PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Đề tài nghiên cứu được lựa chọn bởi những lý do sau: Thứ nhất, vai trò của cơ cấu lao động (CCLĐ) và chuyển dịch CCLĐ. Chuyển dịch CCLĐ có ý nghĩa, vai trò quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch CCLĐ được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng, phục vụ đắc lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nó vừa là kết quả, vừa là yếu tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần cân đối lại cung - cầu trên thị trường lao động,. Ngoài việc tuân theo các quy luật kinh tế, chuyển dịch CCLĐ còn hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững, ổn định xã hội, cải thiện môi trường và phát triển con người. Thứ hai, các vấn đề về CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ trong thực tiễn. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường duy nhất để nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu và trở thành quốc gia văn minh, hiện đại.
Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó có chính sách đẩy nhanh chuyển dịch CCLĐ. Kết quả là, trong những năm vừa qua, CCLĐ của Việt Nam đã chuyển dịch theo hướng tích cực, phục vụ và đáp ứng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Năm 2016, lực lượng lao động (LLLĐ) trung bình cả nước là 54,4 triệu người, trong đó 53,3 triệu người có việc làm và hơn 1,1 triệu người thất nghiệp; lao động khu vực thành thị chiếm 31,75%; lao động khu vực nông thôn chiếm 68,25%; tỷ trọng lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (NLTS) chiếm 41,9%, nhóm ngành công nghiệp và xây dựng (CNXD) chiếm 24,7%, nhóm ngành thương mại và dịch vụ (DV) chiếm 33,4%; lao động có việc làm chủ yếu thuộc thành phần kinh tế (TPKT) ngoài Nhà nước và đầu tư nước ngoài (89,53%), chỉ một số ít lao động làm việc trong TPKT Nhà nước (10,47%). 2 Mặc dù, quá trình chuyển dịch CCLĐ của Việt Nam thời gian qua đã có tín hiệu tích cực nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Tốc độ chuyển dịch còn chậm; tồn tại tình trạng mất cân đối trong việc sử dụng lao động ở từng khu vực kinh tế; lao động hoạt động nông nghiệp tuy đã giảm những vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng lao động của cả nước,… Thứ ba, khoảng trống trong các nghiên cứu về CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ ở trong nước.
Chuyển dịch CCLĐ là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và hoạch địch chính sách trong nước. Đã có nhiều đề tài, vấn đề nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chuyển dịch CCLĐ ở Việt Nam như: Lê Xuân Bá và các cộng sự (2006) “Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch CCLĐ nông thôn Việt Nam” đã sử dụng phương pháp định lượng kết hợp mô tả định tính để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến CCLĐ. Nghiên cứu này không phân tích tác động của các nhân tố đến chuyển dịch CCLĐ Việt Nam nói chung mà chỉ phân tích tác động của các nhân tố đến chuyển dịch CCLĐ hộ gia đình. Phí Thị Hằng (2014) “Chuyển dịch CCLĐ theo ngành ở Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” đã phân tích thực trạng chuyển dịch CCLĐ theo ngành và nội bộ ngành trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2000 - 2012.
Trong phân tích này, tác giả chủ yếu sử dụng hai phương pháp: phân tổ kết cấu và dãy số thời gian do vậy chưa lượng hóa được nhân tố ảnh hưởng và tác động của CCLĐ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình. Trần Thị Thanh Hương (2015) “Tác động của chuyển dịch CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2005-2013” đã phân tích thực trạng CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê lượng hóa tác động của chuyển dịch CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đề tài chỉ giới hạn phân tích chuyển dịch CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế mà không phân tích tác động của các phân tổ khác như TPKT, khu vực thành thị/nông thôn,… 3 Tổng kết những nghiên cứu mà tác giả đã tham khảo cho thấy phần lớn các nghiên cứu chỉ giới hạn trong một không gian nhất định tại một khu vực hay một địa phương.
Nội dung nghiên cứu thường tập trung vào nhóm ngành kinh tế mà chưa bao quát hết quá trình chuyển dịch của cả nước (theo các phân tổ như TPKT, thành thị/nông thôn, trình độ chuyên môn kỹ thuật,…). Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, chỉ một số ít đã sử dụng mô hình để lượng hóa ảnh hưởng của chuyển dịch trong khi có thể vận dụng rất nhiều phương pháp thống kê để phân tích thực trạng CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ. Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu nêu trên tác giả mong muốn thực hiện đề tài này để góp phần làm phong phú nội dung nghiên cứu về CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ. Thứ tư, số liệu thống kê về lao động.
Số liệu thống kê lao động, việc làm do TCTK công bố khá đầy đủ và chi tiết. Khai thác Niên giám thống kê; Báo cáo Điều tra lao động, việc làm hàng năm của TCTK, tác giả đã thu thập được số liệu về CCLĐ Việt Nam trong những năm từ 2006 đến 2016. Ngoài ra, tác giả đã sưu tầm nhiều báo cáo phân tích, chuyên san của Tổng cục Thống kê về lao động, việc làm của Việt Nam để làm tài liệu nghiên cứu. Từ những lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thống kê cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016” làm luận văn.
Mục đích nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là phân tích thực trạng CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016. Mục đích nghiên cứu tổng quát trên được chi tiết hóa bằng các mục tiêu cụ thể như sau: (1) Lựa chọn chỉ tiêu thống kê phản ánh CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016. Trên cơ sở những chỉ tiêu này, xác định nội dung và phương pháp phân tích phù hợp; 4 (2) Phân tích thực trạng và xu hướng chuyển dịch CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016 để khẳng định tính khả thi của hệ thống chỉ tiêu và phương pháp thống kê đã lựa chọn; (3) Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch CCLĐ và kiến nghị thực hiện. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thống kê CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ của Việt Nam theo: nhóm ngành kinh tế, TPKT và khu vực thành thị/nông thôn.
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thống kê CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ của Việt Nam. - Phạm vi về thời gian: Phân tích, đánh giá CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ của Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2016 và dự báo CCLĐ của Việt Nam đến năm 2018. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng 3 nhóm phương pháp sau: * Phương pháp thu thập thông tin Luận văn sử dụng các phương pháp thu thập thông tin như tiếp cận hệ thống, phân tích tư liệu và thông tin sẵn có. Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được công bố bởi Tổng cục Thống kê và một số bộ, ngành khác trong nước và các tổ chức quốc tế: ILO, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF),… * Phương pháp tổng hợp, xử lý, trình bày thông tin Từ dữ liệu đã thu thập, luận văn tổng hợp thông tin và sử dụng các phương pháp thống kê như phân loại, phân tổ kết cấu, phương pháp tính các loại số tương đối, các loại đồ thị và bảng biểu thống kê để mô tả và trình bày về CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ.
* Phương pháp phân tích, đánh giá, dự báo, ra quyết định Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê như: phương pháp tính các chỉ tiêu phân tích, dãy số thời gian, biểu đồ, hồi quy-tương quan, chỉ số, phân tổ liên hệ, 5 so sánh dãy số song song để phân tích nội dung về CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ. Với mỗi nội dung, nhiệm vụ, có thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều biện pháp khác nhau để bổ sung cho nhau. Những đóng góp của luận văn Luận văn phân tích thực trạng CCLĐ và chuyển dịch CCLĐ Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016 theo 3 chỉ tiêu: nhóm ngành kinh tế, TPKT, khu vực thành thị/nông thôn. Luận văn đã: tính được mức độ chuyển dịch; xác định quy luật chuyển dịch; lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng và tác động của chuyển dịch CCLĐ; dự báo chuyển dịch CCLĐ theo từng chỉ tiêu nghiên cứu.
Trên cơ sở thực trạng đã phân tích, luận văn đưa ra định hướng và giải pháp để thúc đẩy quá trình chuyển dịch CCLĐ, thúc đẩy thị trường lao động ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động; Chương 2: Thực trạng cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016; Chương 3: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động Việt Nam đến năm 2020. 6 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và ý nghĩa về cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm về lao động và lực lượng lao động a) Khái niệm về lao động Lao động (hay người lao động) là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động (Luật Lao động số 10/2012/QH13). b) Khái niệm về lực lượng lao động Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quan niệm LLLĐ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm. Về độ tuổi lao động, ILO không quy định tuổi tối thiểu và tối đa tham gia LLLĐ mà do các quốc gia quy định căn cứ vào trình độ phát triển của nền kinh tế.