Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CHUYEN DICH CƠ CAU KINH TE NÔNG NGHIỆP 1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Cơ cau kinh té Cơ cau là tập hợp những quan hệ cơ bản, tương đối ôn định giữa các yếu tố cầu thành nên hệ thống trong một thời gian nhất định. Như mọi sự vật, hiện tượng, cơ cau của hệ thống chuyên động và biến đổi không ngừng, nó có thể phát triển một cách tuần tự hoặc không tuần tự.
Sự thay đôi của cơ cấu sẽ làm cho tính chất, trình độ của hệ thống thay đổi theo. Theo lý thuyết hệ thống, co cau được hiểu là một thực thé gồm nhiều phan tử khác nhau: có cấu trúc và được cấu trúc theo những kiểu nhất định. Một hệ thống sẽ bao gồm những thành tố là những hệ thống con, mỗi hệ thống con này lại là tập hợp của những hệ thống nhỏ hơn. Mỗi hệ thống đều tồn tại và phát triển trong mối quan hệ mật thiết với các hệ thống khác cùng cấp, đồng thời với các phần tử trong mỗi hệ thống cùng tổn tại và phát triển cùng nhau tạo nên sự phát triển chung cho cả hệ thống.
Theo quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, có thé hiểu: “Cơ cau kinh tế là một tông thé hợp thành bởi nhiều yếu tố của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, những tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện KT-XH cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định”. Hoặc “Cơ cấu kinh tế hiểu một cách day đủ là một hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yêu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện KT-XH nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính lẫn định lượng, cả về số lượng lẫn chất lượng, phù hợp với những mục tiêu được xác định của nên kinh tế” [66] Như vậy cơ cấu kinh tế là tổng thể hợp thành bởi nhiều phần tử của nền kinh tế. Nó biểu thị nội dung, cách thức cấu trúc của các phần tử mà giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng (được do bang tỷ lệ % của các yếu tố trong toàn bộ nền kinh tế) và chất lượng (được đo bang mức độ chặt hoặc lỏng của mối liên kết giữa các yêu tố hợp thành hệ thong kinh té), trong những không gian va điều kiện lịch sử KT-XH cụ thê, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định. Các Mác cho răng: “Cơ cấu kinh tế là sự phân chia về chất và tỷ lệ về số lượng của các quá trình sản xuất xã hội”[116].
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các yếu tố tạo nên CCKT thường thay đổi theo thời gian nên CCKT cũng sẽ thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau của quá trình phát triển. Đó chính là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mat của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố câu thành co cấu kinh tế là không đồng đều. Quá trình thay đổi CCKT này gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hay nói cách khác, “ sự thay đổi của cơ cầu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển được gọi là chuyển dich cơ cấu kinh té” [116].
Cơ cau của mỗi nền kinh tế có sự khác nhau qua từng thời kì, từng giai đoạn lịch sử, chịu sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau. Dù trong thời gian nào, dưới hình thái xã hội nào thì nền kinh tế cũng chỉ phát triển được khi giữa những bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội xác lập được những mối quan hệ cân đối, những tỷ lệ của sự phân công lao động do những điều kiện KT-XH quy định. Sự tất yếu phân công lao động theo những tỉ lệ nhất định không thé bị triệt tiêu bởi một hình thái nhất định nào đó của xã hội, chỉ có hình thái biểu hiện của nó có thé thay đối (Các Mác). Do đó, trong quá trình đôi mới nên kinh tê nêu không có sự chuyên biên đáng ké tỉ lệ giữa các khu vực kinh tế theo cơ cấu tiến bộ, hợp lý sẽ không có sự phát triển ôn định và lâu dài cho nên kinh tế đó.
trong mỗi giai đoạn phù hợp với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất sẽ xuất hiện khả năng hình thành một CCKT phù hợp ứng với giai đoạn đó. Nếu sự phát triển kinh tế không tương ứng với điều kiện hiện có và những quy luật khách quan của quá trình phát triển sản xuất thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển. Còn nều CCKT phù hợp với điều kiện thực tế hiện có của lãnh thé và quy luật khách quan thì nên kinh tế sẽ phát triển thuận lợi. Vì thé việc xác định được một CCKT đúng dan trong thời điềm hiện tại và mô hình CCKT trong tương lai - sự CDCCKT- sẽ tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bén vững cho quá trình phát trién kinh tế của lãnh thé.
Sự CDCCKT luôn phải dựa trên cơ cầu kinh tế hiện đại của lãnh thô bằng cách cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu, không phù hợp với điều kiện hiện có dé xây dựng một cơ cầu kinh tế tiên tiền, hiện đại và phù hợp hơn. Quá trình CDCCKT là một quá trình có chủ đích nhằm thúc đầy sự phát triển kinh tế của một lãnh thỏ nhất định. Đây là một quá trình nhằm tích luỹ về lượng dé dẫn đến sự biến đôi về chat của cơ cau kinh tế. CCKT chuyên địch theo những yêu cầu và phương hướng tiến bộ hơn và có tính quy luật trong điều kiện cụ thẻ: - Tỉ trọng ngành công nghiệp - dịch vụ tăng, tỉ trọng nông nghiệp giảm trong nền kinh tế.
Những ngành cơ sử dụng công nghệ cao, năng suất lao động lớn sẽ tăng còn những ngành ít sử dụng công nghệ hiện đại, năng suất thấp sẽ có xu hướng ngày càng giảm đi. - Cơ cầu thành phan kinh tế cũng có dién biến đồng thời. tỉ trọng trong bộ phận kinh tế tư nhân ngày càng tăng: tỉ trọng kinh tế nhà nước giảm tương đối, song vai trò chủ đạo và then chốt của nó có thê thay đôi. Các hình thức kinh tế hỗn hợp có thể phát trién (cỗ phản, liên doanh).
- CCKT có thé thay đổi từ đơn giản đến phức tạp nhằm đem lại những lợi ích lớn hơn cho nhu cầu của con người ở mỗi thời kỳ khác nhau. CCKT có sự biến đôi, nhưng mức độ tính phức tạp bởi sự phát trién không nhịp nhàng giữa các ngành, các lãnh thô và thành phần kinh tế chịu sự chi phối của nhiều yếu tổ khác nhau. Dù có sự biến đổi nhưng nếu cơ cau kinh tế còn thích ứng với điều kiện (tự nhiên, KT-XH) của lãnh thé, chưa gây tro ngại cho sự phát triển của từng thành tô và cá hệ thông nên kinh tế thì chưa cần phải xác định lại cơ cau kinh tế. Chuyên dịch cơ cau kinh tế chỉ điễn ra khi: - Có sự thay đôi vẻ điều kiện phát triển (vốn, kĩ thuật, thị trường, nguyên liệu, lao động.) - Có những khả năng và biện pháp mới làm thay đổi phương thức khai thác các điều kiện hiện tại.
- Sự phát trién mỗi quan hệ giữa các bộ phận của CCKT có những trở ngại dẫn đến can trở lẫn nhau và làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nên kinh tế. Thực tế trên thé giới, những quốc gia muốn thoát khỏi nghèo nan, lạc hậu có thé khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực, các lợi thé cũng như đảm bảo nên kinh tế phát triển với nhịp độ cao và ôn định, thoả mãn được các nhu cầu của đời sông sản xuất và sinh hoạt của xã hội thì phải xác định một CCKT hợp lý, các ngành kinh tế quốc dân phải được trang bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến.Quá trình này phải gắn bó mật thiết với quá trình công nghiệp hoá. Hay nói cách khác, muốn có sự CDCCKT thì phải tiến hành CNH, quá trình CNH càng được đây mạnh thi cơ cấu kinh tế càng chuyền dịch mạnh mẽ tạo nên một cơ cau kinh tế hợp lý, giúp khai thác hợp lý và tối ưu các nguồn lực của lãnh thô. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp a. Khái niệm Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất ra đời sớm nhất trong hệ thông các ngành kinh tế quốc dân của xã hội, nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực - thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp và nguồn hàng cho xuất khâu. Ở Việt Nam, nông - lâm - thủy sản (Nông - lâm - ngư nghiệp) còn chiếm tỷ trọng lớn trong tông sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, là ngành chiếm tỷ trọng lớn về về lực lượng lao động trong cả nước. Vì thế, CCKT N-L-TS là bộ phận cau thành rất quan trong trong cơ cấu của nên kinh tế quốc dan, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát trién kinh té xã hội ở nước ta.
Cơ cau kinh tế nông nghiệp là một tông thé các mối quan hệ kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau theo những tỷ lệ nhất định vẻ mặt lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất, các bộ phận kinh tế tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Cơ cau kinh tế N-L-TS là tông thé kinh tế, bao gồm các quan hệ tương tác giữa các yeu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực N-L-TS trong khoảng thời gian và điều kiện KT-XH cụ thé. Nó được biểu hiện bang sự tương quan về số lượng và chất lượng của môi quan hệ trên [29]. Cơ cấu nông nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu: cơ cầu ngành, cơ cấu lao động, cơ cầu thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thê.
Các bộ phận này có môi quan hệ tương tác lẫn nhau. Cùng với sự phát triển của lực lượng san xuất, các môi quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận trong nông nghiệp sẽ thay đôi dẫn đến tăng năng suất lao động.