Tổng quan luận án
Dự báo ngư trường khai thác hải sản xa bờ tại Việt Nam trước thời điểm nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đối tượng là nghề khai thác thay vì loài cụ thể. Tuy nhiên, một nghề có thể khai thác nhiều loài và một loài có thể bị đánh bắt bởi nhiều nghề khác nhau. Dữ liệu viễn thám dùng để chiết tách các thông số hải dương học như nhiệt độ bề mặt nước biển (SST) và diệp lục a (Chlorophyll-a - CHLa) phục vụ dự báo còn hạn chế, đặc biệt là việc tích hợp dữ liệu viễn thám với Hệ thông tin địa lý (GIS). Các mô hình dự báo truyền thống thường sử dụng độ phân giải không gian thô ở quy mô ô lưới $30 \times 30$ hải lý (tương đương khoảng $3.087\text{ km}^2$), dựa trên phân tích hồi quy tuyến tính với tần suất 1 tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng. Trong khi đó, sự phân bố của cá biển không tuân theo ranh giới ô lưới cố định. Nguồn dữ liệu hải dương học từ dự án MOVIMAR (thuộc hệ thống Công ty CLS, Pháp) là dạng số liệu đóng, gây khó khăn cho việc trích xuất và đưa vào phần mềm GIS. Đồng thời, nguồn dữ liệu kiểm chứng phụ thuộc lớn vào nhật ký khai thác của ngư dân vốn có độ nhiễu cao.
Về mặt kinh tế, cá ngừ đại dương là mặt hàng thủy sản xuất khẩu quan trọng thứ 3 của Việt Nam (sau tôm và cá tra) tới hơn 60 quốc gia. Theo số liệu của Cao Lệ Quyên (2018), các dòng sản phẩm cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế khác nhau: dòng Tuna Saku CO đạt giá xuất khẩu khoảng 12,8 USD/kg với lợi nhuận cao nhất là 0,31 USD/kg; dòng Tuna Loin CO đạt 8,5 USD/kg với lợi nhuận 0,19 USD/kg (chiếm tỷ trọng 11,6% sản lượng); các dòng không CO như Tuna Loin đạt 4,7 USD/kg (lợi nhuận 0,12 USD/kg), Tuna Steak đạt 5,9 USD/kg (lợi nhuận 0,14 USD/kg) và Tuna Cube đạt 3,9 USD/kg (lợi nhuận 0,22 USD/kg).
Luận án "Nghiên cứu tích hợp công nghệ viễn thám và GIS trong xây dựng mô hình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương (Thunnus albacares và T.obesus)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Duy Thành thực hiện tại Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Trắc địa - Bản đồ (mã số: 9.03), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đình Dương và TS. Chu Tiến Vĩnh (bảo vệ năm 2020).
Mục tiêu tổng quát của luận án:
- Xây dựng mô hình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương (Thunnus obesus, T. albacares) ở vùng biển Việt Nam bằng công nghệ viễn thám và GIS.
Nội dung nghiên cứu cụ thể của luận án:
- Nghiên cứu xác định mối tương quan giữa đối tượng cá ngừ đại dương với một số thông số môi trường biển phù hợp cơ bản phục vụ xây dựng dự báo.
- Xây dựng mô hình và một số bản dự báo khai thác cá ngừ đại dương ngắn hạn quy mô tháng.
- Kiểm chứng, đánh giá kết quả thử nghiệm dự báo khai thác cá ngừ đại dương; đề xuất một số giải pháp khi áp dụng vào thực tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Ngư trường khai thác cá ngừ đại dương (cá ngừ vây vàng Thunnus albacares và cá ngừ mắt to Thunnus obesus) và mối quan hệ giữa cá ngừ đại dương được khai thác bằng nghề câu với các yếu tố hải dương học nghề cá.
- Phạm vi không gian: Vùng biển Việt Nam, đặc biệt là vùng biển xa bờ miền Trung và giữa Biển Đông; khảo sát thực địa tại các tỉnh trọng điểm như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và tổng số 8 tỉnh ven biển.
- Phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu nghề cá và môi trường thu thập giai đoạn 1997–2015, số liệu điểm khai thác giai đoạn 2013–2015, dữ liệu kiểm chứng và giám sát thực nghiệm giai đoạn 2015–2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Về đặc điểm sinh học và sinh thái: Ngưỡng nhiệt độ phân bố của cá ngừ ở Bắc Thái Bình Dương đối với cá ngừ mắt to là 13–19°C và cá ngừ vây vàng là 18–31°C (Collette và Nauen, 1983; Uda, 1957). Mùa vụ sinh sản tại vùng biển Philippines và Nhật Bản diễn ra từ tháng 4–6 và tháng 5–10 (Nguyễn Xuân Huấn, 2008). Thức ăn của cá ngừ vây vàng gồm giáp xác, chân đầu và cá nhỏ, đặc biệt là cá Lành canh (Encrasicholina punctifer) (Alverson, 1963; Cole, 1980; Lewis et al., 1983; Suzuki, 1994a). Cá ngừ vây vàng trưởng thành (kích thước > 100 cm) đẻ trứng ở vùng nước có nhiệt độ > 26°C (Itano, 2000; Ueyanagi, 1969; Schaefer, 1996). Kawai (1967) chỉ ra cá ngừ vây vàng tập trung ở nơi nhiệt độ tầng mặt > 27°C và lớp nhảy nhiệt (thermocline) nông. Bartoo (1987) xác định cá ngừ vây vàng phân bố từ 40,55°B đến 40,45°N ở 3 đại dương.
Đối với cá ngừ mắt to, chiều dài thân tối đa đạt 236 cm, thường gặp 180 cm (Froese và Pauly, 1996; FAO, 1983). Hanamoto (1987) và Holland et al. (1992) ghi nhận cá ngừ mắt to có khả năng chịu nhiệt độ môi trường thấp tới 10°C và phân bố ở độ sâu tới 250 m. Nồng độ oxy hòa tan thấp (< 0,1 ml/l) là nguyên nhân khiến loài này vắng mặt ở một số vùng biển phía đông Thái Bình Dương (FAO, 1983).
Về dự báo ngư trường và ứng dụng viễn thám:
- Walford (1938) nghiên cứu mật độ trứng cá tuyết và cấu trúc nước; Sandy Hook (1964) chỉ ra đàn cá thu di cư trong khoảng nhiệt độ 48–56°F; O’Brien và nnk (1974) dự báo cá hồi Coho dựa trên quan sát trường gió và nước trồi.
- Silva và nnk (2000) xác định quan hệ giữa sản lượng cá thu, cá cơm, cá trích ở Chile với SST và CHLa từ vệ tinh; Perez-Marrero (2001) dùng dữ liệu AVHRR của NOAA (1985–1994) phân tích phân tầng nhiệt ở Bắc Đại Tây Dương; Mansor và nnk (2001) kết hợp GIS và đánh giá đa biến (MCE) xây dựng hệ thống DSS/TroFFS dự báo ngư trường Biển Đông từ dữ liệu CHLa; Solanki và nnk (2001) chồng lớp CHLa và SST từ AVHRR tại vùng biển Gujarat (Ấn Độ); Zheng và nnk (2002) dùng mô hình GAMs mô tả mật độ cá tuyết; Kuo-Wei Lan và nnk (2004) dùng phương pháp PCA phân tích CPUE cá ngừ vây vàng tại biển Ả Rập; Song L. và nnk (2006) áp dụng bộ chỉ số DTSCO (độ sâu, nhiệt độ, độ muối, CHLa, oxy hòa tan) tại Ấn Độ Dương.
- Jasons và nnk (2010) dự báo cá ngừ vây xanh và vây vàng tại Australia bằng SST vệ tinh; Rajapaksha và nnk (2010) xác định cá ngừ vây vàng ở Ấn Độ Dương tập trung tại vùng có SST 28–30°C, CHLa 0,1–0,4 $\text{mg/m}^3$ và SSH 205–215 cm; Nurdin S. và nnk (2012) xác định ngưỡng SST ($29,94 \pm 0,23^\circ\text{C}$) và CHLa ($0,31 \pm 0,1\text{ mg/m}^3$) cho cá bạc má tại Indonesia; Mukti và nnk (2013) dùng SST (28,5–30,5°C) và CHLa (0,1–0,2 $\text{mg/m}^3$) dự báo cá ngừ vằn ở vịnh Bone-Flores; Mugo và nnk (2011) tích hợp 8 lớp thông tin viễn thám và nghề cá tại Nhật Bản; Yi Xu và nnk (2013) dùng mô hình cây hồi quy (boosted regression trees) kết hợp dữ liệu SST, SSH, dòng địa chuyển và CHLa; Pedraza (2006) thiết lập phương trình toán học dự báo CPUE cá ngừ vằn:
$$\log(\text{CPUE} + 1) = \alpha_0 + \beta_1(\text{SST}) + \beta_2(\text{CHL}) + \varepsilon$$
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Từ năm 1970, Viện Nghiên cứu Hải sản phát tin dự báo mùa vụ trên Đài Tiếng nói Việt Nam (duy trì đến năm 1986). Các chương trình nghiên cứu tiếp theo bao gồm:
- Đề tài KT.10 thuộc Chương trình KT.03 (1991–1995, Lê Đức Tố chủ nhiệm): Nghiên cứu hải dương học nghề cá đầu tiên, áp dụng mô hình xác suất, VPA, LCA tại Nam Trung Bộ và vịnh Bắc Bộ.
- Đề tài KHCN-06-02 (Đinh Văn Ưu chủ nhiệm): Xây dựng mô hình 3D hoàn lưu và cấu trúc nhiệt muối Biển Đông.
- Nhiệm vụ thường xuyên từ năm 1997 của Viện Nghiên cứu Hải sản (Chu Tiến Vĩnh, sau đó là Nguyễn Viết Nghĩa làm chủ nhiệm): Dự báo bằng phương pháp chồng bản đồ truyền thống.
- Đề tài KC-09-03 (2001–2004, Đinh Văn Ưu chủ nhiệm): Xây dựng mô hình dự báo gắn với cấu trúc hải dương, nhưng dữ liệu còn mỏng (2.133 mẻ câu 2000–2004) và độ phân giải không gian lớn (200–500 km).
- Đề tài KC.09.11/06-10 (Đoàn Văn Bộ chủ nhiệm, năm 2010): Xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ, gắn 26 đặc trưng nhiệt biển và năng suất sinh học plankton, tỷ lệ dự báo đạt yêu cầu > 50% (khá/tốt > 40%).
- Đề tài KC.18/11-15 (Đoàn Văn Bộ chủ nhiệm, năm 2015): Ứng dụng phân tích tương quan đồng pha giữa CPUE và 26 yếu tố môi trường, nâng tỷ lệ dự báo đạt yêu cầu lên 60–80% (khá/tốt > 50%), cung cấp bản tin hạn mùa, hạn tháng, hạn 7–10 ngày.
| TT |
Loại nghề |
Tần suất dự báo |
Phạm vi dự báo |
| 1 |
Nghề câu cá ngừ đại dương |
Hạn 06 tháng (mùa), hạn tháng, hạn 10 ngày |
Xa bờ miền Trung và giữa Biển Đông |
| 2 |
Nghề lưới vây |
Hạn 06 tháng (mùa) |
Toàn vùng biển Việt Nam |
| 3 |
Nghề lưới rê |
Hạn tháng |
Toàn vùng biển Việt Nam |
| 4 |
Nghề chụp mực |
Hạn tháng |
Vịnh Bắc Bộ |
| 5 |
Cá ngừ vằn |
Hạn tháng |
Xa bờ miền Trung và giữa Biển Đông |
Khoảng trống nghiên cứu
- Dự báo trước đây chủ yếu tập trung vào nghề khai thác trên ô lưới thô ($30 \times 30$ hải lý), chưa dự báo chuyên biệt theo từng đối tượng loài (Thunnus albacares và T. obesus) ở độ phân giải không gian cao (1–4 km).
- Chưa khai thác chủ động và tích hợp hiệu quả nguồn ảnh viễn thám đa nguồn vào GIS để khắc phục tính khép kín của số liệu dự án MOVIMAR.
- Chưa lượng hóa và lồng ghép tri thức bản địa của cộng đồng ngư dân khai thác vào cấu trúc mô hình dự báo không gian.
- Thiếu quy trình đánh giá và kiểm chứng độc lập kết hợp giữa giám sát trực tiếp, phỏng vấn và dữ liệu định vị tàu cá (VMS).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên nguyên lý sinh thái học biển: sự di cư và tập trung của cá ngừ đại dương liên quan chặt chẽ đến các điều kiện môi trường sống và trường thức ăn. Sáu thông số hải dương học cơ bản được xác định gồm:
- Nhiệt độ bề mặt biển (SST)
- Hàm lượng diệp lục a (CHLa)
- Độ cao mực nước biển / Dị thường độ cao bề mặt biển (SSH)
- Động năng xoáy nước (EKE - Eddy Kinetic Energy)
- Dòng chảy (Currents)
- Địa hình đáy biển (Bathymetry)
Khung phân tích sử dụng phương pháp quá trình phân cấp phân tích (Analytic Hierarchy Process - AHP) để thiết lập ma trận so sánh cặp, xác định trọng số ảnh hưởng của các yếu tố hải dương học và tri thức bản địa đối với năng suất khai thác (CPUE).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hồi cứu: Thu thập và hệ thống hóa chuỗi dữ liệu lịch sử về nghề cá và hải dương học từ các chương trình điều tra, đề tài cấp Nhà nước và dự án hợp tác (Dự án Điều tra chung Việt Nam - Trung Quốc, Dự án Điều tra tổng thể biến động nguồn lợi hải sản 2016–2020).
- Phương pháp viễn thám và GIS: Sử dụng phần mềm ArcGIS kết hợp công cụ MGET (Marine Geospatial Ecology Tools) để lập truy vấn, chiết xuất và nội suy dữ liệu raster. Các tập dữ liệu viễn thám gồm sản phẩm MOD09GA, MODIS-Aqua, NOAA-AVHRR, GHRSST để tính toán trường SST, CHLa, SSH, EKE.
- Phương pháp thực địa và khảo sát chuyên gia: Thu thập nhật ký khai thác, phỏng vấn ngư dân về tri thức bản địa (ngư trường truyền thống mùa gió Đông Bắc và Tây Nam, dấu hiệu dòng chảy, màu nước, con mồi), giám sát trực tiếp các chuyến biển và trích xuất dữ liệu giám sát hành trình tàu cá (VMS) thuộc dự án MOVIMAR tại các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.
Luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương bằng công nghệ viễn thám và GIS đạt độ chính xác cao (khoảng 70%).
- Luận điểm 2: Tích hợp dữ liệu viễn thám biển, dữ liệu hải dương học và tri thức bản địa cho phép xây dựng mô hình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương với độ phân giải cao cả về không gian và thời gian.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các cơ sở lý luận về ngư trường, đặc trưng sinh thái - sinh học của hai đối tượng cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) và cá ngừ mắt to (Thunnus obesus), cùng lược sử nghiên cứu dự báo ngư trường trên thế giới và tại Việt Nam.
Về sinh học cá ngừ, chương này phân tích tập tính dinh dưỡng, sinh sản và vùng phân bố nhiệt của từng loài; tổng hợp các hệ thống dự báo viễn thám quốc tế như JADE, FRA-JCOPE (Nhật Bản), NOAA/NASA (Mỹ), TroFFS (Malaysia/Biển Đông) và mô hình hồi quy đa biến.
Về tình hình trong nước, tác giả điểm lại các mốc nghiên cứu từ nhiệm vụ năm 1970 của Viện Nghiên cứu Hải sản, chương trình KT.03/KT.10, KHCN-06-02, đến các đề tài KC-09-03, KC.09.11/06-10 và KC.18/11-15 của Đoàn Văn Bộ. Qua đó, chương 1 khẳng định sự cần thiết phải chuyển dịch từ dự báo theo nghề sang dự báo theo loài, nâng cao độ phân giải không gian từ ô lưới thô ($30 \times 30$ hải lý) sang mức điểm ảnh viễn thám (1–4 km) và kết hợp tri thức bản địa của ngư dân.
Chương 2: Cơ sở khoa học xây dựng mô hình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương
Chương 2 trình bày chi tiết phương pháp luận và nguồn dữ liệu để thiết lập mô hình dự báo tích hợp:
- Dữ liệu đầu vào:
- Số liệu nghề cá: Chuỗi số liệu điều tra nguồn lợi giai đoạn 1997–2014, lượng số liệu môi trường 1999–2015, dữ liệu hải dương miền Trung 2000–2015 và số liệu giám sát cá ngừ đại dương trong thời gian thực hiện luận án.
- Dữ liệu viễn thám: Dữ liệu quang học và hồng ngoại từ ảnh MOD09GA hiệu chỉnh phổ, MODIS-Aqua, MGET.
- Tri thức bản địa: Kết quả điều tra, phỏng vấn ngư dân về thời gian thả câu, màu nước, vùng nước xoáy và dấu hiệu nhận biết luồng cá mùa gió Đông Bắc và Tây Nam.
- Phương pháp phân tích và tích hợp:
- Ứng dụng công cụ MGET trong môi trường ArcGIS để chiết xuất các trường thông số hải dương học.
- Sử dụng phương pháp AHP lập ma trận so sánh cặp giữa 6 thông số hải dương học (SST, CHLa, SSH, EKE, dòng chảy, địa hình đáy) nhằm tính toán bộ trọng số tối ưu.
- Quy trình công nghệ dự báo:
Đề xuất quy trình dự báo ngư trường cá ngừ đại dương ở vùng biển Việt Nam gồm 3 giai đoạn chính:
- Bước 1 (Xử lý dữ liệu đầu vào - 04 bước): Thu thập và tiền xử lý ảnh viễn thám; giải đoán và tính toán trường SST, CHLa; chiết xuất số liệu hải dương học và chuẩn hóa dữ liệu nghề cá.
- Bước 2 (Xây dựng mô hình phân tích không gian - 04 bước): Số hóa và lượng hóa tri thức bản địa; nội suy không gian sản lượng đánh bắt (CPUE); phân tích tương quan không gian đa lớp; chạy thuật toán tích hợp AHP xác định vùng tiềm năng khai thác.
- Bước 3 (Thành lập và xuất bản tin dự báo - 04 bước): Phân cấp mức độ dự báo; biên tập bản đồ ngư trường tiềm năng quy mô tháng/tuần; kiểm tra sai số mô hình; xuất bản tin dự báo ngư trường phục vụ khai thác.
Chương 3: Xây dựng và kiểm chứng mô hình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương
Chương 3 trình bày các kết quả thử nghiệm thực tế của mô hình:
- Kết quả tính toán và phân tích không gian:
- Xử lý tổ hợp 4 cảnh ảnh sản phẩm MOD09GA đã hiệu chỉnh phổ và dữ liệu MGET.
- Phân cấp dữ liệu hải dương học: SST, CHLa, SSH, EKE.
- Phân tích mối quan hệ giữa phân bố CPUE cá ngừ nội suy (chuỗi 2013–2015) với các trường môi trường tương ứng thông qua ma trận so sánh cặp và ma trận tính trọng số.
- Xác lập bảng phân mức dự báo ngư trường cho cá ngừ mắt to và cá ngừ vây vàng.
- Thành lập bản đồ dự báo thực nghiệm:
- Xây dựng bản đồ dự báo ngư trường tiềm năng cho cá ngừ mắt to (CNMT) và cá ngừ vây vàng (CNVV) cho tháng 11/2017 và tháng 12/2017.
- Kiểm chứng độc lập và đánh giá hiệu quả:
- Tổng hợp số lượng mẻ câu cá ngừ đại dương từ 2015–2017 tại 8 tỉnh khảo sát.
- Kiểm chứng nghề câu tay và câu vàng năm 2017 cho thấy kết quả dự báo có sự trùng khớp cao với các điểm đánh bắt thực tế của đội tàu thương mại.
- Đánh giá hiệu quả dự báo theo từng tháng cho thấy độ chính xác đạt mức xấp xỉ 70%, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất.
- Đề xuất giải pháp áp dụng: Luận án đề xuất giải pháp kỹ thuật và tổ chức nhằm chuyển giao kết quả dự báo đến các nghiệp đoàn nghề cá và Chi cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi thủy sản các địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Xây dựng thành công mô hình dự báo ngư trường khai thác tiềm năng cho từng loài cá ngừ đại dương (Thunnus albacares và T. obesus) dựa trên kỹ thuật phân tích không gian trong GIS, kết hợp các trường thông số hải dương học (SST, CHLa, SSH, EKE) chiết xuất từ ảnh viễn thám có độ phân giải cao (1–4 km).
- Phương pháp luận tích hợp tri thức bản địa: Lượng hóa và đưa kinh nghiệm sản xuất thực tiễn của ngư dân qua nhiều năm về tính mùa vụ, dấu hiệu luồng cá vào ma trận trọng số phân tích không gian của mô hình dự báo.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp quy trình công nghệ thành lập bản tin dự báo ngư trường hạn ngắn (tuần, tháng) với khả năng ứng dụng thực tế cao, hỗ trợ ngư dân thu hẹp phạm vi dò tìm đàn cá, tiết kiệm chi phí nhiên liệu và nâng cao năng suất mẻ câu.
- Thiết lập quy trình kiểm chứng độc lập đa nguồn kết hợp giữa theo dõi mẻ câu thực tế, nhật ký khai thác, phỏng vấn ngư dân và dữ liệu định vị tàu cá (VMS) từ hệ thống giám sát vệ tinh.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm cải tiến hình thức và phương thức truyền tải bản tin dự báo tới ngư dân thông qua hệ thống thông tin duyên hải, truyền hình chuyên đề (VTV1, VTC16) và các Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
- Kiến nghị xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành giữa cơ quan khí tượng hải văn, viễn thám và ngành thủy sản nhằm bảo đảm nguồn dữ liệu viễn thám cập nhật liên tục cho mô hình nghiệp vụ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Nguồn dữ liệu về địa hình đáy biển chi tiết và các trường xoáy nước (EKE) còn phụ thuộc một phần vào các nguồn cung cấp quốc tế và dự án đóng như MOVIMAR, gây khó khăn cho việc tự động hóa hoàn toàn chuỗi xử lý.
- Dữ liệu kiểm chứng tuy đã được bổ sung bằng phỏng vấn và VMS nhưng chuỗi số liệu giám sát trực tiếp trên biển vẫn còn phụ thuộc vào mùa vụ khai thác và sự hợp tác của các chủ tàu.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tự động hóa hoàn toàn quy trình thu thập, xử lý ảnh viễn thám thời gian thực để tiến tới thành lập các bản tin dự báo nghiệp vụ có hạn dự báo ngắn hơn (1–3 ngày).
- Mở rộng phạm vi áp dụng mô hình phân tích không gian tích hợp viễn thám và GIS cho các đối tượng cá nổi lớn khác ở vùng biển Việt Nam như cá ngừ vằn, cá thu, cá cờ.
Giá trị tham khảo
- Đối với nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật Trắc địa - Bản đồ, Hải dương học nghề cá, Quản lý tài nguyên biển: Tài liệu cung cấp cơ sở phương pháp luận về việc ứng dụng công cụ MGET trong ArcGIS, giải đoán ảnh MODIS (MOD09GA), lập ma trận AHP phân tích tương quan không gian và phương pháp lượng hóa tri thức bản địa vào GIS.
- Đối với cán bộ quản lý nghề cá tại Tổng cục Thủy sản và các Chi cục Thủy sản địa phương: Luận án cung cấp căn cứ khoa học để xây dựng hệ thống bản tin dự báo ngư trường, nâng cao hiệu quả quản lý đội tàu đánh bắt xa bờ và định hướng khai thác hải sản bền vững.
- Đối với các hiệp hội nghề cá và doanh nghiệp khai thác hải sản: Quy trình dự báo giúp tối ưu hóa hành trình khai thác, giảm thời gian tìm kiếm ngư trường và nâng cao chất lượng cá ngừ xuất khẩu.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giải quyết vấn đề gì khác biệt so với các mô hình dự báo ngư trường trước đây tại Việt Nam?
Các mô hình trước đây dự báo theo nghề khai thác trên các ô lưới thô $30 \times 30$ hải lý bằng phương pháp hồi quy tuyến tính. Luận án này xây dựng mô hình dự báo chi tiết theo từng loài cá ngừ (Thunnus albacares và T. obesus) ở độ phân giải điểm ảnh 1–4 km, tích hợp dữ liệu hải dương viễn thám (SST, CHLa, SSH, EKE) với tri thức bản địa của ngư dân qua công nghệ GIS.
2. Các thông số hải dương học nào được sử dụng chính trong mô hình dự báo của luận án?
Mô hình sử dụng 6 thông số gồm: Nhiệt độ bề mặt biển (SST), hàm lượng diệp lục a (CHLa), độ cao mực nước biển (SSH), động năng xoáy nước (EKE), dòng chảy (Currents) và địa hình đáy biển (Bathymetry), trong đó SST và CHLa là hai thông số được chiết xuất trực tiếp từ các sản phẩm ảnh viễn thám như MOD09GA và MODIS-Aqua.
3. Quy trình công nghệ dự báo ngư trường của luận án gồm những bước nào?
Quy trình gồm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn gồm 4 bước:
- Giai đoạn 1: Thu thập, tiền xử lý và chiết xuất dữ liệu viễn thám/nghề cá.
- Giai đoạn 2: Lượng hóa tri thức bản địa, nội suy CPUE và chạy mô hình phân tích không gian đa chỉ số (AHP).
- Giai đoạn 3: Phân cấp mức dự báo, thành lập bản đồ ngư trường và xuất bản tin dự báo.
4. Kết quả kiểm chứng thực nghiệm mô hình đạt độ chính xác bao nhiêu?
Kiểm chứng độc lập trên các đội tàu câu khai thác cá ngừ mắt to và cá ngừ vây vàng giai đoạn 2015–2017 tại 8 tỉnh ven biển miền Trung cho thấy kết quả dự báo có độ chính xác đạt xấp xỉ 70%.
5. Dữ liệu tri thức bản địa được thu thập và tích hợp vào mô hình như thế nào?
Dữ liệu được thu thập qua phiếu phỏng vấn và khảo sát ngư dân tại các cảng cá (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa) về ngư trường truyền thống mùa gió Đông Bắc/Tây Nam, quy luật luồng cá, màu nước, con mồi; sau đó được số hóa và đưa vào ma trận tính toán trọng số không gian trong môi trường ArcGIS.
Kết luận
Luận án đã xây dựng thành công mô hình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương (Thunnus albacares và T. obesus) ở vùng biển Việt Nam trên cơ sở tích hợp công nghệ viễn thám, GIS và tri thức bản địa. Nghiên cứu đã nâng cao độ phân giải không gian của bản đồ dự báo lên mức 1–4 km và đạt độ chính xác thực nghiệm xấp xỉ 70% qua kiểm chứng độc lập trên đội tàu khai thác. Kết quả của luận án cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn phục vụ chỉ đạo sản xuất khai thác hải sản xa bờ, góp phần phát triển kinh tế biển và quản lý bền vững nguồn lợi cá ngừ đại dương.