CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Tính khách quan của chuyển dịch cơ cấu lao động trong tiến trình CNH, HĐH 1. Những khái niệm 1.
Lao động và nguồn lao động * Lao động Lao động là một trong ba nhân tố của bất cứ một quá trình sản xuất nào và trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở nên khan hiếm thì nó được xem xét là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất. Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin: “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người”. Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực đưa ra khái niệm về lao động: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, ng qua hoạt động đó, con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người”. [3;10] Với cách tiếp cậ ong inh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là ột hàng hóa, dịch vụ.
Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất. òn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. Cũng như mọi hàng hóa và dịch khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. G cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động.
Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào. Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Nói cách khác, để có thể giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người. Vậy, có thế hiểu, lao động là hoạt động tự giác và hợp lí của con người, thông qua đó làm thay đổi các thành phần của tự nhiên và làm cho chúng thích ứng để thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
5 * Nguồn lao động, nguồn nhân lực - Về nguồn lao động Trước tiên, nói về người lao động, theo Điều 3, Bộ Luật Lao Động áp dụng năm 2013: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” Theo Báo cáo tổng hợp chuyển dịch cơ cấu lao động 5 huyện ngoại thành TP Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa – Thực trạng và giải pháp: “Lao động đang làm việc là những người đang có việc làm để tạo ra thu nhập, thời gian làm việc chiếm nhiều thời gian nhất trong các công việc mà người đó tham gia. Lao động đang làm việc không giới hạn trong độ tuổi lao động mà bao gồm cả những người ngoài độ tuổi đang tham gia lao động” [23]. Theo PGS-TS Vũ Văn Phú và TS Nguyễn Duy Hùng: “Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai phương diện: số lượng và chất lượng.” [15;11] “Lực lượng lao động” hay “nguồn ao động” là những khái niệm được sử dụng theo ý nghĩa khá gần gũi với nhau nhằm đề cập đến tập hợp người lao động trong nền kinh tế.
Theo thống kê của Việt Nam, nguồn lao động hiện hành bao gồm những người trong độ tuổi lao độn khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động. Nh g người trong độ tuổi lao động là nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ từ đ 5 tuổi đến hết 55 tuổi. - Về nguồn n ân lực ( hay nguồn lực con người) T định nghĩa của Liên Hợp Quốc:"Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực đưa ra khái niệm:“Nguồn nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động.”[3;12] 6 Tiếp đến, các tác giả nêu rõ “… nguồn nhân lực là một phạm trù để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ta của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất hàng hóa.”[3;13] Như vậy, có sự khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm nguồn lao động và nguồn nhân lực, cụ thể, khái niệm nguồn nhân lực được tiếp cận rộng hơn. Thực tế có một bộ phận người lao động được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm (những người không có nhu cầu tìm việc làm), những người trong độ tuổi lao động, nhưng đang đi học,… Tóm lại, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có sự đồng nhất tương đối về khái niệm “nguồn nhân lực” hay “nguồn lực con người”, “nguồn lao động”, “lực lượng lao động” với nghĩa chung nhất là nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Lực lượng lao động hay nguồn nhân lực có thể hiểu là các khái niệm đề cập đến tập hợp những n ười có đủ điều kiện thể lực và trí lực, tham gia vào các quá trình sản xuất, tạo ra những hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho nền kinh tế; thông qua đó tạo ra thu nhập cho phục vụ cho đời sống vật chất, tinh thần của chính mình. Cơ cấu lao đ Cơ cấu, theo qua điểm triết học, cơ cấu hay kết cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức t hức bên trong của một hệ thống, biểu thị sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại giữ các bộ phận, thành phần của nó.
C Đ là một phạm trù kinh tế tổng hợp, phản ánh hình thức cấu tạo bên trong của tổng thể lao động, sự tương quan giữa các bộ phận và mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận đó. CCLĐ thể hiện tỷ trọng của từng thành phần, từng yếu tố được phân theo từng tiêu chí khác nhau trong tổng thể hoặc tỷ lệ của từng yếu tố so với một yếu tố khác được tính bằng phần trăm. Cơ cấu lao động là một phạm trù phản ánh một tập hợp các bộ phận cấu thành tổng thể lao động theo những tỷ trọng nhất định và mối quan hệ về lao động giữa các bộ phận đó. 7 Cơ cấu lao động được tính theo công thức sau: d= Ybp/Ytt x 100 Trong đó: d: Tỷ trọng lao động của bộ phận so với tổng thể.
ybp: số lượng lao động của từng bộ phận cấu thành nên tổng thể. ytt: số lượng lao động của tổng thể nghiên cứu. Xét đến nội dung, chỉ tiêu phản ánh cơ cấu lao động. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh cơ cấu lao động khác nhau, tuỳ theo mục đích nghiên cứu để lựa chọn cho thích hợp.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, có các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu lao động như sau: + Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế + Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế. + Cơ cấu lao động theo vùng, lãnh thổ + Cơ cấu lao động phân theo độ tuổi và giới tính + Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu lao động theo trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật,. Chuyển dịch cơ cấu lao động Trước tiên, nói đến chuyển dịch cơ cấu, đây là quá trình phát triển của các bộ phận trong một hệ thống nhất, dẫn đến tăng trưởng khác nhau giữa chúng và làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó. Sự chuyển dịch xảy ra khi có các điều kiện sau: - Xuất hiện thêm hữn yếu tố mới hay mất đi một số yếu tố đã có, tức là có sự thay đổi về số lượng ộ phận của hệ thống.
- Tăng trưởng với nhịp độ khác nhau giữa các bộ phận trong hệ thống đã dẫn tới thay đổi cơ cấu. T ng trường hợp này sự điều chỉnh cơ cấu là kết quả của sự phát triển không đồng đều giữa các bộ phận sau mỗi giai đoạn. - Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận. Sự thay đổi này biểu hiện bằng số lượng các yếu tố có liên quan và mức độ tác động qua lại giữa chúng.
Và khi một yếu tố cấu thành hệ thống ra đời hay phát triển, do có mối quan hệ với các yếu tố khác còn lại, nó có thể tác động thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển các yếu tố có liên quan với nó. Chuyển dịch cơ cấu lao động cũng vậy, nó xảy ra là kết quả của quá trình phát triển. Đây là quy luật vận động khách quan khi mà sự tăng trưởng của các bộ phận dẫn đến thay đổi cơ cấu trong cơ cấu lao động của mỗi nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu lao 8 động là một khái niệm nêu ra trong một không gian và thời gian nhất định, làm thay đổi số lượng và chất lượng lao động.
Như vậy, CDCCLĐ được hiểu là sự di chuyển của lao động từ ngành này qua ngành khác, từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh tế khác và từ vùng này sang vùng khác. Từ đó tạo ra sự thay đổi về quy mô lao động giữa các ngành, vùng, thành phần kinh tế. Cơ cấu lao động được chuyển dịch tuỳ theo sự chuyển dịch của ơ cấu kinh tế, phục vụ và đáp ứng cho chuyển dịch của cơ cấu kinh tế. Ngược lại, khi cơ cấu lao động được chuyển dịch thuận lợi, lại tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế thuận lợi và đòi hỏi phải chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế.