Luận án tiến sĩ nghiên cứu tích hợp công nghệ viễn thám và gis trong xây dựng mô hình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương thunnus albacares và t obesus

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương Thunnus albacares và T. obesus.

Trường đại học

Viện Khoa Học Đo Đạc Và Bản Đồ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ kỹ thuật

2020

158
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của luận án

1.2. Mục tiêu của luận án

1.3. Nội dung nghiên cứu vụ của luận án

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Hướng tiếp cận

1.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

1.7.1. Ý nghĩa khoa học

1.7.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2. Đặc điểm sinh học, sinh thái của cá ngừ vây vàng

2.3. Đặc điểm sinh học, sinh thái của cá ngừ mắt to

2.4. Dự báo ngư trường

2.5. Viễn thám trong nghiên cứu dự báo ngư trường khai thác

2.6. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2.7. Dự báo ngư trường

2.8. Viễn thám trong nghiên cứu dự báo ngư trường khai thác

3. CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG MÔ HÌNH DỰ BÁO NGƯ TRƯỜNG KHAI THÁC CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG

3.1. Cơ sở khoa học trong nghiên cứu

3.2. Thông tin, dữ liệu nghiên cứu

3.3. Thông tin, dữ liệu nghề cá ngừ đại dương

3.4. Thông tin, dữ liệu hải dương học. Tri thức bản địa

3.5. Phương pháp viễn thám trong nghiên cứu biển

3.6. Tích hợp tri thức bản địa, dữ liệu nghề cá, dữ liệu viễn thám để xây dựng mô hình dự báo

3.7. Đề xuất quy trình dự báo

3.7.1. Bước 1 bao gồm 04 bước

3.7.2. Bước 2 bao gồm 04 bước

3.7.3. Bước 3 bao gồm 04 bước

4. XÂY DỰNG VÀ KIỂM CHỨNG MÔ HÌNH DỰ BÁO NGƯ TRƯỜNG KHAI THÁC CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG

4.1. Khu vực thực nghiệm

4.2. Dữ liệu thực nghiệm

4.3. Dữ liệu nhiệt độ bề mặt nước biển (SST)

4.4. Dữ liệu Chlorophyll-a

4.5. Kết quả thực nghiệm mô hình

4.6. Dữ liệu đầu vào

4.7. Xác định mối liên hệ cá và môi trường bằng phương pháp phân tích không gian. Đánh giá so sánh, kiểm chứng

4.8. Kết quả kiểm chứng độc lập dự báo thực nghiệm ngư trường nghề câu

4.9. Kết quả đánh giá kiểm chứng độc lập trên tàu câu khai thác cá ngừ mắt to (CNMT)

4.10. Kết quả đánh giá kiểm chứng độc lập trên tàu câu khai thác cá ngừ vây vàng (CNVV)

4.11. Đề xuất một số giải pháp áp dụng kết quả dự báo ngư trường

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về công nghệ viễn thám và GIS

Công nghệ viễn thámGIS đã trở thành công cụ quan trọng trong việc nghiên cứu và quản lý tài nguyên biển. Việc tích hợp các công nghệ này giúp thu thập và phân tích dữ liệu không gian một cách hiệu quả. Hệ thống thông tin địa lý (GIS) cho phép người dùng xử lý và phân tích dữ liệu địa lý, từ đó đưa ra các dự báo chính xác về ngư trường. Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng công nghệ viễn thám để thu thập dữ liệu về các yếu tố môi trường như nhiệt độ bề mặt nước biển và hàm lượng chlorophyll-a, từ đó xây dựng mô hình dự báo ngư trường cho cá ngừ đại dương. Theo nghiên cứu của Cao Lệ Quyên (2018), việc sử dụng viễn thám trong nghiên cứu ngư trường không chỉ giúp nâng cao độ chính xác mà còn tiết kiệm thời gian và chi phí cho ngư dân.

II. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm dữ liệu hải dương học và thông tin từ ngư dân. Dữ liệu hải dương học được thu thập từ các vệ tinh viễn thám và các trạm quan trắc. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích không gian để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và sự phân bố của cá ngừ. Việc tích hợp tri thức bản địa từ ngư dân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mô hình dự báo. Mô hình này không chỉ dựa vào dữ liệu khoa học mà còn kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn của ngư dân, từ đó tạo ra một hệ thống dự báo có tính khả thi cao. Kết quả từ mô hình dự báo sẽ được kiểm chứng thông qua các chuyến khảo sát thực địa và dữ liệu từ nhật ký khai thác của ngư dân.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình dự báo ngư trường cá ngừ đại dương có khả năng dự đoán chính xác các vùng tiềm năng khai thác. Dữ liệu từ viễn thám đã cung cấp thông tin quan trọng về các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phân bố của cá ngừ. Việc áp dụng công nghệ GIS trong phân tích không gian đã giúp xác định rõ ràng mối quan hệ giữa các yếu tố này. Kết quả dự báo không chỉ có giá trị cho ngư dân trong việc tìm kiếm ngư trường mà còn góp phần vào việc quản lý bền vững tài nguyên biển. Theo nghiên cứu, việc sử dụng mô hình dự báo này có thể giúp giảm thiểu chi phí khai thác và nâng cao hiệu quả sản xuất cho ngư dân.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao. Việc áp dụng công nghệ viễn thámGIS trong dự báo ngư trường cá ngừ đại dương sẽ giúp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi cho các đối tượng cá khác và các vùng biển khác nhau. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng góp phần vào việc phát triển các chính sách quản lý tài nguyên biển bền vững, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thực phẩm và bảo vệ môi trường biển. Việc kết hợp giữa công nghệ hiện đại và tri thức bản địa sẽ tạo ra một mô hình quản lý hiệu quả, giúp ngư dân có thể khai thác một cách bền vững và hiệu quả.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tích hợp công nghệ viễn thám và gis trong xây dựng mô hình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương thunnus albacares và t obesus

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU “Ngư trường” được đặc trưng bởi giá trị nguồn lợi (tổng trữ lượng, sản lượng khai thác) các loài hải sản nói chung, hoặc từng loài, nhóm loài cụ thể và quy mô của quá trình khai thác chúng (hiện trạng, xu thế) bởi một số nghề trên phạm vi địa lí nhất định. Các đặc trưng định lượng cho ngư trường chính là trữ lượng B (Biomass) và sản lượng khai thác C (Catch) hoặc năng suất đánh bắt CPUE (Catch Per Unit Effort) chung cho mọi đối tượng, hoặc nhóm đối tượng, hoặc riêng từng loài cụ thể và theo từng nghề khai thác. Dự báo ngư trường cung cấp những thông tin định tính và định lượng xu thế phân bố và biến động các đặc trưng nêu trên phục vụ quản lý và điều hành quá trình khai thác hiệu quả, bền vững, duy trì và bảo vệ nguồn lợi biển.

Nhóm đối tượng hay còn gọi là nhóm thương phẩm được hình thành từ một số loài nhất định, ví dụ nhóm cá ngừ đại dương bao gồm một số loài như cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares), cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) và cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis). Các nhóm thương phẩm này có thể do một hoặc nhiều nghề khai thác, ví dụ: cá ngừ vây vàng và ngừ mắt to là đối tượng khai thác chính của nghề câu, cá ngừ vằn – của nghề rê. Như vậy, việc dự báo ngư trường cần phải triển khai đối với từng nghề và chung cho mọi đối tượng, hoặc cho từng loài, nhóm loài cụ thể. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.

Đặc điểm sinh học, sinh thái của cá ngừ vây vàng Ngưỡng nhiệt độ của cá ngừ ở Bắc Thái Bình Dương dao động đối với cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) và cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) lần lượt là 13-19 và 18-31 (Collette và Nauen,1983; Uda, 1957). Cá ngừ đại dương thường sống theo đàn, ở tầng mặt và di cư vào gần bờ kiếm ăn nhưng có khi di luan an 10 cư xuống sâu hàng trăm mét nước. Sức sinh sản của loài cá này lớn, ở vùng biển Philippin và Nhật Bản, mùa vụ sinh sản từ tháng 5 – 10 và từ tháng 4 - 6 (Nguồn: Nguyễn Xuân Huấn, 2008). - Chế độ dinh dưỡng của cá ngừ vây vàng: Thức ăn của cá Ngừ vây vàng khá đa dạng bao gồm một số nhóm thuộc bọn giáp xác (crustacean), chân đầu (cephalopod) và cá ở các giai đoạn phát triển khác nhau (Alverson, 1963 ; Cole (1980) và Suzuki (1994a).

Thức ăn thường gặp trong dạ dầy cá Ngừ vây vàng về cả số lượng lẫn số lần bắt gặp là cá Lành canh (Engraulidae), loại cá thường lấp đầy dạ dầy những mẫu cá Ngừ vây vàng đánh bắt được bằng nghề lưới vây rút chì (purse-sein). Các pha phát triển từ thời kỳ cá con tới khi trưởng thành của loại cá này thường được tìm thấy ở dạ dầy của các con cá Ngừ vây vàng khác nhau, ít khi thấy chúng cùng xuất hiện trong dạ dầy của cùng một con. Kích thước loại cá mồi này biến đổi từ 25 mm tới 65 mm SL, thường dễ nhận dạng là loài Lành canh đại dương (Ocean anchovy, Encrasicholina punctifer), loài cá vốn được dùng cho nghiên cứu và làm khóa phát hiện chuẩn (standard keys) (Lewis et al.1983; Ozarwa & Tsukahara,1973; Whitehead et al. Cá Ngừ vây vàng ăn cả tôm oplophrid.

Các sinh vật bơi nhanh (ví dụ như các loài cá tự bơi cỡ nhỏ và mực) cũng là thức ăn của cá Ngừ vây vàng (King và Ikehara 1956; Bucley và Miller 1994). Các loài làm mồi này có kích thước nhỏ tới mức không phải lúc nào cũng có thể bắt chúng bằng lưới bắt vi sinh vật tự bơi (neckton net) và do đó không thể đánh giá trực tiếp loài làm mồi cho cá Ngừ vây vàng (Sund et al. Các vi sinh vật tự bơi này thường tập hợp từ dưới lên nhờ những xoáy nước hình thành nằm ở phần bên phía dưới gió (leeward side) của các đảo đại dương (Boehlert và Mundy 1993). - Chế độ sinh sản của cá ngừ vây vàng: luan an 11 Tỉ lệ giới tính của cá Ngừ vây vàng, tại vùng biển Ấn Độ Dương giữa vĩ độ 15o - 30o bắc, cá cái đông hơn cá đực (Mimura et al.

Tại vùng biển nhiệt đới, cá đực luôn chiếm ưu thế trong các mẻ lưới đánh bắt bằng nghề câu vàng cũng như các ngư cụ đánh bắt khác. Cá Ngừ vây vàng trưởng thành (kích thứơc lớn hơn 100cm) đẻ trứng tại các vùng biển có nhiệt độ >26oC (Itano 2000). Tại vùng xích đạo, ấu trùng của các loài cá ngừ có sức chịu nhiệt ở nhiệt độ dưới 26oC mặc dù một số ấu trùng thấy xuất hiện tại các vùng biển có nhiệt độ thấp hơn, ở mức 24oC (Ueyanagi, 1969; Nishikawa et al. Ấu trùng cá Ngừ vây vàng có tuổi 2-14 ngày thường tập trung tại vùng ráp gianh (frontal zone) nơi có sự pha trộn đan xen giữa nước sông và nước của đại dương.

Kết quả nghiên cứu về sinh học sinh sản của cá Ngừ vây vàng tại vùng biển trung tâm và tây Thái Bình Dương cũng đã xác nhận tiềm năng sinh sản của cá Ngừ vây vàng ở những vùng biển có nhiệt độ tầng mặt duy trì ở mức trên 24oC đến 25oC. Tuy nhiên, hoạt động đẻ trứng được ghi nhận bị giảm xuống hoặc tạm dừng. Sự phong phú sinh vật làm thức ăn hoặc các nhân tố khác có thể đóng vai trò quan trọng để duy trì hoạt động đẻ trứng ở một số khu vực có nhiệt độ tầng mặt cao và được xem là xu hướng chung của nhiệt độ ở từng khu vực,. Sự xác định các giai đoạn sinh trưởng, tần số đẻ trứng và thời kỳ đẻ của cá Ngừ vây vàng được dựa trên sự phân tích mô học theo các chi tiết của buồng trứng đã được bảo quản trước đó.

Các phương pháp khác, chẳng hạn như phương pháp đánh giá buồng trứng bằng mắt, phương pháp phân tích chỉ số tế bào sinh trứng (gonosomic index analysis) hoặc đo đường kính trứng đều bị xem là cách chỉ thị rất thiếu chính xác (West, 1990). Các giai đoạn sinh trưởng dưới đây được xác định dựa trên hệ thống phân loại cùng với các đặc tính của các noãn bào do Hunter va Macewicz (1985) cũng như Schaefer (1987;1996; 1998) luan an 12 Cá Ngừ vây vàng được xem là sinh vật đẻ trứng hàng loạt (serial spawner) (Schaefer, 1996). Các nghiên cứu trước đây cũng như các quan sát ngoài môi trường đã cho thấy hoạt động đẻ trứng của cá Ngừ vây vàng diễn ra vào lúc chiều tối hoặc sáng sớm với hiện tượng hyđrát hóa dự đoán xẩy ra vài tiếng trước khi trứng rụng. - Vùng phân bố của cá ngừ vây vàng: Dựa trên các dữ liệu từ EQUALANT, IGY, Meteor (1925-1927), dữ liệu của các hạm đội nghiên cứu cá Ngừ, cũng như các kết quả của nghề câu vàng ở Nhật Bản, Kawai (1967) đã nghiên cứu mối liên hệ giữa cấu trúc nhiệt của đại dương và sự phân bố của cá ngừ tại vùng biển nhiệt đới ở Thái Bình Dương và Đại Tây Dương và đã tìm ra đặc điểm ở cá Ngừ vây vàng có chung cho cả hai đại dương với hai đặc điểm thường thấy trong các vùng phân bố chính ở cá Ngừ vây vàng: Nhiệt độ tầng mặt cao (nói đúng hơn là nhiệt độ tại vị trí giao nhau của các vùng (mixed area)), thường trên 27oC; Ngưỡng nhiệt gây chết (thermocline) thấp, thường là các vùng biển gần các đảo hoặc rặng san hô (điều kiện này ngụ ý rằng tại các vùng này có sự phong phú của các sinh vật làm thức ăn cho cá Ngừ vây vàng).

Cá Ngừ vây vàng phân bố rộng khắp các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, có một số dấu hiệu về sự pha trộn có giới hạn (indication of restricted mixing) giữa vùng biển đông và tây Thái Bình Dương được dựa trên cơ sở sự phân tích di truyền (genetic sample) (Ward et al. 1992) và sự thu thập các số liệu theo dõi hoạt động của cá (tagging data). Theo Bartoo 1987, cá Ngừ vây vàng (Thunnus albacares) phân bố giữa vĩ độ 40,55o Bắc đến 40,45o Nam của 3 đại dương.

Các tiểu quần thể cá Ngừ vây vàng ở vùng biển trung tâm và tây Thái Bình Dương (WCPO) bị xé lẻ tại kinh độ 150o tây (Ward và nnk. luan an 13 Tại bờ đông Thái Bình Dương, sự phân bố của cá Ngừ vây vàng chịu ảnh hưởng mạnh bởi sự thay đổi cường độ của dòng hải lưu Pêru và dòng nước trồi xích đạo (equatorial upwelling). Cá Ngừ vây vàng ở vùng biển này bị vùng nước lạnh hình răng lược (wedge) (hay có dạng hình lưỡi (tongue-shaped)) chảy dọc theo xích đạo và được bao quanh bởi đường đẳng nhiệt 24oC chia làm hai vùng khác nhau. Nhiều dữ liệu cho phép giả thiết rằng dường như cá Ngừ vây vàng trước tuổi trưởng thành (juveniles yellowfin tuna) phân bố rất dầy đặc ở vùng biển giữa đại dương (mid-ocean).

Có lẽ, các vực nước ven bờ ở vùng biển nhiệt đới đã cung cấp cho chúng một nơi cư trú. Tuy nhiên, tỉ lệ cá con (young fish) xuất hiện ở giữa đại dương như thế nào hiện vẫn chưa được biết. Lí do giải thích tại sao cá Ngừ vây vàng trước tuổi trưởng thành (juvenile yellowfin) bơi vào các vực nước vùng duyên hải cũng chưa rõ ràng, tuy nhiên có thể giả thiết rằng: hiện tượng trên có lẽ do sự thay đổi nhu cầu về thức ăn của chúng. Nếu giả thiết này là đúng thì một cách khách quan ta có thể thấy rằng mỗi vùng duyên hải sẽ có một trữ lượng thức ăn nhất định mà nhìn chung tỉ lệ này tùy thuộc vào kích thước của đàn cá.

Đặc điểm sinh học, sinh thái của cá ngừ mắt to - Kích thước và sự sinh trưởng của cá ngừ mắt to Froese và Pauly (1996) cho biết chiều dài thân tối đa của cá Ngừ mắt to là 236 cm và chiều dài thân thường gặp là 180 cm (tương ứng với cá có tuổi ít nhất 3 năm). Ở Thái Bình Dương, con cá lớn nhất bắt được tại Cabo Blanco, Pêru 1957 có trọng lượng 197,3kg và chiều dài đạt tới 236cm. Ở Đại Tây Dương, con cá lớn nhất bắt được tại Ocean City, Maryland, Hoa Kỳ năm 1977 có trọng lượng 170,3kg và chiều dài thân là 206cm. Sự trưởng thành của cá Ngừ mắt to thường đạt được ở chiều dài khoảng 100-130cm đối với cá sống tại luan an 14 đông Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương và 130cm đối với cá sống ở vùng trung tâm Thái Bình Dương, (FAO, 1983).

Sự sinh trưởng của cá Ngừ mắt to đã được đã được biết tới trong nhiều bài viết (Suda và Kume, 1967) cũng như qua các công trình nghiên cứu mô hình tăng trưởng tần số của chiều dài thân (modal progression of length frequencies) (Kume và Joseph, 1966).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Duy Thành, mang tiêu đề "Tích hợp công nghệ viễn thám và GIS để dự báo ngư trường cá ngừ đại dương Thunnus albacares và T. obesus", được thực hiện tại Viện Khoa Học Đo Đạc Và Bản Đồ vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) để dự báo ngư trường của hai loài cá ngừ quan trọng. Bằng cách kết hợp các công nghệ hiện đại, luận án không chỉ cung cấp những phương pháp mới trong việc quản lý và khai thác nguồn lợi thủy sản mà còn góp phần bảo vệ môi trường biển.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận Án Về Phân Tích Chuỗi Giá Trị Thủy Sản Tỉnh Nghệ An", nơi nghiên cứu về chuỗi giá trị trong ngành thủy sản, hay "Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam", giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành thủy sản. Cuối cùng, "Nghiên cứu đặc tính sinh học vi rút gây hoại tử thần kinh và phát triển vắc xin cho cá mú" cũng là một tài liệu thú vị, liên quan đến nghiên cứu sinh học trong lĩnh vực thủy sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề và thách thức trong ngành thủy sản hiện nay.