Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường (mã số: 9850101) của nghiên cứu sinh Lê Thanh Huyền với đề tài "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử lý nitơ vô cơ trong quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển" được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Mạnh Hào và GS.TS. Lê Mai Hương (TS. Lê Mai Hương), bảo vệ năm 2022.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hoạt động nuôi trồng thủy sản nước lợ tại Việt Nam phát triển nhanh chóng; tính đến năm 2019, tổng diện tích nuôi trên toàn quốc đạt khoảng 720 nghìn ha với sản lượng khoảng 750 nghìn tấn. Trong đó, diện tích nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh đạt hơn 217,4 nghìn ha (chiếm 30% diện tích) và sản lượng đạt 450 nghìn tấn (chiếm 62% tổng sản lượng nuôi tôm cả nước). Kim ngạch xuất khẩu tôm đạt trên 3,36 tỷ USD năm 2019 và được dự báo đạt trên 8,4 tỷ USD vào năm 2025, trên 12 tỷ USD vào năm 2030. Đi kèm với sự phát triển này là lượng chất thải phát sinh hàng trăm ngàn tấn mỗi năm. Trong thức ăn thủy sản, chỉ có khoảng 25% lượng đạm được chuyển hóa thành sinh khối động vật nuôi, còn lại khoảng 75% lượng đạm bị thải ra môi trường nước.
Tại thành phố Hải Phòng, với đường bờ biển dài hơn 250 km, diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2021 đạt 11.430,3 ha; diện tích nuôi tôm các loại đạt 2.289,5 ha (tôm sú 1.888,1 ha; tôm thẻ chân trắng 401,4 ha) với sản lượng tôm đạt 6.130,4 tấn (tôm sú 520,4 tấn; tôm thẻ chân trắng 5.610 tấn). Phần lớn các cơ sở nuôi thâm canh (chiếm 80% sản lượng) chưa có hệ thống xử lý nước thải và bùn thải đạt chuẩn, xả trực tiếp ra môi trường. Hằng năm, ngành nuôi trồng thủy sản tại Hải Phòng sử dụng khoảng 100 tấn hóa chất diệt tạp, 10.000 tấn vôi bột, 200 tấn chlorine, 3,5 tấn thuốc tím và phát sinh khoảng 180 triệu m3 nước thải cùng gần 40.000 tấn bùn thải. Các nguồn thải từ lục địa ra biển chiếm 60 - 70%, trong đó hệ thống sông Thái Bình qua cửa Cấm và Bạch Đằng đóng góp 53 - 63%, các chất hữu cơ, nitơ và phốt pho chiếm 27 - 48%.
Công nghệ nuôi tuần hoàn hoàn lưu (RAS) là giải pháp giúp tái sử dụng nước và giảm thiểu xả thải. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của RAS là việc kiểm soát các hợp chất nitơ vô cơ độc hại gồm ammonia (NH4+/NH3) và nitrite (NO2-). Nhóm vi khuẩn nitrate hóa tự dưỡng có tốc độ sinh trưởng rất chậm (thời gian thế hệ kéo dài 12 - 32 giờ, chậm hơn các vi khuẩn dị dưỡng 5 - 10 lần), sinh khối thấp và dễ bị ức chế bởi điều kiện môi trường bất lợi. Các chế phẩm sinh học thương mại từ chủng thuần khiết thường kém thích ứng với môi trường nước lợ bản địa, dễ bị rửa trôi khi vi khuẩn ở trạng thái lơ lửng tự do. Do đó, việc nghiên cứu làm giàu quần xã vi khuẩn nitrate hóa từ hệ vi sinh vật bản địa và tạo màng dính bám trên các giá thể thích hợp là khoảng trống kỹ thuật cần giải quyết để ứng dụng RAS trong quản lý môi trường ven biển.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: Nghiên cứu tạo màng nitrate hoá ứng dụng vào hệ thống nuôi trồng thuỷ sản hoàn lưu vùng ven biển để xử lý hiệu quả các hợp chất nitơ vô cơ.
Luận án thực hiện 4 nội dung nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Nội dung 1: Nghiên cứu quy trình làm giàu quần xã vi khuẩn nitrate hoá từ môi trường ven biển.
- Nội dung 2: Nghiên cứu tạo màng nitrate hoá trên giá thể nhằm định hướng ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản nước lợ.
- Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả xử lý TAN và nitrite của màng lọc nitrate hoá trong hệ thống nuôi hải sản hoàn lưu quy mô 1m3.
- Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả xử lý TAN và nitrite của màng lọc nitrate hoá trong hệ thống nuôi hải sản hoàn lưu quy mô 100m3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ vi sinh vật nitrate hóa bản địa thu thập tại vùng ven biển Hải Phòng; các vật liệu sẵn có trong nước có tiềm năng làm giá thể dính bám vi sinh vật (đá sỏi, mảnh vụn san hô chết, hạt nhựa kaldnes, xốp bọt biển, xơ dừa); quy trình xử lý nước tuần hoàn nuôi tôm thẻ chân trắng và cá rô phi.
- Phạm vi không gian: Tập trung tại vùng ven biển Hải Phòng; mẫu trầm tích thu tại rừng ngập mặn Phù Long (huyện Cát Hải); các thử nghiệm làm giàu, tạo màng và vận hành hệ thống tuần hoàn thực hiện tại Trạm Nghiên cứu biển Đồ Sơn thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường biển.
- Phạm vi thời gian: Thực hiện trong giai đoạn 2017 – 2022 (các đợt quan trắc, phân tích và thực nghiệm tập trung từ 2017 đến 2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được luận án tổng hợp
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến ô nhiễm nitơ vô cơ, cơ chế chuyển hóa sinh học và công nghệ xử lý tuần hoàn:
- Nghiên cứu về sự tích tụ và độc tính của nitơ vô cơ: Nghiên cứu tại đầm tôm Quảng Ninh giai đoạn 2008 và 2014 cho thấy nồng độ NH4+ và N-NO2- trong đất đáy ao ở các tầng sâu 30 cm, 60 cm, 90 cm dao động từ 1,28 đến 9,64 mg/kg, tăng dần theo thời gian sử dụng ao. Nghiên cứu độc học xác định NH3 ở mức 0,09 mg/l làm giảm sinh trưởng và ở mức 0,1 mg/l có thể gây chết tôm (nồng độ an toàn yêu cầu NH3 < 0,1 ppm, tương đương 1,33 - 1,53 mg/l TAN ở pH = 8 và nhiệt độ 28 - 30°C). Ấu trùng tôm he Penaeus monodon có giá trị LC50 sau 96 giờ là 0,13 mg NH4+-N/l (tương đương 0,01 mg NH3-N/l); mức an toàn đối với tôm Penaeus paulensis là 0,03 mg NH3-N/l. Hợp chất N-NO2- gây tổn thương mang, tạo methemoglobin hoặc met-hemocyanin làm suy giảm khả năng vận chuyển oxy trong máu động vật thủy sản với ngưỡng ảnh hưởng dài hạn từ 0,45 mg/l; giá trị LC50 sau 96 giờ của N-NO2- trên động vật không xương sống nước ngọt là 10,00 - 30,00 mg/l, trên cá là 0,25 - 100,00 mg/l, trên sinh vật biển là 10 - 300 mg/l. Nồng độ nitrate (NO3-) vượt quá 50 mg/l kích thích hiện tượng tảo nở hoa.
- Nghiên cứu sinh học vi sinh vật nitrate hóa: Quá trình nitrite hóa gồm bước oxy hóa ammonia thành hydroxylamine (NH2OH) xúc tác bởi ammonia monooxygenase, sau đó chuyển thành nitrite qua enzyme hydroxylamine oxydase và cytochrom P460, đặc trưng bởi các chi Nitrosomonas (Nitrosomonas europaea kích thước 0,4 - 0,6 x 1,0 - 1,8 µm), Nitrosococcus, Nitrosospira, Nitrosolobus. Quá trình nitrate hóa oxy hóa nitrite thành nitrate xúc tác bởi nitrite oxydase và cytochrom oxydase aa3, đặc trưng bởi chi Nitrobacter (kích thước 0,8 x 1,0 µm, Gram âm, không sinh bào tử), Nitrospira. Thời gian thế hệ của Nitrosomonas là 0,5 - 2,5 ngày (hệ số sinh khối 0,29 g tế bào khô/g N), của Nitrobacter là 0,3 - 1,5 ngày (hệ số sinh khối 0,08 g tế bào khô/g N). Một số vi khuẩn dị dưỡng có khả năng nitrate hóa và khử nitrate đồng thời như Methylomonas methanica, Pseudomonas methanicus, Thiosphaera pantotropha, Bacillus sp. (nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận chủng Bacillus sp. loại bỏ 71,1% COD ban đầu 500 mg/l và 74,7% N-NH4+ ban đầu 45 mg/l). Quá trình phản nitrate hóa diễn ra theo chuỗi: NO3- (+5) -> NO2- (+3) -> NO (+2) -> N2O (+1) -> N2 (0) xúc tác bởi 4 enzyme tương ứng, hoạt động ở pH 6,0 - 8,0, nhiệt độ 5 - 60°C (ngừng hoạt động dưới 2°C) và nồng độ oxy hòa tan <= 0,1 mg/l.
- Nghiên cứu về vi khuẩn cố định trên giá thể: Nghiên cứu của Shan và Obbard (2001) cố định vi khuẩn oxy hóa ammonia trên giá thể đất sét, làm giảm nồng độ TAN trong ao nuôi tôm từ 6 mg/L xuống 0,2 mg/L trong 3 ngày; Kummar và cộng sự sử dụng bể phản ứng tầng đóng gói (PBBR) cố định tổ hợp AMONPCU-1 và NIONPCU-1; Manju và cộng sự thử nghiệm tổ hợp vi khuẩn cố định ở các độ mặn 10, 20 và 32‰, nâng hiệu quả loại bỏ TAN lên gấp hai lần so với đối chứng; các nghiên cứu cố định vi khuẩn trên bentonite, CaCO3, amberlite, zeolite, gỗ cây Ailantus altissima (loại bỏ 2,4 mg TAN/L trong 3 ngày), bông lọc polyetylen (tốc độ nitrate hóa đạt 0,035 mg N/cm3/ngày).
- Tình hình ứng dụng lọc sinh học tại Việt Nam: Viện Công nghệ sinh học nghiên cứu thiết bị lọc quy mô nhỏ nuôi sinh vật cảnh biển; Viện Tài nguyên và Môi trường biển chế tạo thiết bị lọc hoàn lưu từ năm 2004 phục vụ vận chuyển hải sản; Trại giống Thủy sản Ngọc Sơn (Đồ Sơn) vận hành hệ thống mương lọc 4 ngăn kết hợp đá san hô, zeolite, bông lọc và bể rong; Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III thiết kế hệ thống tuần hoàn kín nuôi cá hồi, cá tầm, bào ngư; mô hình nuôi cá bớp tại Đồ Sơn ghi nhận tốc độ chuyển hóa thể tích TAN (VTR) đạt 60,87 ± 99,8 g/m3/ngày ở quy mô sản xuất; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thử nghiệm đệm sợi acrylic xử lý nước thải nuôi tôm đạt hiệu suất khử COD 73,7% và N-NH4+ 97,4% ở tải trọng 1,2 kg COD/m3/ngày; Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II nuôi cá tra tuần hoàn ao 200 m2 với lọc sinh học 28 m2 đạt năng suất 48,9 kg/m3 (tỷ lệ sống 81%, FCR 1,43); Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I ghi nhận hệ lọc hiếu khí xử lý nước nuôi tôm đạt hiệu suất khử N-NH4+ 80% sau 4 giờ; Đại học Cần Thơ thử nghiệm mô hình 0,5 m3 kết hợp bể lọc ngầm và lọc trickling cho tôm thẻ chân trắng.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây phần lớn tập trung vào thử nghiệm thiết bị lọc hoặc sử dụng chế phẩm sinh học từ các chủng thuần khiết phân lập riêng rẽ. Phương pháp này gặp hạn chế do vi khuẩn thuần khiết sinh trưởng chậm, khó lưu giữ và hiệu quả xử lý thực tế không cao. Đồng thời, các nghiên cứu giá thể chỉ khảo sát riêng rẽ từng loại vật liệu, chưa có nghiên cứu so sánh đồng thời 5 loại giá thể phổ biến trên cùng một tổ hợp vi khuẩn bản địa được làm giàu tự nhiên. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng quy trình làm giàu đa bước từ trầm tích rừng ngập mặn Phù Long, đánh giá đồng thời 5 loại giá thể sẵn có trong nước và kiểm chứng hiệu quả tạo màng trong hệ thống RAS quy mô 1 m3 và 100 m3.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết chu trình chuyển hóa nitơ sinh học: Phân tích cơ chế hai bước của quá trình nitrate hóa tự dưỡng và quá trình phản nitrate hóa dị hóa; chu trình nitơ truyền thống và hiện đại theo Kazuo Isobe và Nobuhito Ohte (2014).
- Động học nitrate hóa: Tương quan giữa tốc độ nitrate hóa và nồng độ cơ chất tuân theo phương trình Monod; nồng độ cơ chất thấp làm tăng tốc độ tuyến tính, nồng độ cơ chất quá cao gây ức chế sinh trưởng.
- Cân bằng hóa lượng học: Quá trình oxy hóa 1 g TAN thành nitrate tiêu hao tối thiểu 4,18 g O2 và tiêu thụ 7,07 g kiềm tính theo CaCO3. Phương trình phản ứng tổng quát tiêu thụ bicarbonate để tổng hợp sinh khối tế bào vi khuẩn (USEPA, 1984):
$$\text{NH}_4^+ + 1,83,\text{O}_2 + 1,98,\text{HCO}_3^- \rightarrow 0,021,\text{C}_5\text{H}_7\text{O}_2\text{N} + 0,98,\text{NO}_3^- + 1,041,\text{H}_2\text{O} + 1,88,\text{H}_2\text{CO}_3$$
- Nguyên lý tạo màng sinh học: Trải qua 4 giai đoạn gồm (1) Kết dính ban đầu, (2) Phát triển, (3) Trưởng thành và (4) Phân tán.
- Ba nhóm giải pháp xử lý sinh học: Tăng cường sinh học (Bioaugmentation), kích thích sinh học (Biostimulation) và lọc sinh học (Biofilters).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
| Hạng mục nghiên cứu |
Phương pháp, thiết bị và công cụ sử dụng |
Chỉ tiêu và thông số kỹ thuật |
| Thu thập mẫu |
Lấy mẫu trầm tích rừng ngập mặn Phù Long (Cát Hải, Hải Phòng), bảo quản trong ống Falcon 50 ml ở 4°C. |
Trầm tích tự nhiên vùng ngập mặn nước lợ. |
| Làm giàu đa bước |
Nuôi lắc trong bình tam giác 250 ml (chứa 100 ml môi trường dịch thể khoáng), máy lắc 120 vòng/phút, nhiệt độ 28 - 30°C. Bổ sung cơ chất NH4Cl và chỉnh pH 7,5 - 8,0 bằng dung dịch Na2CO3:NaHCO3 (tỷ lệ 1:1). Cấy truyền tỷ lệ 1:9 (v/v) qua 5 bước làm giàu liên tiếp. |
Tốc độ loại bỏ cơ chất: $R = \frac{C_0 - C_n}{t_n}$ (mgN L-1 h-1); nồng độ cơ chất ban đầu bước 2 là 5 mg/L; giám sát TAN, N-NO2-, pH. |
| Tăng sinh khối |
Hệ thống lên men BIOFLO 2000 dung tích 2 lít; ủ ở 28°C, khuấy 200 vòng/phút, cấp khí 0,60 L/phút; kiểm soát pH = 8 tự động bằng dung dịch Na2CO3 10%. |
Môi trường: 1000 ml nước biển, (NH4)2SO4 4,72 mg hoặc NaNO2 4,93 mg, K2HPO4 0,88 mg. |
| Phân tích hình thái |
Nhuộm màu, soi kính hiển vi phản pha và kính hiển vi điện tử quét (SEM). Phân lập trên môi trường thạch hóa tự dưỡng và thạch dị dưỡng. |
Hình thái tế bào, phản ứng Gram, khả năng tạo màng khuẩn keo. |
| Cô đặc tạo chế phẩm |
Phương pháp ly tâm 6.000 vòng/phút trong 15 phút (mẫu CU1); phương pháp lọc qua màng Nucleopore Whatman 0,2 µm (mẫu CU2). |
Bảo quản sinh khối trong ống chứa ethanol tinh khiết. |
| Phân tích di truyền (NGS) |
Tách chiết DNA bằng CTAB; đo quang phổ NanoDrop Spectrophotometer; PCR nhân đoạn V6-V8 gen 16S rRNA bằng cặp mồi U968F và U1391R (đoạn 423 bp); TaKaRa Ex Taq; tinh sạch bằng QIAEX II Gel Extraction Kit; DT-PCR; giải trình tự thế hệ mới. |
Xử lý dữ liệu bằng USEARCH v11.667 (loại chimera), MOTHUR (cắt chuỗi 380 - 450 bp, điểm > 27), UPARSE (phân nhóm OTU tương đồng 97%), cơ sở dữ liệu Silva. |
| Đánh giá giá thể |
Thử nghiệm 5 loại vật liệu: đá sỏi, mảnh vụn san hô chết, hạt nhựa kaldnes, xốp bọt biển, xơ dừa. |
Tiếp diện bề mặt riêng, độ rỗng, đường kính lối đi tự do, độ trơ, độ bền cơ học, trọng lượng. |
| Thử nghiệm hệ thống RAS |
Hệ thống lọc tuần hoàn hoàn lưu quy mô nhỏ 1 m3 và pilot 100 m3 tại Trạm Nghiên cứu biển Đồ Sơn. |
Quan trắc TAN, N-NO2-, N-NO3-, COD, BOD5, mật độ vi khuẩn tổng số, vi khuẩn Vibrio; tăng trưởng, tỷ lệ sống, FCR của tôm thẻ chân trắng và cá rô phi. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này phân tích tổng quan bối cảnh phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ tại Việt Nam và Hải Phòng, chỉ rõ áp lực ô nhiễm nitơ vô cơ đối với hệ sinh thái ven bờ. Tác giả trình bày chi tiết sinh lý độc học của ammonia và nitrite đối với động vật thủy sản; hệ thống hóa cơ chế sinh hóa của quá trình chuyển hóa nitơ gồm nitrite hóa, nitrate hóa và phản nitrate hóa. Chương 1 đánh giá toàn diện ba giải pháp xử lý sinh học (tăng cường sinh học, kích thích sinh học, lọc sinh học), làm rõ ưu nhược điểm của các mô hình tuần hoàn RAS trong và ngoài nước, từ đó khẳng định tính cấp thiết của việc tạo màng nitrate hóa từ nguồn vi khuẩn bản địa thích ứng môi trường nước lợ.
Chương 2: Tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa điểm thu mẫu tại rừng ngập mặn Phù Long và khu thực nghiệm Đồ Sơn. Tác giả thiết lập quy trình làm giàu đa bước 5 giai đoạn không qua phân lập thuần khiết; quy trình tăng sinh khối tự động trên thiết bị lên men BIOFLO 2000 thể tích 2 lít. Chương này trình bày chi tiết phương pháp phân tích hình thái tế bào bằng kính hiển vi điện tử quét SEM; quy trình tách chiết DNA bằng CTAB và kỹ thuật NGS khuếch đại vùng V6-V8 gen 16S rRNA bằng cặp mồi U968F/U1391R; các công cụ xử lý dữ liệu tin sinh học (USEARCH, MOTHUR, UPARSE, Silva); phương pháp khảo sát 5 loại vật liệu làm giá thể và thiết kế hệ thống thực nghiệm RAS quy mô 1 m3 và 100 m3.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được của luận án:
- Làm giàu và động học tiêu thụ cơ chất: Quy trình làm giàu đa bước trải qua 5 giai đoạn liên tục; tốc độ tiêu thụ và loại bỏ cơ chất TAN và nitrite của quần xã vi khuẩn tăng dần qua các bước làm giàu và đạt mức ổn định cao nhất ở bước thứ 5.
- Đặc điểm hình thái và cấu trúc quần xã: Hình ảnh kính hiển vi phản pha và SEM cho thấy sự đa dạng về hình thái tế bào của tổ hợp vi khuẩn ở cả dạng lơ lửng và dạng dính bám tạo khối màng nhầy keo tụ; quần xã vi khuẩn có sự hiện diện của các nhóm vi khuẩn nitrate hóa tự dưỡng cùng các nhóm vi sinh vật hỗ trợ.
- Phân tích đa dạng di truyền (NGS): Dữ liệu giải trình tự vùng V6-V8 gen 16S rRNA ở hai phương pháp thu hoạch sinh khối (ly tâm CU1 và lọc màng CU2) xác định các chỉ số đa dạng sinh học và độ phong phú loài; xác nhận sự hiện diện ưu thế của các đơn vị phân loại (OTU) liên quan đến chu trình chuyển hóa nitơ được đối chiếu từ cơ sở dữ liệu Silva.
- Lựa chọn giá thể bám: Kết quả so sánh 5 loại giá thể (đá sỏi, mảnh vụn san hô chết, hạt nhựa kaldnes, xốp bọt biển, xơ dừa) dựa trên các tiêu chí diện tích bề mặt tiếp xúc riêng, độ rỗng, đường kính lối đi tự do và tính bền cơ học. Hạt nhựa kaldnes và đá sỏi thể hiện các đặc tính kỹ thuật phù hợp cho việc vận hành lâu dài và tạo màng nitrate hóa ổn định trong hệ thống lọc.
- Thử nghiệm trên hệ thống RAS quy mô nhỏ 1 m3: Quá trình kích hoạt màng (break-in) được thiết lập thành công. Nồng độ TAN và nitrite trong bể nuôi tôm thẻ chân trắng và cá rô phi được kiểm soát ở ngưỡng an toàn sinh học; tôm và cá duy trì tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cao.
- Thử nghiệm trên hệ thống RAS quy mô pilot 100 m3 nuôi tôm thẻ chân trắng:
- Quá trình break-in kích hoạt màng lọc sinh học diễn ra ổn định, các chỉ tiêu TAN và N-NO2- giảm nhanh và duy trì ở mức thấp, trong khi nitrate hóa làm gia tăng nồng độ N-NO3- tích lũy trong ngưỡng an toàn.
- Chất lượng môi trường nước nuôi kiểm soát tốt các thông số COD, BOD5; mật độ vi khuẩn tổng số được giữ ổn định và ức chế mật độ vi khuẩn Vibrio gây bệnh trong hệ thống.
- Đánh giá hiệu quả chăn nuôi ở mật độ 300 con/m3: Hệ thống đạt tốc độ nitrate hóa cao; tôm tăng trưởng tốt về chiều dài và khối lượng; tỷ lệ sống đạt mức cao, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) giảm và mô hình mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt so với phương thức nuôi hở truyền thống.
- Đề xuất giải pháp quản lý: Từ kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và chính sách quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển tại Hải Phòng, bao gồm việc quy hoạch vùng nuôi công nghệ tuần hoàn, ban hành hướng dẫn kiểm soát xả thải và nhân rộng công nghệ RAS màng lọc bản địa.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Luận án đã xây dựng thành công quy trình làm giàu đa bước để nhân nuôi quần xã vi khuẩn nitrate hóa từ hệ vi sinh vật bản địa trầm tích rừng ngập mặn Phù Long (Cát Hải, Hải Phòng), tạo ra chế phẩm vi sinh vật nitrate hóa bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện nước lợ.
- Xác lập cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm về cấu trúc hình thái (SEM) và đa dạng di truyền (NGS 16S rRNA) của quần xã vi khuẩn nitrate hóa bản địa ở các trạng thái lơ lửng, dính bám và sau các phương pháp cô đặc (ly tâm, lọc màng).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và công nghệ
- Tạo thành công màng lọc sinh học nitrate hóa trên các giá thể sẵn có trong nước; cung cấp bảng đánh giá so sánh toàn diện 5 loại vật liệu lọc (đá sỏi, san hô chết, hạt kaldnes, xốp bọt biển, xơ dừa) trên cùng một tổ hợp vi khuẩn làm giàu.
- Ứng dụng thành công màng lọc nitrate hóa bản địa vào hệ thống RAS quy mô pilot 100 m3 nuôi tôm thẻ chân trắng ở mật độ cao (300 con/m3), kiểm soát hiệu quả TAN, nitrite, COD, BOD5, hạn chế vi khuẩn Vibrio, giảm hệ số FCR và nâng cao hiệu quả kinh tế vụ nuôi.
- Đề xuất khung giải pháp quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển tại Hải Phòng, làm cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý chuyển đổi phương thức nuôi hở sang nuôi tuần hoàn giảm thiểu ô nhiễm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Địa bàn lấy mẫu làm giàu vi khuẩn bản địa chỉ tập trung tại rừng ngập mặn Phù Long (huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng), chưa tiến hành khảo sát so sánh vi sinh vật nitrate hóa tại các vùng sinh thái ngập mặn khác ven biển miền Bắc.
- Thử nghiệm nuôi tuần hoàn thực tế mới dừng lại ở hai đối tượng là tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và cá rô phi; quy mô lớn nhất khảo sát là hệ thống 100 m3.
- Hệ thống tuần hoàn kín làm gia tăng tích lũy nitrate (N-NO3-) theo thời gian nuôi, đòi hỏi giải pháp khử nitrate kỵ khí hoàn toàn nếu kéo dài chu kỳ nuôi khép kín tuyệt đối.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu thu thập, làm giàu và đánh giá hoạt lực của các tổ hợp vi khuẩn nitrate hóa bản địa tại nhiều vùng sinh thái biển khác nhau để làm phong phú nguồn chế phẩm.
- Nghiên cứu tích hợp thêm modul phản nitrate hóa (denitrification) kỵ khí vào hệ thống RAS nhằm chuyển hóa triệt để nitrate tích lũy thành khí nitơ phân tử ($N_2$).
- Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm vi sinh nitrate hóa bản địa dạng thương phẩm quy mô công nghiệp và thử nghiệm trên các đối tượng thủy hải sản có giá trị kinh tế khác.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường, Kỹ thuật môi trường, Công nghệ sinh học và Nuôi trồng thủy sản: Có thể kế thừa phương pháp làm giàu đa bước không qua phân lập thuần khiết, quy trình vận hành hệ thống lên men BIOFLO 2000, kỹ thuật phân tích metagenomics NGS vùng V6-V8 gen 16S rRNA và các tính toán động học nitrate hóa.
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng và các tỉnh ven biển): Tham khảo các luận cứ khoa học và số liệu quan trắc tải lượng chất thải để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật xả thải và quy hoạch các vùng nuôi tôm công nghệ cao bền vững.
- Kỹ sư nuôi trồng thủy sản, các cơ sở sản xuất và chủ trang trại nuôi tôm: Ứng dụng trực tiếp quy trình khởi động màng lọc sinh học (break-in), phương pháp lựa chọn giá thể lọc và kỹ thuật vận hành hệ thống RAS quy mô 100 m3 nhằm giảm chi phí thay nước và kiểm soát dịch bệnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu vi sinh vật nitrate hóa phục vụ nghiên cứu của luận án được thu thập từ đâu và bảo quản như thế nào?
Mẫu trầm tích tự nhiên được tác giả thu thập tại khu vực rừng ngập mặn Phù Long, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Mẫu sau khi thu thập được đưa vào các ống Falcon thể tích 50 ml, bảo quản lạnh ở nhiệt độ 4°C và vận chuyển về phòng thí nghiệm tại Trạm Nghiên cứu biển Đồ Sơn để tiến hành làm giàu.
2. Luận án đã tiến hành thử nghiệm và so sánh đồng thời những loại giá thể lọc nào?
Luận án khảo sát và so sánh đồng thời 5 loại vật liệu sẵn có trong nước làm giá thể dính bám cho vi khuẩn nitrate hóa gồm: đá sỏi, mảnh vụn san hô chết, hạt nhựa kaldnes, xốp bọt biển (sponge) và xơ dừa. Các vật liệu được đánh giá dựa trên tiếp diện bề mặt riêng, độ rỗng, đường kính lối đi tự do, độ trơ hóa học, độ bền cơ học và tính thuận tiện trong vận hành.
3. Kỹ thuật sinh học phân tử nào được tác giả sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền của quần xã vi khuẩn làm giàu?
Tác giả sử dụng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS) khuếch đại vùng biến đổi V6-V8 của gen 16S rRNA bằng cặp mồi U968F (5’-AACGCGAAGAACCTTAC-3’) và U1391R (5’-ACGGGCGGTGWGTRC-3’) tạo đoạn gen 423 cặp nucleotide với enzyme TaKaRa Ex Taq. Dữ liệu đọc thô được xử lý qua phần mềm USEARCH v11.667, MOTHUR (lọc độ dài 380 - 450 bp, điểm chất lượng > 27), phân nhóm OTU bằng UPARSE ở độ tương đồng 97% và đối chiếu phân loại với cơ sở dữ liệu Silva.
4. Tại sao trong quá trình làm giàu đa bước, tác giả lại bổ sung dung dịch hỗn hợp Na2CO3 và NaHCO3 theo tỷ lệ 1:1?
Việc bổ sung dung dịch hỗn hợp kiềm Na2CO3 và NaHCO3 (1:1) nhằm hai mục đích: thứ nhất, đóng vai trò dung dịch đệm để trung hòa lượng axit sinh ra trong quá trình nitrate hóa, duy trì độ pH tối ưu trong khoảng 7,5 - 8,0; thứ hai, cung cấp nguồn carbon vô cơ (carbonate và bicarbonate) cần thiết cho sự sinh trưởng và gia tăng sinh khối của nhóm vi khuẩn hóa tự dưỡng nitrate hóa.
5. Luận án đã thử nghiệm nuôi thực tế hệ thống RAS quy mô pilot lớn nhất ở thể tích bao nhiêu và nuôi đối tượng nào?
Luận án đã thử nghiệm nuôi thực tế ở hệ thống tuần hoàn nước quy mô pilot 100 m3 đặt tại Trạm Nghiên cứu biển Đồ Sơn để nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng với mật độ nuôi thả 300 con/m3, thực hiện theo dõi quá trình break-in màng lọc, chất lượng nước, mật độ vi khuẩn và các chỉ tiêu tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số FCR của tôm.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thanh Huyền đã giải quyết thành công bài toán xử lý các hợp chất nitơ vô cơ (TAN và nitrite) trong nuôi trồng thủy sản ven biển thông qua việc xây dựng quy trình làm giàu đa bước quần xã vi khuẩn nitrate hóa bản địa từ rừng ngập mặn Phù Long, Cát Hải, Hải Phòng. Công trình đã xác định hạt nhựa kaldnes và đá sỏi là các giá thể dính bám thích hợp trong số 5 loại vật liệu khảo sát, đồng thời làm rõ đặc điểm hình thái và đa dạng di truyền của tổ hợp vi sinh vật bằng kỹ thuật SEM và NGS 16S rRNA. Kết quả vận hành thực nghiệm hệ thống lọc tuần hoàn hoàn lưu quy mô 1 m3 và pilot 100 m3 ở mật độ 300 con/m3 đã chứng minh hiệu quả kiểm soát môi trường nước, ức chế vi khuẩn Vibrio và nâng cao hiệu quả kinh tế vụ nuôi tôm thẻ chân trắng, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho công tác quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển.