cây, giúp cây hấp thu nước và khoáng chất. Chúng tạo ra mối quan hệ tương hỗ, trong đó nấm cung cấp dinh dưỡng cho cây, trong khi cây cung cấp carbohydrate cho nấm.

1.2. Vai trò của AMF trong sinh thái đất

AMF có vai trò quan trọng trong việc cải thiện cấu trúc đất, tăng cường độ phì nhiêu và khả năng giữ nước. Chúng cũng giúp giảm thiểu tác động của các yếu tố bất lợi như hạn hán và đất nghèo dinh dưỡng.

II. Thách thức trong nghiên cứu hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza tại Nghệ An

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc nghiên cứu hệ nấm cộng sinh tại Nghệ An gặp phải một số thách thức. Đất trồng cam thường có độ pH thấp và thiếu hụt dinh dưỡng, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của AMF. Ngoài ra, việc xác định thành phần loài AMF trong đất cũng gặp khó khăn do sự đa dạng và phức tạp của chúng.

2.1. Đặc điểm đất trồng cam tại Quỳ Hợp

Đất trồng cam tại Quỳ Hợp thường có độ pH thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm mycorrhiza. Đặc điểm này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm ra giải pháp cải thiện.

2.2. Khó khăn trong việc xác định loài AMF

Việc xác định loài AMF trong đất trồng cam gặp khó khăn do sự đa dạng và biến đổi của chúng. Cần áp dụng các phương pháp sinh học phân tử để xác định chính xác thành phần loài.

III. Phương pháp nghiên cứu hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza

Nghiên cứu hệ nấm arbuscular mycorrhiza được thực hiện thông qua các phương pháp phân lập và xác định loài. Các mẫu đất và rễ cam sẽ được thu thập và phân tích để xác định sự hiện diện và phân bố của AMF. Phương pháp sinh học phân tử sẽ được áp dụng để xác định chính xác các loài nấm.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu đất và rễ

Mẫu đất và rễ cam sẽ được thu thập từ các khu vực khác nhau tại Quỳ Hợp. Việc thu thập mẫu cần đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ khu vực nghiên cứu.

3.2. Phân tích và xác định loài AMF

Các mẫu sẽ được phân tích bằng phương pháp sàng ướt và nhuộm màu để xác định sự hiện diện của AMF. Phương pháp sinh học phân tử sẽ được sử dụng để xác định chính xác các loài nấm.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của hệ nấm cộng sinh

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của nhiều loài AMF trong đất và rễ cam tại Quỳ Hợp. Những loài này có khả năng cải thiện sự phát triển của cây cam, giúp tăng năng suất và chất lượng quả. Việc ứng dụng AMF trong canh tác cam có thể giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại địa phương.

4.1. Thành phần loài AMF trong đất trồng cam

Nghiên cứu xác định được nhiều loài AMF có mặt trong đất trồng cam, cho thấy sự đa dạng sinh học của hệ nấm này. Những loài này có khả năng tương tác tốt với cây cam.

4.2. Tác động của AMF đến năng suất và chất lượng cam

Việc áp dụng AMF trong canh tác cam đã cho thấy sự cải thiện rõ rệt về năng suất và chất lượng quả. Điều này mở ra hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp bền vững.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza

Nghiên cứu hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất và rễ cam tại Quỳ Hợp đã chỉ ra tầm quan trọng của AMF trong việc cải thiện năng suất cây trồng. Các kết quả nghiên cứu mở ra nhiều triển vọng cho việc ứng dụng AMF trong sản xuất nông nghiệp tại Nghệ An.

5.1. Tầm quan trọng của AMF trong nông nghiệp

AMF không chỉ giúp cây trồng phát triển tốt hơn mà còn cải thiện chất lượng đất. Việc ứng dụng AMF trong nông nghiệp có thể giúp tăng cường độ phì nhiêu của đất.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về AMF

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các loài AMF và tác động của chúng đến các loại cây trồng khác nhau. Việc này sẽ giúp tối ưu hóa ứng dụng AMF trong sản xuất nông nghiệp.

16/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hệ nấm cộng sinh arbuscular mycorrhiza trong đất và rễ cam tại quỳ hợp tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TÊN GỌI ARBUSCULAR MYCORRHIZA FUNGI (AMF) Thuật ngữ “Mycorrhiza” lần đầu tiên đƣợc Frank – nhà bệnh cây lâm nghiệp ngƣời Đức – đƣa ra vào năm 1885 để chỉ mối quan hệ đặc biệt giữa rễ cây và nấm ngoại cộng sinh [53]. Sƣ̣ cộng sinh của Mycorrhiza với rễ đƣợc mô tả nhƣ (hình 1. Thuật ngữ này bắt nguồn từ chữ Hy Lạp: Mykes (nấm) và Rhiza (rễ).

Năm 1887, Frank đã chỉ ra sự khác biệt giữa nấm ngoại cộng sinh và nấm nội cộng sinh, thực chất là sự khác biệt giữa Ericaceous và Orchid, từng đƣợc gọi là “Phycomycetous Endomycorrihiza” để phân biệt với dạng cộng sinh của nấm bậc cao với các loài trong họ Ericaceae và Orchidaceae. Tuy nhiên, tên gọi này tồn tại không lâu vì không có ý nghĩa [33]. Những nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc đã dẫn đến sự thay đổi tên gọi của hình thức cộng sinh này. Năm 1897, tác giả Janse đã gọi cấu trúc dạng bọng bên trong tế bào rễ của thực vật bị nhiễm nấm Mycorrhiza là “Vesicules” (gọi là thể V).

Năm 1905, Gallaud gọi những cấu trúc dạng bụi (chùm) trong tế bào thƣờng đƣợc quan sát thấy là “Arbuscular” (gọi là thể A). Do vậy, tên gọi “Vesicular – Arbuscular Mycorrhiza” (viết tắt là VAM) đƣợc hình thành và tồn tại cho đến thời gian gần đây [19]. Bên cạnh đó, một số bài báo và công trình khoa học khác còn sử dụng tên gọi “Vesicular –A rbuscular Mycorrhiza Fungi” để chỉ loại hình cộng sinh này [23]. Những nghiên cƣ́u sau này cho thấy, thể A là đặc điểm chung nhất của các chi nhƣng không phải tất cả nấm nội cộng sinh đều hình thành thể V.

Do vậy, loại hình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 cộng sinh này có thể đƣợc đổi tên là “Arbuscular Mycorrhiza”. Nói chung, tên gọi của nó vẫn chƣa hoàn toàn thống nhất. Năm 2005, Hội nghị Quốc tế về Mycorrhiza lần thứ 17 đƣợc tổ chức tại Lisboa – Bồ Đào Nha đã quyết định lấy tên “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (AMF) để chỉ loại hình cộng sinh này. Do vậy, trong các tài liệu mới đƣợc công bố, thuật ngữ “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (viết tắt là AMF) đã đƣợc thống nhất sử dụng thay cho thuật ngữ “Vesicular – Arbuscular Mycorrhiza” vào năm 2008 [28].

Sƣ̣ cộng sinh của AMF trong rễ cây trồng. PHÂN LOẠI MYCORRHIZA Đặc điểm nhận dạng của một số loài bào tử AMF (dựa theo phân loại của Gerdemann, 1963) [32] bảng 1. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Đặc điểm nhận dạng của một số loại bào tử AMF Kích Tên chi Tên loài Hình dạng Mầu sắc thước Đặc điểm (µm) Có mầu nâu, mầu nâu đỏ, một số có Aggregatum Hình cầu, hình trứng, có cuống nhỏ 120-175 Thành bào tử mỏng, có 2 lớp.

mầu vàng nhạt Glomus Ambisporum Hình cầu hoặc hình trứng Mầu nâu, nâu đậm 100-150 Thành bào tử mỏng. Marcaropus Hình cầu hoặc hình trứng Nâu hoặc mầu vàng nhạt 100-125 Thành bào tử mỏng, có quả bào tử. Appendicul Hình cầu Có mầu vàng nhạt 150-175 Thành bào tử dày, 1-6 µm. a Delicate có quả bào tử, hình cầu Có mầu nâu, nâu đậm 100-175 Thành bào tử dày.

Dilatata Hình cầu, có quả bào tử Có mầu nâu, đen 125-200 Thành bào tử dày,có nhiều lớp. Acaulospora Có quả bào tử, hình cầu hoặc gần Myriocarpa, Có mầu nâu hoặc nâu nhạt 120-175 Thành bào tử dày, có vách ngăn. Bireticulata Hình cầu, dạng quả lê Có mầu nâu nhạt hoặc vàng nhạt 150-200 Thành bào tử dày, có 3-4 lớp. Hình cầu Có mầu nâu hoặc nâu nhạt 120-175 Thành bào tử mỏng,1-2 lớp colombiana Thành bào tử có 3 lớp chia làm 2 Hình cầu hoặc hình trứng Có mầu nâu nhạt hoặc mầu vàng nhạt 120-200 nhóm Entrophora schenckii.

Hình cầu ,hình tròn Có mầu nâu nhạt hoặc mầu vàng 150-200 Thành dày chia bào tử thành 3 lớp. Coccogena Bào tử có dạng hình cầu, gần hình Có mầu nâu nhạt 100-150 Thành bào tử mỏng có 2 lớp. Sclerocystis cầu, elip Thành bào tử có 3 lớp,chia làm 2 Coremioides Bào tử có hình cầu, Có mầu nâu, nâu đậm 120-180 nhóm. Thành bào tử có cấu trúc kiểu liên Glomites Rhyniensis Hình cầu hoặc hình elip Có mầu nâu đậm 150-200 tiếp, gồm nhiều lớp.

Bào tử thƣờng có hình cầu và gần Thành bào tử có 3 lớp chia làm 2 Candida, Có mầu nâu, nâu đậm, mầu nâu đỏ 120–160 Gigaspora hình cầu, một số có hình elip nhóm Thành bào tử có cấu trúc nối tiếp, Albida Bào tử có dạng hình cầu, hoặc elip Có mầu vàng nhạt 120-150 gồm 3 – 5 lớp. 5 Căn cứ về mặt hình thái có thể chia nấm rễ thành 3 loại chủ yếu: Nấm rễ ngoại cộng sinh, nấm rễ nội cộng sinh và nấm rễ nội ngoại cộng sinh. * Nấm rễ ngoại cộng sinh (Ectomycorrhiza): Đây là một loại nấm hình thành mạng lƣới Hartig trong gian bào tầng vỏ rễ và mô sợi nấm dày đặc trên bề mặt rễ của cây, không có mũ rễ, không có lông hút. Nấm r ễ ngoại cộng sinh thƣờng có màu sắc và hình dạng nhất định (có thể nhận thấy bằng mắt thƣờng).

* Nấm rễ nội cộng sinh (Endomycorrhiza): Đặc trƣng là không có sự biến đổi màu sắc và hình thái của rễ, có lông hút, không có thể sợi nấm và không có mạng lƣới Hartig. Nấm rễ nội cộng sinh gồm 2 loại là: nấm rễ nội cộng sinh không có màng ngăn (AEM) và sợi nấm nội cộng sinh có màng ngăn (SEM). Với loại SEM, khi giải phẫu sẽ thấy bên trong tế bào biểu bì rễ có các túi bọt (Vesicular) và chùm (Arbuscular). * Nấm rễ nội – ngoại cộng sinh (Ectendomycorrhiza): Mang đặc trƣng của 2 loại nội cộng sinh và ngoại cộng sinh về hình thái cũng nhƣ sinh lý.

Hiện nay, ngƣời ta nhận thấy có 7 hình thức cộng sinh: * Arbuscular Mycorrhiza Fungi (AMF): Cộng sinh kiểu tạo bụi (chùm). * Ectomycorrhizas (ECM): Nấm rễ ngoại cộng sinh. * Orchid Mycorrhizas: Nấm rễ cộng sinh với các cây họ Lan (Orchidaceae). * Ericoid Mycorrhizas: Nấm rễ cộng sinh với các cây thuộc bộ Đỗ Quyên (Ericales).

* Ectendo Mycorrhizas: Nấm rễ nội – ngoại cộng sinh. * Arbutoid Mycorrhizas: Nấm rễ có cả nội cộng sinh và ngoại cộng sinh nhƣng chỉ xuất hiện giới hạn trong các chi Arbutus, Arctostaphylos và Arctous của họ Đỗ Quyên (Ericaceae). * Monotropoid Mycorrhizas: Nấm rễ cộng sinh xuất hiện trong họ Monotropaceae của bộ Đỗ Quyên (Ericales). Theo thống kê của Harley (1959), khoảng 3% số cây có hoa ở các loài cây gỗ và cây bụi có ECM, 90% các loài cây thân cỏ có AMF, ngoài ra một số loài cây gỗ có cả ECM và AMF [32].

Biểu đồ cây phát sinh chủng loại AMF (http://www.au/research/mycorrhiza [62]) 7 1. PHÂN LOẠI BÀO TỬ AMF Thông thƣờng, việc phân loại nấm nội cộng sinh chủ yếu dựa vào các đặc điểm hình thái và cấu trúc (Bảng 1. Một trong những cơ sở quan trọng để phân loại theo hình thái là bảng màu của Morton. Phƣơng pháp ADN và giải phẫu sẽ đƣợc dùng để đánh giá quan hệ ở mức cao hơn do Smith và Tinker đề xuất 1997 [51].

Nhìn chung, hệ thống phân loại AMF đang áp dụng dựa trên cơ sở hệ thống phân loại của Morton và Benny đƣa ra vào năm 1990 và đƣợc hoàn chỉnh dần nhờ hàng loạt các nhà nghiên cứu tiếp đó [39]. Lịch sử hình thành hệ thống phân loại này trƣớc hết phải kể đến việc hình thành chi Endogone năm 1808. Tiếp đó là chi Glomus do anh em Tulasne mô tả năm 1844. Đến năm 1849, tác giả Fries xây dựng nên họ Endogonaceae, sau đó họ này bị thay đổi do loài mới phát hiện có rất ít đặc điểm chung.

Đây là thời điểm để hoàn thiện sự phân loại và phƣơng pháp nhận biết tất cả các loại bào tử của AMF. Tuy nhiên, khi áp dụng phƣơng pháp này thì Gerdermann đã phát hiện ra rằng Endogone có số lƣợng loài rất lớn, cần phải xem xét lại và tác giả đã chia Endogone thành 7 chi với 3 chi không cộng sinh: Endogone, Modicella, Glaziella và 4 chi cộng sinh: Glomus, Sclerocystics, Gigaspora, Acaulospora (trong đó Gigaspora và Acaulospora là 2 chi mới) [31]. Với hệ thống phân loại của Gerdermann, Viện Nghiên cứu sinh học – Viện Hàn lâm khoa học Ấn Độ đã phân lập từ đất vƣờn ƣơm 4 chi AMF: Glomus, Sclerocystics, Gigaspora, Acaulospora và 1 chi không cộng sinh (Endogone). 8 Năm 1982, Trappe và Schenck đã đề xuất đƣa 5 loài AMF ra khỏi chi Sclerocystics để hình thành chi mới Scutellospora [58], đến năm 1987 Walker cũng đề xuất nhƣ trên [60].

Năm 1990, tác giả Morton và Benny đặt 5 chi của Walker vào 3 họ: Glomaceae, Gigasporaneae, Acaulosporaceae và 2 bộ phụ: Glomineae, Gigasporineae, trong đó 2 bộ phụ này đƣợc đặt trong bộ mới Glomales [39]. Năm 1998,Trung tâm Nghiên cứu AMF của Đài Loan (Arbuscular mycorrhizal fungal Collection center in Taiwan – ACT) đề nghị công nhận 2 chi mới là Glomites và Jimtrappea. Hiện nay, hệ thống phân loại của ACT thƣờng đƣợc sử dụng ở các nƣớc châu Á. Năm 2008, Shipra Singh và đtg tiếp tục công bố thêm 2 họ AMF là: Archacosporaceae và Paraglomaceae với 2 chi mới là: Archacospora và Paraglomus [49].

CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MYCORRHIZA Phương pháp tách bào tử Muốn tiến hành phân loại thì công việc đầu tiên là tách bào tử từ đất. Thông thƣờng, bào tử đƣợc tách bằng sàng ƣớt và lọc. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để lọc tuyến trùng từ đất do Gerdermann đã cải biên cho phù hợp với nấm nội cộng sinh [32]. Trên cơ sở đó nhóm tác giả Daniel và Skipper (1982) và tiếp sau đó tác giả Tommerup (1992) đã cải tiến thành phƣơng pháp sàng ƣớt (wet sieving) qua rây kết hợp với ly tâm trong thang nồng độ của sucrose (dịch 50%) [25, 56].

Quan sát, đếm số lượng bào tử Tùy vào kích cỡ, quá trình quan sát bào tử có thể đƣợc thực hiện trên kính lúp hoặc kính hiển vi có độ phóng đại nhỏ. Số lƣợng bào tử đƣợc xác định bằng phƣơng pháp đếm trực tiếp trên màng lọc có chia ô của hãng Satorrius [24]. 9 Xác định dạng xâm nhiễm Để xác định các dạng xâm nhiễm, ngƣời ta tiến hành nhuộm Tryphan blue (0,005%) làm biến màu thể cần xác định trong rễ của cây chủ, do Philip và Hayman đề xuất cụ thể nhƣ sau: Đầu tiên, nấm rễ cộng sinh đƣợc rửa nhiều lần bằng nƣớc cất nhằm loại bỏ đất và các tạp chất hữu cơ bám trên bề mặt của rễ sau đó đun nóng bằng dung dịch KOH 10% ở nhiệt độ 90 oC trong vòng 2h, sau đó rửa bằng axít và biến màu bởi Tryphan blue, kết quả là sợi nấm sẽ bắt màu xanh [43]. Đối với thực vật có nhiều sắc tố trong rễ, Kormanik và cộng sự đề xuất phƣơng pháp sử dụng fuschin làm mất màu những mẫu rễ cây cần quan sát [35].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến nấm và vai trò của chúng trong nông nghiệp, đặc biệt là trong việc kiểm soát bệnh hại trên cây trồng. Những điểm chính bao gồm việc khảo sát đặc điểm sinh học của các loài nấm, khả năng kiểm soát của chúng đối với các bệnh nấm, cũng như các phương pháp nhân giống và nuôi trồng nấm hiệu quả. Độc giả sẽ nhận được lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về các loại nấm có thể hỗ trợ trong việc cải thiện năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Khóa luận tốt nghiệp nông học khảo sát đặc điểm sinh học và đánh giá khả năng kiểm soát của nấm chaetomium spp đối với một số loài nấm gây bệnh trên cây trồng, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin chi tiết về khả năng kiểm soát của nấm chaetomium. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp công nghệ sinh học xác định thành phần và định danh một số chi nấm arbuscular mycorrhiza am trong vùng đất trồng bưởi da xanh ở bến tre sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của nấm arbuscular mycorrhiza trong hệ sinh thái đất. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Khóa luận tốt nghiệp công nghệ sinh học khảo sát sự ảnh hưởng của nấm nội cộng sinh đến sinh trưởng của cây lúa ở các điều kiện mặn khác nhau, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của nấm đến sự phát triển của cây lúa trong điều kiện môi trường khác nhau. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá thêm về lĩnh vực nấm và ứng dụng của chúng trong nông nghiệp.