Tổng quan luận án

Công tác thi đua, khen thưởng là một bộ phận trọng yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý của Nhà nước và các đoàn thể cách mạng; đồng thời là nội dung cơ bản của công tác tư tưởng, một biện pháp lãnh đạo, chỉ huy của các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Đối với các trung đoàn bộ binh—lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các sư đoàn, quân khu, quân đoàn—công tác thi đua, khen thưởng trực tiếp chi phối sức mạnh chiến đấu, ý chí quyết tâm và phẩm chất người quân nhân cách mạng.

Khoảng trống nghiên cứu và yêu cầu thực tiễn xuất phát từ bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thách thức an ninh phi truyền thống, mặt trái của kinh tế thị trường cùng âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế tại các trung đoàn bộ binh cho thấy công tác thi đua, khen thưởng còn bộc lộ một số bất cập: nhận thức và trách nhiệm của một số cấp ủy, chỉ huy, hội đồng thi đua - khen thưởng có thời điểm chưa đầy đủ; nội dung, hình thức tiến hành còn đơn điệu, xơ cứng, chưa bám sát nhiệm vụ và đặc điểm đối tượng; nguy cơ phát sinh bệnh thành tích, che giấu khuyết điểm, chạy theo danh hiệu làm suy giảm hiệu lực thực tế của công tác này.

Từ đòi hỏi khách quan trên, đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước được xác định là: "Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay".

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về công tác thi đua, khen thưởng và việc đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; khái quát giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và xác định những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng và đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  3. Đánh giá đúng thực trạng công tác thi đua, khen thưởng; xác định nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm tiến hành công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  4. Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Các vấn đề lý luận, thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng và đổi mới công tác này ở các trung đoàn bộ binh đủ quân thuộc các sư đoàn bộ binh.
  • Phạm vi không gian khảo sát: Khảo sát thực tế tại các trung đoàn bộ binh thuộc 8 sư đoàn: Sư đoàn bộ binh 3 (Quân khu 1), Sư đoàn bộ binh 395 (Quân khu 3), Sư đoàn bộ binh 2 (Quân khu 5), Sư đoàn bộ binh 5 (Quân khu 7), Sư đoàn bộ binh 330 (Quân khu 9), Sư đoàn bộ binh 312 (Quân đoàn 1), Sư đoàn bộ binh 325 (Quân đoàn 2) và Sư đoàn bộ binh 9 (Quân đoàn 4).
  • Phạm vi thời gian: Tư liệu và số liệu điều tra, khảo sát thực tế được thu thập chủ yếu từ năm 2015 đến thời điểm thực hiện luận án.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa khối lượng tài liệu trong và ngoài nước thành hai nhóm hướng nghiên cứu chính:

1. Các công trình khoa học ở nước ngoài

  • Nghiên cứu chung về thi đua, khen thưởng: X. Xu-rơ-ni-tren-cô (1982) phân tích hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô, nhấn mạnh nguyên tắc tổ chức thi đua của V.I. Lênin gồm công khai, so sánh kết quả và phổ biến kinh nghiệm. Đặng Tiểu Bình (1995) khẳng định phương châm lấy cổ vũ tinh thần làm chính, cổ vũ vật chất làm phụ, thưởng phạt nghiêm minh. Vương Lạc Phu và Tưởng Nguyệt Thần (2000) luận giải vai trò giáo dục của điển hình tiên tiến và 3 cách thức khen thưởng (danh dự, vật chất, đề bạt). Cục Cán bộ - Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005) nhấn mạnh phương pháp nêu gương điển hình tránh thổi phồng. Sẳmlan Phănkhảvông (2013) nghiên cứu xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách thi đua, khen thưởng cấp tỉnh tại Lào theo Nghị định số 253/TTCP ngày 19/9/2011. Adrian Gostick và Chester Elton (2017) trình bày mô hình quản trị qua cuốn Câu chuyện nhà quản lý Cà rốt và nghệ thuật khen thưởng, đưa ra 151 cách thức khen thưởng người lao động.
  • Nghiên cứu về thi đua, khen thưởng trong lực lượng vũ trang: Các tài liệu nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội Liên Xô của A. (1979) cùng các tài liệu tâm lý học - giáo dục học quân sự Xô-viết phân tích nguyên tắc tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa trong binh chủng, hạm đội và tác động tâm lý của việc thưởng phạt công bằng. Chương Tư Nghị (2006) tổng kết công tác chính trị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc với "Tám kinh nghiệm thực hiện đường lối quần chúng" thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Sỏnxay Chănnhalạt (2012) và Thimsảo Đuôngchămpa (2016) nghiên cứu công tác giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào, ghi nhận số liệu tại dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội Lào có 25,99% hạ sĩ quan, binh sĩ được khen thưởng (15,23% tặng Bằng khen, 10,76% tặng Giấy khen). Các nghiên cứu về lý luận quân sự Trung Hoa phân tích hệ thống thưởng phạt từ thời cổ điển đến thời kỳ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình gắn với vai trò của đội ngũ chính ủy.

2. Các công trình khoa học trong nước

  • Nghiên cứu về thi đua, khen thưởng cấp Nhà nước: Mai Trường Giang và Viết Anh Đức (2011) giới thiệu các điển hình qua báo cáo tổng kết giai đoạn 2005 - 2010. Đề tài khoa học do Trần Thị Hà chủ nhiệm (2013) khảo sát cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng giai đoạn hiện nay và kinh nghiệm quốc tế. Nguyễn Khắc Hà (2015) luận giải tiêu chuẩn xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng. Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương (2018) tổng kết 70 năm phong trào thi đua yêu nước (1948 - 2018) qua 9 kỳ đại hội toàn quốc. Việt Hà và Mai Chi (2020) đề xuất 6 biện pháp khen thưởng cấp nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2020) chỉ đạo 5 nhiệm vụ trọng tâm tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Xuân Hồng và Thế Kiệt (2021) phân tích giải pháp đẩy mạnh phong trào thi đua theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nguyễn Thế Anh (2021) nghiên cứu việc thực thi pháp luật về thi đua, khen thưởng tại Việt Nam và so sánh với hệ thống pháp luật của Cuba, Trung Quốc, Thái Lan, Anh, Pháp, Hoa Kỳ.
  • Nghiên cứu về thi đua, khen thưởng trong Quân đội: Đề tài khoa học do Mai Hồng Bỉnh chủ nhiệm (2011) xác định tiêu chí đánh giá chất lượng công tác thi đua, khen thưởng tại đơn vị cơ sở quân đội. Đinh Tiến Dũng (2016) chỉ rõ hạn chế về sự chồng chéo, phân tán giữa các phong trào thi đua trong công tác tư tưởng - văn hóa quân đội giai đoạn 1975 - 2015. Cục Tuyên huấn - Tổng cục Chính trị (2018) xác định thi đua, khen thưởng là 1 trong 9 nội dung cơ bản của công tác tư tưởng. Bùi Quang Cường (2019) nghiên cứu các bước tổ chức phong trào thi đua trong xây dựng quân đội về chính trị. Phạm Tiến Dũng (2019) tổng kết kinh nghiệm tổ chức phong trào Thi đua Quyết thắng tại Học viện Chính trị giai đoạn 2014 - 2019. Kỷ yếu Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ X của Tổng cục Chính trị (2020) thống kê 39 báo cáo tập thể, 25 báo cáo cá nhân điển hình; danh sách 3 tập thể phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (Tổng cục II, Viện 78, Cục Đối ngoại), 17 cá nhân Chiến sĩ Thi đua toàn quốc giai đoạn 2015 - 2020, cùng 157 tập thể và 143 cá nhân điển hình tiên tiến. Nguyễn Trọng Nghĩa (2020) đề xuất 5 biện pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng toàn quân. Nguyễn Đình Khiêm (2021) phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ Sư đoàn bộ binh 395. Nguyễn Minh Trí (2022) luận giải mối quan hệ biện chứng "Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch".

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trên tiếp cận công tác thi đua, khen thưởng ở phạm vi toàn quốc, toàn quân hoặc đơn vị cấp cơ sở nói chung. Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống, toàn diện về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng tại các trung đoàn bộ binh đủ quân trong Quân đội nhân dân Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, động lực của thi đua xã hội chủ nghĩa và các nguyên tắc tổ chức thi đua.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc và khen thưởng, bao gồm quan điểm "Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua" và các văn bản chỉ đạo ban đầu như Quốc lệnh ngày 26/01/1946 quy định 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt.
  • Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; các nghị quyết, chỉ thị về công tác đảng, công tác chính trị, công tác tư tưởng trong quân đội.
  • Hệ thống pháp luật Nhà nước về thi đua, khen thưởng (Luật Thi đua, khen thưởng) và các văn bản quy phạm pháp luật, điều lệnh, quy chế của Bộ Quốc phòng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị và lý luận về thi đua, khen thưởng.
  • Phương pháp lôgíc và lịch sử: Khảo sát quá trình vận động của phong trào thi đua và công tác khen thưởng qua các giai đoạn.
  • Phương pháp thống kê và so sánh: Phân tích các dữ liệu định lượng, đối chiếu kết quả khảo sát thực tế giữa các trung đoàn bộ binh.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập số liệu qua phiếu điều tra, bảng hỏi tại các cơ quan, đơn vị bộ binh.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn và chuyên gia: Tổng hợp báo cáo tổng kết của các đơn vị và tham vấn ý kiến của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chuyên trách.

Nguồn dữ liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị.
  • Các báo cáo sơ kết, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng và công tác đảng, công tác chính trị của các sư đoàn (3, 395, 2, 5, 330, 312, 325, 9), quân khu, quân đoàn và toàn quân từ năm 2015 đến nay.
  • Số liệu điều tra xã hội học trực tiếp của tác giả tại các trung đoàn bộ binh thuộc 8 sư đoàn được lựa chọn khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm luận chi tiết các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến thi đua, khen thưởng trong xã hội và trong lực lượng vũ trang. Tác giả khái quát 4 giá trị kế thừa chủ yếu từ các công trình đi trước: (1) Cơ sở lý luận về bản chất, nguyên tắc thi đua, khen thưởng; (2) Cơ sở khoa học để xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu ở cấp trung đoàn bộ binh; (3) Căn cứ thực tiễn đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; (4) Căn cứ đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng. Trên cơ sở đó, chương 1 khẳng định tính độc lập của đề tài và xác định 4 vấn đề trọng tâm cần tập trung giải quyết.

Chương 2: Những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng và đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Tiết 2.1 phân tích vai trò, chức năng của trung đoàn bộ binh trong cơ cấu tổ chức quân đội qua 4 nội dung cốt lõi:

  1. Trung đoàn bộ binh là lực lượng nòng cốt quyết định sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu của các sư đoàn bộ binh.
  2. Là nơi trực tiếp quán triệt và hiện thực hóa đường lối, chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng, Nhà nước và cấp trên vào thực tiễn.
  3. Là môi trường trực tiếp quản lý, giáo dục, huấn luyện, rèn luyện quân nhân, tạo nguồn phát triển cán bộ cho quân đội và địa phương.
  4. Là lực lượng chủ yếu xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân và củng cố cơ sở chính trị địa phương nơi đóng quân.

Luận án chuẩn hóa khái niệm công tác thi đua, khen thưởng ở trung đoàn bộ binh; xác định rõ mục đích, chủ thể (cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, ban chính trị, hội đồng thi đua - khen thưởng), đối tượng (sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ) và lực lượng tham gia.

Cấu trúc công tác thi đua, khen thưởng tại trung đoàn bộ binh được cấu thành bởi 5 nội dung chính:

  • Lãnh đạo, chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng;
  • Quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các hoạt động thi đua, khen thưởng;
  • Xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng cán bộ đảm nhiệm công tác thi đua, khen thưởng;
  • Kiểm tra, giám sát, giải quyết những vấn đề nảy sinh;
  • Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm.

Hình thức khen thưởng tại trung đoàn bộ binh gồm: Huân chương, Huy chương, Danh hiệu Vinh dự Nhà nước, Giải thưởng Nhà nước, Kỷ niệm chương, Bằng khen, Giấy khen. Về hình thức thi đua, bao gồm thi đua thường xuyên và thi đua theo đợt (chuyên đề).

Đặc điểm chi phối công tác này gồm: (1) Tiến hành dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp, chặt chẽ của cấp ủy, chỉ huy cấp trung đoàn và sư đoàn; (2) Đối tượng và lực lượng tham gia chủ yếu là hạ sĩ quan, binh sĩ—lực lượng chiếm từ 85% đến 90% quân số đơn vị, tuổi đời từ 18 đến 25 tuổi, giàu nhiệt huyết nhưng kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều.

Tiết 2.2 luận giải quan niệm đổi mới và các nguyên tắc có tính định hướng: giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; bám sát nhiệm vụ chính trị trọng tâm (huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu); phát huy tính tự giác, sáng tạo của bộ đội; kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần với khuyến khích vật chất; bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng, chính xác.

Chương 3: Thực trạng công tác thi đua, khen thưởng và một số kinh nghiệm tiến hành công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Tiết 3.1 đánh giá thực trạng dựa trên khảo sát thực tế tại các trung đoàn bộ binh thuộc 8 sư đoàn:

  • Ưu điểm: Cấp ủy, người chỉ huy cơ bản nhận thức đúng vai trò của thi đua, khen thưởng; tổ chức quán triệt nghiêm các chỉ thị, kế hoạch; duy trì đều đặn phong trào Thi đua Quyết thắng gắn với nhiệm vụ huấn luyện, trực sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, cứu hộ cứu nạn; phát hiện và biểu dương được các điển hình tiên tiến; thực hiện quy trình bình xét, trao tặng danh hiệu theo phân cấp.
  • Hạn chế: Công tác lãnh đạo có thời điểm thiếu chủ động; hình thức phát động thi đua ở một số nơi còn rập khuôn, hình thức, chưa theo kịp tâm lý giới trẻ; việc chấm điểm thi đua còn cảm tính; tỷ lệ khen thưởng chưa thực sự cân đối (có nơi còn tập trung cho cán bộ chỉ huy, chưa phủ đều tới hạ sĩ quan, binh sĩ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ); còn hiện tượng nể nang, giấu khuyết điểm để giữ thành tích thi đua cho đơn vị.

Tiết 3.2 chỉ rõ nguyên nhân khách quan (mặt trái kinh tế thị trường, tính chất phức tạp của nhiệm vụ quân sự) và nguyên nhân chủ quan (nhận thức chưa sâu của cán bộ chủ trì, năng lực tham mưu của cơ quan chính trị và hội đồng thi đua - khen thưởng còn hạn chế, công tác kiểm tra chưa thường xuyên). Từ đó, tác giả đúc kết các bài học kinh nghiệm về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đổi mới quy trình đánh giá và bảo đảm tính thực chất, dân chủ trong khen thưởng.

Chương 4: Yêu cầu và những giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Tiết 4.1 phân tích các yếu tố tác động: yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; sự tác động của công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại; sự biến đổi tâm lý, nhận thức của thế hệ quân nhân trẻ hiện nay. Từ đó xác định các yêu cầu đổi mới: bảo đảm tính đảng, tính khoa học, tính thực tiễn và tính hiệu quả.

Tiết 4.2 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gồm:

  1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì và các lực lượng: Đẩy mạnh giáo dục động cơ thi đua đúng đắn; kiên quyết loại bỏ bệnh thành tích, tư tưởng ganh đua tiêu cực.
  2. Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành phong trào thi đua: Bám sát nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy; lồng ghép phong trào Thi đua Quyết thắng với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ".
  3. Đổi mới công tác khen thưởng, bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai, dân chủ: Chú trọng khen thưởng các tập thể, cá nhân trực tiếp làm nhiệm vụ nơi khó khăn, đột xuất; điều chỉnh tỷ lệ khen thưởng hợp lý cho hạ sĩ quan, binh sĩ; kết hợp hài hòa giữa vinh danh tinh thần và hỗ trợ vật chất.
  4. Củng cố, kiện toàn và phát huy năng lực tham mưu của hội đồng (tổ) thi đua - khen thưởng, ban chính trị: Thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm.
  5. Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện và ứng dụng công nghệ thông tin: Hiện đại hóa quy trình lưu trữ hồ sơ, quản lý dữ liệu thi đua, khen thưởng, tạo thuận tiện cho việc thẩm định và bình xét.

Tổng hợp các số liệu thực tế được dẫn chứng trong luận án

Nguồn / Dữ liệu trích dẫn Đối tượng / Đơn vị Số liệu / Chi tiết được văn bản ghi nhận
Phạm vi khảo sát thực tế của luận án 8 sư đoàn bộ binh trong QĐNDVN Sư đoàn 3 (QK1), Sư đoàn 395 (QK3), Sư đoàn 2 (QK5), Sư đoàn 5 (QK7), Sư đoàn 330 (QK9), Sư đoàn 312 (QĐ1), Sư đoàn 325 (QĐ2), Sư đoàn 9 (QĐ4)
Đặc điểm quân số trung đoàn bộ binh Hạ sĩ quan, binh sĩ (HSQ, BS) Chiếm 85% - 90% quân số trung đoàn bộ binh; tuổi đời từ 18 - 25 tuổi
Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần X (2020) Toàn quân 39 báo cáo tập thể, 25 báo cáo cá nhân; 3 tập thể phong tặng Anh hùng LLVTND; 17 Chiến sĩ Thi đua toàn quốc (2015-2020); 157 tập thể và 143 cá nhân điển hình tiên tiến
Thimsảo Đuôngchămpa (2016) Hạ sĩ quan, binh sĩ QĐND Lào 25,99% HSQ, BS được khen thưởng dịp kỷ niệm 65 năm (15,23% tặng Bằng khen, 10,76% tặng Giấy khen)
Adrian Gostick, Chester Elton (2017) Khen thưởng nhân sự 151 cách thức khen thưởng người lao động
Chủ tịch Hồ Chí Minh (26/01/1946) Quốc lệnh Quy định 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 3 đóng góp mới về mặt khoa học chính trị và thực tiễn:

  1. Xây dựng và làm rõ hệ thống quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng đặc thù ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  2. Rút ra các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ thực tiễn tiến hành công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh đủ quân giai đoạn từ năm 2015 đến nay.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cùng các biện pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong tình hình mới.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:

  • Về lý luận: Làm sâu sắc thêm lý luận chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước về công tác tư tưởng và công tác thi đua, khen thưởng trong các đơn vị chiến đấu cơ bản của quân đội.
  • Về thực tiễn: Cung cấp luận cứ khoa học giúp đảng ủy, chỉ huy, ban chính trị và hội đồng thi đua - khen thưởng ở các trung đoàn, sư đoàn bộ binh vận dụng trực tiếp vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao hiệu quả phong trào Thi đua Quyết thắng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế về phạm vi nghiên cứu

  • Luận án tập trung khảo sát ở các trung đoàn bộ binh đủ quân thuộc các sư đoàn bộ binh; không bao quát các trung đoàn bộ binh khung thường trực (dự bị động viên) hoặc các trung đoàn binh chủng kỹ thuật chuyên ngành.
  • Mẫu khảo sát định lượng và dữ liệu thực tế giới hạn trong 8 sư đoàn bộ binh (thuộc 5 quân khu và 3 quân đoàn) từ năm 2015 đến thời điểm nghiên cứu; chưa mở rộng đối sánh tới các đơn vị hải quân đánh bộ hoặc bộ binh cơ giới độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế thi đua, khen thưởng đối với các trung đoàn bộ binh trong điều kiện tác chiến hiện đại, tác chiến không gian mạng và chiến tranh công nghệ cao.
  • Nghiên cứu ứng dụng chuyển đổi số và các nền tảng công nghệ thông tin chuyên ngành trong quản lý, chấm điểm, bình xét thi đua, khen thưởng tại đơn vị cơ sở quân đội.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và nghiệp vụ thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Công tác đảng, công tác chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Giảng viên các học viện, trường sĩ quan quân đội: Trực tiếp sử dụng làm tài liệu giảng dạy, biên soạn giáo trình môn học Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (nhất là tại Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2).
  • Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy: Chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cán bộ tuyên huấn, trợ lý công tác quần chúng tại các trung đoàn, sư đoàn bộ binh tham khảo để đổi mới nội dung giao ước thi đua, quy trình chấm điểm và bình xét khen thưởng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực tế tại những cơ quan, đơn vị cụ thể nào và trong khoảng thời gian nào?

Dữ liệu khảo sát thực tế của luận án được thu thập từ năm 2015 đến nay tại các trung đoàn bộ binh thuộc 8 sư đoàn: Sư đoàn bộ binh 3 (Quân khu 1), Sư đoàn bộ binh 395 (Quân khu 3), Sư đoàn bộ binh 2 (Quân khu 5), Sư đoàn bộ binh 5 (Quân khu 7), Sư đoàn bộ binh 330 (Quân khu 9), Sư đoàn bộ binh 312 (Quân đoàn 1), Sư đoàn bộ binh 325 (Quân đoàn 2) và Sư đoàn bộ binh 9 (Quân đoàn 4).

2. Hạ sĩ quan, binh sĩ có vai trò và tỷ lệ như thế nào trong công tác thi đua, khen thưởng ở trung đoàn bộ binh?

Theo số liệu của luận án, hạ sĩ quan, binh sĩ chiếm từ 85% đến 90% quân số của trung đoàn bộ binh, có tuổi đời còn trẻ (từ 18 đến 25 tuổi). Đây là lực lượng vừa là đối tượng tác động, vừa là lực lượng tham gia chủ yếu và trực tiếp nhất trong toàn bộ các phong trào thi đua và hoạt động khen thưởng của trung đoàn.

3. Cấu trúc nội dung công tác thi đua, khen thưởng ở trung đoàn bộ binh gồm những khâu nào?

Nội dung công tác này gồm 5 khâu liên hoàn: (1) Lãnh đạo, chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng; (2) Quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện; (3) Xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng cán bộ đảm nhiệm; (4) Kiểm tra, giám sát, giải quyết những vấn đề nảy sinh; (5) Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm.

4. Hệ thống danh hiệu và hình thức khen thưởng nào được áp dụng ở cấp trung đoàn bộ binh?

Hình thức khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh gồm: Huân chương, Huy chương, Danh hiệu Vinh dự Nhà nước, Giải thưởng Nhà nước, Kỷ niệm chương, Bằng khen và Giấy khen. Về hình thức thi đua, đơn vị tiến hành thông qua hai hình thức là thi đua thường xuyên và thi đua theo đợt (chuyên đề).

5. Dữ liệu Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ X (2020) được luận án dẫn chứng gồm những số liệu nào?

Kỷ yếu đại hội ghi nhận 39 báo cáo tập thể và 25 báo cáo cá nhân điển hình tiên tiến; công bố danh sách 3 tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (Tổng cục II, Viện 78, Cục Đối ngoại); 17 cá nhân được tặng danh hiệu "Chiến sĩ Thi đua toàn quốc" giai đoạn 2015 - 2020; cùng 157 tập thể và 143 cá nhân điển hình tiên tiến tham dự đại hội.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, giải quyết trực tiếp các vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách tại các đơn vị chiến đấu chủ lực. Công trình đã làm rõ vị trí đặc thù của trung đoàn bộ binh, xác định chuẩn xác các khâu, các bước tổ chức thi đua, khen thưởng và đánh giá khách quan thực trạng tại 8 sư đoàn bộ binh đại diện cho các quân khu, quân đoàn. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ nâng cao nhận thức, đổi mới hình thức thi đua, điều chỉnh cơ cấu khen thưởng đến củng cố cơ quan tham mưu và bảo đảm cơ sở vật chất, đóng góp nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn lãnh đạo, chỉ huy quân đội.