Luận án: Ứng dụng Wavelet phân tích nội suy vận tốc, biến dạng địa động lực Miền Bắc Việt Nam

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết xấp xỉ sóng nhỏ biến đổi wavelet phân tích nội suy vận tốc chuyển dịch và biến dạng không gian từ dữ liệu GPS mạng lưới trắc địa

Trường đại học

Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

163
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng Wavelet trong nghiên cứu biến dạng

Lý thuyết xấp xỉ sóng nhỏ (Wavelet) là công cụ toán học mạnh mẽ trong phân tích tín hiệu đa tỷ lệ. Phương pháp này cho phép phân tích dữ liệu ở nhiều mức độ chi tiết khác nhau. Trong nghiên cứu biến dạng vỏ Trái Đất, Wavelet cung cấp khả năng nội suy vận tốc chuyển dịch và tính toán trường biến dạng không gian. Khu vực Miền Bắc Việt Nam nằm trong vùng kiến tạo hoạt động mạnh. Mạng lưới trắc địa địa động lực được thiết lập với nhiều điểm đo GPS. Dữ liệu GNSS thu thập theo nhiều chu kỳ đo. Quá trình xử lý sử dụng phần mềm BERNESE 5.2 trong hệ quy chiếu ITRF-2008. Hàm sóng nhỏ DOG (Difference of Gaussians) trên mặt cầu được áp dụng. Phương pháp này xử lý hiệu quả dữ liệu phân bố trên bề mặt cầu của Trái Đất. Nghiên cứu xây dựng tập hợp điểm lưới cầu G theo các bậc q khác nhau. Việc lựa chọn điểm lưới dựa trên số lượng điểm đo trong mỗi tam giác cầu. Kết quả cho thấy phương pháp Wavelet phù hợp để phân tích biến dạng khu vực.

1.1. Lý thuyết xấp xỉ sóng nhỏ và biến đổi Wavelet

Lý thuyết xấp xỉ sóng nhỏ là phương pháp phân tích tín hiệu dựa trên hàm sóng nhỏ cơ sở. Biến đổi Wavelet phân tích dữ liệu thành các thành phần tần số khác nhau tại từng thời điểm. Hàm sóng nhỏ DOG (Difference of Gaussians) được xây dựng trên mặt cầu để xử lý dữ liệu địa lý. Hàm này có đặc tính biên độ biến đổi nhỏ theo đường kinh tuyến. Phương pháp cho phép xác định vận tốc chuyển dịch địa phương từ dữ liệu GPS. Các bậc q khác nhau tương ứng với mức độ chi tiết phân tích khác nhau. Ứng dụng trong trắc địa giúp nội suy chính xác trường vận tốc không gian.

1.2. Biến dạng vỏ Trái Đất và mạng lưới trắc địa địa động lực

Biến dạng vỏ Trái Đất là sự thay đổi hình dạng và vị trí của các khối kiến tạo theo thời gian. Mảng kiến tạo và đứt gãy kiến tạo là nguyên nhân chính gây ra biến dạng. Mạng lưới trắc địa địa động lực bao gồm các điểm đo GPS phân bố trên khu vực nghiên cứu. Tại Miền Bắc Việt Nam, mạng lưới được thiết lập phủ trùm khu vực hoạt động kiến tạo. Dữ liệu đo GNSS thu thập theo nhiều chu kỳ để theo dõi sự thay đổi vị trí. Quá trình bình sai sử dụng hệ quy chiếu quốc tế ITRF-2008. Kết quả đo cung cấp vận tốc chuyển dịch tại mỗi điểm đo. Dữ liệu này là cơ sở để tính toán trường biến dạng không gian.

II. Phân tích biến dạng địa động lực bằng phương pháp Wavelet

Phân tích biến dạng địa động lực đòi hỏi tính toán chính xác các thành phần vận tốc và biến dạng. Gradient vận tốc là cơ sở để xác định tensor tốc độ biến dạng. Tensor này bao gồm thành phần đối xứng và phản đối xứng. Thành phần đối xứng đại diện cho tốc độ mở rộng và tốc độ trượt dần. Thành phần phản đối xứng thể hiện phần xoay cứng của trường vector. Tốc độ trương nở (dilatation rate) đo sự mở rộng trên đơn vị thể tích. Tốc độ biến dạng cắt đo sự biến dạng không thay đổi thể tích. Phương pháp Wavelet giúp nội suy vận tốc tại các điểm lưới cầu. Từ đó xây dựng trường biến dạng liên tục trên toàn khu vực. Dữ liệu GPS mạng lưới trắc địa Miền Bắc được xử lý bằng BERNESE 5.2. Các điểm đo được phân bố trong các tam giác cầu khác nhau. Số lượng điểm đo trong mỗi tam giác quyết định việc lựa chọn điểm lưới. Kết quả phân tích cho thấy mô hình biến dạng phù hợp với kiến tạo khu vực.

2.1. Xây dựng tensor tốc độ biến dạng từ gradient vận tốc

Tensor tốc độ biến dạng D là số đo đối xứng của gradient vận tốc. Nó được phân tách thành hai thành phần: tốc độ mở rộng và tốc độ trượt dần. Ma trận tensor có kích thước 3x3 với các thành phần tương ứng trục x, y, z. Tốc độ mở rộng tính từ đơn vị tensor và đạo hàm riêng theo các trục. Tốc độ trượt dần được xác định từ phần còn lại sau khi trừ mở rộng. Phần xoay của gradient vận tốc không góp phần thay đổi tỷ lệ biến dạng. Tuy nhiên, tốc độ xoay giúp xác định chiều hướng vặn xoắn của biến dạng.

2.2. Tính toán tốc độ trương nở và biến dạng cắt

Tốc độ trương nở thể hiện sự thay đổi thể tích của vật liệu kiến tạo. Giá trị dương cho thấy khu vực đang mở rộng, giá trị âm cho thấy co lại. Tốc độ biến dạng cắt đo sự biến dạng liên tục không thay đổi thể tích. Hai đại lượng này là chỉ số quan trọng đánh giá trạng thái ứng suất vỏ Trái Đất. Phương pháp Wavelet cho phép tính toán tại các điểm lưới cầu trên bề mặt. Kết quả nội suy vận tốc từ dữ liệu GPS đảm bảo tính liên tục trường. Biến dạng cắt lớn thường liên quan đến vùng đứt gãy hoạt động mạnh.

III. Phương pháp ứng dụng hàm sóng nhỏ DOG trên mặt cầu

Hàm sóng nhỏ DOG (Difference of Gaussians) được xây dựng đặc biệt cho bề mặt cầu. Phương pháp này phù hợp để xử lý dữ liệu phân bố trên bề mặt Trái Đất. Tập hợp điểm lưới cầu G được xây dựng theo các bậc q từ qmin đến qmax. Với mỗi bậc, điểm lưới được chọn dựa trên số điểm đo trong tam giác cầu. Nếu tam giác có ít hơn ba điểm đo, các điểm lưới trên đỉnh bị loại bỏ. Ngược lại, tam giác có từ ba điểm đo trở lên được giữ lại. Hằng số được xác định để biên độ biến đổi theo kinh tuyến nhỏ nhất. Phần mềm tính toán được xây dựng để xử lý tự động quy trình. Nội suy vận tốc sử dụng hàm sóng nhỏ DOG tại các điểm lưới. Trường vận tốc liên tục được xây dựng phủ trùm toàn bộ khu vực nghiên cứu. Từ trường vận tốc, gradient và tensor biến dạng được tính toán. Kết quả cung cấp cái nhìn toàn diện về biến dạng khu vực Miền Bắc.

3.1. Xây dựng tập hợp điểm lưới cầu và lựa chọn bậc phân tích

Tập hợp điểm lưới cầu G bao gồm các điểm phân bố đều trên bề mặt cầu. Mỗi bậc q tương ứng với một mức độ chi tiết phân tích khác nhau. Bậc thấp cho cái nhìn tổng thể, bậc cao cho chi tiết địa phương. Việc lựa chọn điểm lưới dựa trên mật độ điểm đo GPS trong mỗi tam giác. Tam giác có ít hơn ba điểm đo sẽ bị loại khỏi phân tích. Điều này đảm bảo độ tin cậy của kết quả nội suy. Tại khu vực Miền Bắc, các bậc q từ 7 đến 9 được sử dụng. Mỗi vùng có mật độ điểm lưới tương ứng với mức độ chi tiết phù hợp.

3.2. Nội suy vận tốc chuyển dịch từ dữ liệu GNSS

Dữ liệu GNSS cung cấp vận tốc chuyển dịch tại các điểm đo rời rạc. Nội suy vận tốc sử dụng hàm sóng nhỏ DOG để xây dựng trường liên tục. Quy trình tính toán áp dụng cho từng điểm lưới cầu G trong khu vực. Hàm sóng nhỏ với hằng số tối ưu đảm bảo nội suy chính xác. Kết quả là trường vận tốc liên tục phủ trùm toàn bộ khu vực nghiên cứu. Từ trường vận tốc, các đại lượng biến dạng được tính toán tại mọi điểm. Phương pháp này khắc phục hạn chế của dữ liệu điểm rời rạc. Độ chính xác phụ thuộc vào mật độ điểm đo và bậc phân tích lựa chọn.

IV. Kết quả và ứng dụng phân tích biến dạng Miền Bắc

Nghiên cứu ứng dụng Wavelet phân tích biến dạng địa động lực Miền Bắc Việt Nam đạt nhiều kết quả quan trọng. Phương pháp hàm sóng nhỏ DOG trên mặt cầu cho phép nội suy chính xác vận tốc chuyển dịch. Trường biến dạng không gian được xây dựng liên tục từ dữ liệu GPS rời rạc. Tốc độ biến dạng và trương nở được tính toán tại các điểm lưới cầu. Kết quả phản ánh đúng đặc điểm kiến tạo của khu vực Miền Bắc. Các vùng đứt gãy lớn thể hiện tốc độ biến dạng cắt cao. Khu vực mở rộng và co lại phù hợp với mô hình kiến tạo đã biết. Phương pháp này có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong giám sát địa động lực. Nghiên cứu cung cấp công cụ mới cho đánh giá nguy cơ địa chất. Kết quả là cơ sở khoa học cho quy hoạch và phát triển bền vững. Phương pháp có thể mở rộng áp dụng cho các khu vực khác tại Việt Nam.

4.1. Đánh giá kết quả phân tích tốc độ biến dạng khu vực

Kết quả phân tích cho thấy tốc độ biến dạng không đồng đều trên toàn khu vực. Các vùng gần đứt gãy có tốc độ biến dạng cắt cao hơn vùng ổn định. Tốc độ trương nở dương tập trung ở một số khu vực mở rộng kiến tạo. Vùng co lại tương ứng với các đứt gãy nghịch. Phân bố biến dạng phù hợp với kiến tạo mảng khu vực. Phương pháp Wavelet cho kết quả có độ phân giải không gian cao hơn phương pháp truyền thống. Độ tin cậy được kiểm chứng qua so sánh với các nghiên cứu trước đó.

4.2. Tiềm năng ứng dụng và hướng phát triển nghiên cứu

Phương pháp Wavelet có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong giám sát biến dạng vỏ Trái Đất. Công cụ này phù hợp để theo dõi hoạt động kiến tạo liên tục theo thời gian. Kết hợp với dữ liệu GNSS thời gian thực, phương pháp có thể cảnh báo sớm nguy cơ địa chất. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển mới cho trắc địa địa động lực Việt Nam. Việc mở rộng mạng lưới đo sẽ nâng cao độ chính xác kết quả. Ứng dụng trong đánh giá rủi ro thiên tai và quy hoạch hạ tầng là khả thi.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết xấp xỉ sóng nhỏ biến đổi wavelet để phân tích nội suy vận tốc chuyển dịch và biến dạng không gian từ kết quả xử lý dữ liệu đo gps mạng lưới trắc địa địa động lực khu vực miền bắc việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: Trình bày tổng quan về những khái niệm cơ bản trong nghiên cứu biến dạng vỏ Trái Đất; tổng quan về tình hình nghiên cứu biến dạng vỏ Trái Đất bằng phương pháp trắc địa ở Việt Nam; tổng quan về khả năng ứng dụng phương pháp xấp xỉ sóng nhỏ ở Việt Nam và trên thế giới. Cơ sở lý thuyết xấp xỉ sóng nhỏ trong nghiên cứu biến dạng vỏ Trái Đất: Trình bày cơ sở lý thuyết của hàm sóng nhỏ DOG trên mặt cầu; cơ sở lý thuyết tính vận tốc chuyển dịch địa phương từ số liệu đo GNSS; cơ sở lý thuyết nội suy trường vận tốc chuyển dịch địa phương bằng phương pháp xấp xỉ sóng nhỏ; cơ sở lý thuyết tính các đại lượng biến dạng của khu vực. Thực nghiệm tính toán các đại lượng biến dạng vỏ Trái Đất khu vực miền Bắc Việt Nam: Trình bày những phân tích đánh giá chất lượng mốc quan trắc và số liệu đo GNSS, đánh giá độ tin cậy của kết quả tính toán vận tốc chuyển dịch tuyệt đối trên khu vực miền Bắc Việt Nam; trình bày quy trình, phần mềm tính vận tốc chuyển dịch địa phương tại các điểm quan trắc, nội suy vận tốc chuyển dịch không gian cho các điểm lưới GRID đặc trưng cho trường vận tốc chuyển dịch khu vực, tính các đại lượng biến dạng vỏ Trái Đất trên khu vực Miền Bắc; trình bày kết quả tính toán thực nghiệm xác định trường biến dạng khu vực miền Bắc Việt Nam và thảo luận các vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các ưu, nhược điểm cũng như khả năng ứng dụng của phương pháp xấp xỉ sóng nhỏ trong tính toán xác định các đại lượng biến dạng vỏ Trái Đất ở quy mô khu vực.

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm cơ bản trong nghiên cứu biến dạng vỏ Trái Đất 1. Mảng kiến tạo Theo thuyết kiến tạo mảng, lớp ngoài cùng của Trái Đất (thạch quyển) là chất rắn gắn kết nằm trên một quyển yếu hơn là quyển mềm. Thạch quyển vỡ ra làm nhiều phần được gọi là mảng kiến tạo.

Bề mặt Trái Đất có thể chia ra thành bẩy (07) mảng chính, gồm: Mảng Thái Bình Dương, mảng Á-Âu, mảng Ấn Độ - Ôxtrâylia, mảng Châu Phi, mảng Bắc Mỹ, mảng Nam Mỹ, mảng Nam Cực và nhiều mảng kiến tạo nhỏ. Ranh giới giữa hai mảng kiến tạo là các đứt gãy, đứt gãy sâu hoặc các kiểu phá hủy tổng hợp khác. Sự chuyển động của quyển mềm làm cho các mảng kiến tạo bị chuyển động theo một tiến trình gọi là sự trôi dạt lục địa trên quyển mềm. Các mảng này di chuyển tương đối với nhau theo một trong ba dạng chính đó là: Hội tụ (xô húc vào nhau); tách giãn (trượt dọc với phương trượt gần như song song với phương tách dãn); trượt ngang (phương trượt vuông góc với phương tách dãn).

Các lực được tạo ra tại các ranh giới hình thành các dãy núi gây nên núi lửa phun trào và động đất. Hiện tượng này cùng với các quá trình kèm theo được gọi là hoạt động kiến tạo. Trong các mô hình động học thạch quyển, chuyển động của mảng hay khối được đại diện bởi vận tốc quay của phần nội mảng (nội khối) ổn định và được mô tả bằng véc tơ Ơ-le bao gồm 3 thành phần tọa độ điểm gốc và 3 thành phần vận tốc góc quay của véc tơ. Các thành phần góc quay Ơ-le có thể xác định chuyển động của mảng hoặc khối kiến tạo bằng các phương pháp khác nhau.

Tuy nhiên, hiện nay phương pháp trắc địa được coi là chính xác và tin cậy hơn cả vì đây là phương pháp hình học có định lượng. Để đơn giản hóa việc lập mô hình biến dạng mảng lục địa, một cách tiếp cận khá phổ biến là nhấn mạnh vai trò của các đứt gãy, đồng thời thừa nhận mô 7 hình biến dạng gián đoạn trong lớp vỏ trên dễ vỡ hoặc đàn hồi và ứng dụng phương pháp tiếp cận khối, trong đó mỗi khối bao gồm vùng nội khối ổn định nằm xa đứt gãy và đới biến dạng nằm kề đứt gãy. Khi nghiên cứu chuyển động phần nội khối, thành phần chuyển động đứng được coi bằng không. Ở khu vực rìa chuyển động mảng sẽ tạo ra sự phá hủy, nâng hạ theo các kiểu phá hủy tổng hợp khác nhau, nên thành phần chuyển động đứng của vỏ Trái Đất có sự thay đổi [17].

Khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam nằm ở phía đông nam của mảng Á-Âu và chủ yếu được hình thành bởi hoạt động kiến tạo tại ranh giới các mảng hay khối bao quanh, được thể hiện trên Hình 1. Bản đồ phân khối kiến tạo hiện đại khu vực Đông Nam Á [39] 8 Có thể nhận thấy, lãnh thổ Việt Nam nằm trên hai khối kiến tạo đó là khối Nam Trung Hoa (South China Block) và khối Sunda (Sundaland Block) mà ranh giới là đứt gãy Sông Hồng. Trong kiến tạo địa phương, thuật ngữ “khối kiến tạo” còn được dùng để chỉ những khối cấu trúc là yếu tố cấu thành của một khối trong kiến tạo khu vực [17]. Xét dưới góc độ chuyển động mặt và vỏ Trái Đất liên quan tới động đất, người ta phân biệt chuyển dịch đồng thời với động đất (coseismic displacement) và chuyển dịch giữa hai lần động đất (interseismic displacement).

Mô hình chuyển dịch mặt đất do động đất phụ thuộc vào từng loại đứt gãy gây nên động đất, chuyển động của khối kiến tạo được coi là tổng của chuyển dịch đồng thời với động đất và chuyển dịch giữa hai lần động đất [17]. Đứt gãy kiến tạo Đứt gãy (còn gọi là biến vị, đoạn tầng hoặc phay) là một hiện tượng địa chất liên quan tới các quá trình kiến tạo trong vỏ Trái Đất. Đứt gãy chia làm nhiều loại: Đứt gãy thuận, đứt gãy nghịch, đứt gãy ngang. Thông thường, đứt gãy thường xảy ra tại nơi có điều kiện địa chất không ổn định.

Đứt gãy kiến tạo, nhất là những đứt gãy lớn, chạy dài hàng trăm, hàng ngàn cây số qua nhiều vùng lãnh thổ với địa hình và kiến tạo khác nhau. Do nằm cách xa phần ranh giới của mảng kiến tạo nên các đứt gãy trên lãnh thổ Việt Nam là những đứt gãy nội mảng, các đứt gãy này đóng vai trò phân chia các khối thạch quyển cấp II, III và IV. Theo tác giả Cao Đình Triều [19], các đứt gãy cấp II thạch quyển (cấp 1 Việt Nam) có dấu hiệu hoạt động ở Việt Nam và lân cận bao gồm 11 đứt gãy, được ký hiệu là FII; các đứt gãy cấp III thạch quyển (cấp 2 Việt Nam) có dấu hiệu hoạt động ở Việt Nam và lân cận bao gồm 34 đứt gãy, được ký hiệu là F III. Hệ thống các đứt gãy trên lãnh thổ Việt Nam được thống kê trong Bảng 1.

Hệ thống các đứt gãy trên lãnh thổ Việt Nam [19] Đặc điểm Số Ký Hình thái - Hình động học Tên đới đứt gãy TT hiệu Phương Độ Bề Hướng cắm phát triển sâu rộng 9 (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) 1. Đới đứt gãy cấp II thạch quyển (cấp I Việt Nam) 1 FII.1 Lai Châu - Điện Biên KT ?: 600 ÷ 800 TQ 30 2 FII.2 Sông Hồng TB ĐB: 600 ÷ 700 TQ 30 3 FII.3 Sông Lô TB TN: 600 ÷ 700 TQ 30 4 FII.4 Bắc Hoàng Sa ĐB TB TQ 40 5 FII.5 Phú Lâm - Linh Cẩu ĐB TB TQ 30 6 FII.6 Ranh giới vỏ Đại Dương TQ 7 FII.7 Thuận Hải - Minh Hải ĐB TB: 500 ÷ 700 TQ 30 8 FII.8 Nam Côn Sơn - Tư Chính ĐB TQ 9 FII.9 Ba Tháp TB TN: 700 ÷ 800 TQ 30-40 10 FII.10 Natuna KT T TQ 30 TB, ĐB, 11 FII.11 Sarawak - Baram - Palawan TQ 30 ĐB 2. Đới đứt gãy cấp III thạch quyển (cấp II Việt Nam) 1 FIII.1 Phong Thổ TB TN: 650 ÷ 850 XV 20-30 2 FIII.2 Phan Sipan TB TN: 600 ÷ 800 XV 10-20 3 FIII.3 Mường La - Bắc Yên TB ĐB: 500 ÷ 700 XV 10-20 4 FIII.4 Sơn La TB ĐB: 600 ÷ 700 XV 30-40 Điện Biên - Sầm Nưa - 5 FIII.5 TB ĐB: 500 ÷ 800 XV 30-40 Thường Xuân Yên Minh - Bắc Kạn (Sông 6 FIII.6 Á KT T XV 10-20 Đáy) 7 FIII.7 Cao Bằng - Tiên Yên TB ĐB: 700 ÷ 800 XV 10-20 8 FIII.8 Cô Tô ĐB ĐN XV 10-20 9 FIII.9 Sông Cả TB ĐB: 500 ÷ 600 XV 20-30 10 FIII.10 Lôi Châu ĐB TB: 600 ÷ 750 XV 20-30 11 FIII.11 Rào Nậy TB TN: 600 ÷ 800 XV 20-30 12 FIII.12 Hải Nam ĐB ĐB: 600 ÷ 700 XV 20-30 A Lưới - Rào Quán - Sơn 13 FIII.13 ĐB ĐB: 600 ÷ 800 XV 20-30 Tây - Quy Nhơn 14 FIII.14 Kinh tuyến 110 (Phú Khánh) KT T XV 20-30 10 15 FIII.15 Ốc Tai Voi ĐB XV 20-30 16 FIII.16 Nam Hoàng Sa TB XV 10-20 17 FIII.17 Kinh tuyến 117 KT XV 20-30 18 FIII.18 Buôn Hồ TB ĐB: 400 ÷ 500 XV 20-30 19 FIII.19 Tuy Hòa ĐB ĐN: 500 ÷ 700 XV 20-30 20 FIII.20 Lộc Ninh - Hàm Tân TB TN: 600 ÷ 800 XV 20-30 21 FIII.21 Sông Pô Cô KT T: 600 ÷ 800 XV 30-40 22 FIII.22 Nam Du KT T XV 20-30 23 FIII.23 Tây Côn Sơn ĐB TB: 600 ÷ 700 XV 20-30 24 FIII.24 Đông Côn sơn ĐB TB: 500 ÷ 600 XV 10-20 25 FIII.25 Trường Sa VT XV 100 26 FIII.26 Palawa TB XV 10-20 27 FIII.27 Vũng Mây VT B XV 10-20 28 FIII.28 An Bang ĐB XV 10-20 29 FIII.29 Kiêu Ngựa ĐB ĐN XV 10-20 30 FIII.30 Tây Baram TB ĐB XV 10-20 31 FIII.31 Bắc Sarawak TB-VT TN-N XV 10-20 32 FIII.32 Đông Natuna KT Đ XV 20-30 33 FIII.33 Pantani KT Đ XV 20-30 34 FIII.34 Đông Malaysia TB ĐB XV 20-30 Chú thích: Cột 1: Số thứ tự của đứt gãy theo thống kê của bảng 1 Cột 2: Ký hiệu của đứt gãy dùng để tra cứu trên hình vẽ Cột 3: Tên đứt gãy Cột 4: Phương phát triển của đứt gãy: TB (Tây Bắc - Đông Nam); ĐB (Đông Bắc - Tây Nam); KT (Kinh tuyến); áKT (á Kinh tuyến); VT (Vĩ tuyến) và áVT (á Vĩ tuyến) Cột 5: Hướng cắm và góc cắm của đứt gãy: ĐB (Đông Bắc); TN (Tây Nam); B (Bắc) và N (Nam) 11 Cột 6: Mức độ xuyên cắt của đứt gãy: TQ - Đứt gãy Thạch quyển (có khả năng xuyên cắt và là ranh giới khối địa động lực thạch quyển); XV - Đứt gãy xuyên vỏ (xuyên cắt vỏ và là ranh giới khối địa động lực) Cột 7: Bề rộng ảnh hưởng (đới động lực) của đứt gãy Hệ thống đứt gãy trên lãnh thổ Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Bắc, các đứt gãy đa phần có hướng Tây Bắc - Đông Nam hoặc hướng Bắc - Nam như thể hiện trong Hình 1.2 dưới đây: Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ