Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. KHÁI NIỆM NÔNG NGHIỆP Nông nghiệp: là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản (Đinh Phi Hổ, 2008). ĐẶC ĐIỂM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 2.1 Nền nông nghiệp nhiệt đới 2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho phép nước ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa: phân hóa rất rõ rệt theo chiều Bắc Nam và theo chiều cao của địa hình có ảnh hưởng đến cơ cấu mùa vụ và cơ cấu sản phẩm nông nghiệp. Sự phân hóa các điều kiện địa hình và đất trồng → phải áp dụng các hệ thống canh tác khác nhau giữa các vùng.
Tính chất nhiệt đới gió mùa của thiên nhiên nước ta làm tăng thêm tính chất bấp bênh vốn có của nông nghiệp. Việc phòng chống thiên tai, sâu bệnh hại cây trồng, dịch bệnh đối với vật nuôi luôn là nhiệm vụ quan trọng.2 Nước ta đang khai thác ngày càng có hiệu quả đặc điểm của nền nông nghiệp nhiệt đới. • Các tập đoàn cây, con được phân bố phù hợp hơn với các vùng sinh thái nông nghiệp. • Cơ cấu mùa vụ có những thay đổi quan trọng, với các giống ngắn ngày, chống chịu sâu bệnh và có thể thu hoạch trước mùa bão, lụt hay hạn hán.
• Tính mùa vụ được khai thác tốt hơn. Việc trao đổi nông sản giữa các vùng, nhất là giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam ngày càng mở rộng có hiệu quả. 6 • Đẩy mạnh sản xuất nông sản xuất khẩu (gạo, cà phê, cao su, hoa quả…) là một phương hướng quan trọng để phát huy thế mạnh của nông nghiệp nhiệt đới.2 Phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa song song với nông nghiệp cổ truyền Một đặc điểm khá rõ của nền nông nghiệp nước ta hiện nay là sự tồn tại song song: Nền nông nghiệp tự cấp tự túc, sản xuất theo lối cổ truyền. Nền nông nghiệp hàng hóa, áp dụng tiến bộ kỹ thuật hiện đại.
Và có sự chuyển từ nông nghiệp tự cấp tự túc sang nông nghiệp hàng hóa.1 Nền nông nghiệp cổ truyền Nền nông nghiệp cổ truyền được đặc trưng bởi Sản xuất nhỏ Công cụ thủ công Sử dụng nhiều sức người Năng suất lao động thấp Đó là nền nông nghiệp tiểu nông mang tính tự cấp, tự túc.Nền nông nghiệp cổ truyền còn rất phổ biến trên nhiều vùng lãnh thổ ở nước ta.2 Nền nông nghiệp hàng hóa Nền nông nghiệp hàng hóa đặc trưng ở chỗ người nông dân quan tâm nhiều hơn đến thị trường tiêu thụ sản phẩm.Mục đích sản xuất là tạo ra nhiều lợi nhuận.Sản xuất theo hướng: Đẩy mạnh sản xuất thâm canh, chuyên môn hóa. Sử dụng ngày càng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp, công nghệ mới. Nông nghiệp hàng hóa đang ngày càng phát triển và có điều kiện thuận lợi để phát triển ở: Những vùng có truyền thống sản xuất hàng hóa. Các vùng gần các trục giao thông và các thành phố lớn.
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 2. Ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên 2. Đất đai: 7 Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi. Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng, vật nuôi.
Đất nào, cây ấy. Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với sự phát triển và phân bố nông nghiệp. Nguồn tài nguyên đất nông nghiệp trên thế giới rất hạn chế, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên, trong khi số dân vẫn không ngừng tăng lên. Tuy diện tích đất hoang hoá còn nhiều, nhưng việc khai hoang, mở rộng diện tích đất nông nghiệp rất khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức và tiền của.
Đó là chưa kể đến việc mất đất do nhiều nguyên nhân như xói mòn, rửa trôi, nhiễm mặn và chuyển đổi mục đích sử dụng. Vì vậy, con người cần phải sử dụng hợp lí diện tích đất nông nghiệp hiện có và bảo vệ độ phì của đất. Khí hậu và nguồn nước Khí hậu và nguồn nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở từng địa phương. Sự phân chia các đới trồng trọt chính trên thế giới như nhiệt đới, cận nhiệt, ôn đới và cận cực liên quan tới sự phân đới khí hậu.
Sự phân mùa của khí hậu quy định tính mùa vụ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Các điều kiện thời tiết có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát sinh và lan tràn dịch bệnh cho vật nuôi, các sâu bệnh có hại cho cây trồng. Những tai biến thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, bão… gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp. Chính điều này làm cho ngành nông nghiệp có tính bấp bênh, không ổn định.3 Sinh vật Sinh vật với các loài cây con, đồng cỏ và nguồn thức ăn tự nhiên là cơ sở để thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng và vật nuôi, cơ sở thức ăn tự nhiên cho gia súc và tạo điều kiện cho phát triển chăn nuôi.
Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế xã hội 2.1 Dân cư và nguồn lao động Đất đai ít, ngành nghề và dịch vụ kém phát triển, lao động dư thừa và hàng năm tiếp tục tăng thêm. Hiện nay bình quân mỗi hộ có 0,68 ha, 01 lao động nông nghiệp có 0,27 ha nhưng vẫn tiếp tục giảm và rất manh mún. Gần 30 triệu lao động ở nông thôn, 95% sản xuất nông lâm nghiệp nhưng chỉ sử dụng 73% và hàng năm tiếp tục tăng 8 thêm khoảng 01 triệu lao động, những nhân tố này đã làm cho năng suất và thu nhập của người lao động rất thấp. Mặt khác với nguồn lao động dồi dào và tiếp tục được bổ sung, giá nhân công thấp.
Theo Tổng cục thống kê, lao động nông nghiệp hiện có 30 triệu người (chiếm trên 70% lao động chung) và hàng năm khu vực nông thôn tiếp tục được bổ sung thêm khoảng 01 triệu lao động đến độ tuổi hứa hẹn sẽ đem lại những tín hiệu tích cực cho nền nông nghiệp nước nhà.2 Các quan hệ sở hữu ruộng đất Việc giao khoán đất nông nghiệp đã tạo ra động lực mới kích thích sản xuất phát triển, người nông dân được quyền làm chủ sản xuất trên mảnh đất của mình. Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập, đó là ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ không thể tiến tới sản xuất hàng hoá lớn. Những năm qua,nhiều tỉnh thành đã đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, nhờ đó đã khắc phục được tình trạng manh mún ruộng đất, bước đầu hình thành vùng chuyên canh các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Cũng từ phong trào này, nhiều mô hình kinh tế mới đã xuất hiện.
Tiến bộ khoa học kỹ thuật 2.1 Khoa học kỹ thuật được áp dụng khá rộng rãi Trong trồng trọt, việc áp dụng giống mới và các quy trình canh tác tiên tiến, chương trình “3 giảm, 3 tăng”, IPM, GAP được đẩy mạnh. Trong chăn nuôi, giống mới, thức ăn công nghiệp và phương pháp chăn nuôi kiểu công nghiệp, bán công nghiệp, an toàn sinh học được phổ biến ngày càng rộng hơn. Trong thuỷ sản, công nghệ sinh sản nhân tạo một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao (tôm sú, tôm he, cá tra, ba ba, cua, nhuyễn thể 2 vỏ.) đã tạo nên cuộc cách mạng thực sự trong nuôi trồng thuỷ sản. Công nghệ mới cũng được áp dụng trong các nghề khai thác như câu vàng cá ngừ, câu cá mực, điều chỉnh kích thước mắt lưới trong khai thác để bảo vệ nguồn lợi; áp dụng công nghệ làm lạnh nước biển để bảo quản cá, tôm và các sản phẩm khai thác sau thu hoạch.
Trong lâm nghiệp nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhất là trong tuyển chọn, tạo giống mới, nhân nhanh giống bằng công nghệ mô, hom được đưa vào sản 9 xuất, góp phần cải thiện năng suất, chất lượng rừng. Hiện nay, nhiều diện tích rừng kinh tế được trồng bằng giống tiến bộ kỹ thuật. Tỷ lệ thành rừng đối với rừng trồng tăng từ 50% bình quân vào những năm 1990 lên trên 80%, nhiều nơi năng suất rừng trồng đã đạt 15 – 20m3/ha/năm. Trong chế biến nông, lâm, thuỷ sản, ngoài việc chủ động đổi mới công nghệ, thiết bị, đa dạng hoá sản phẩm, còn tăng cường việc kiểm tra, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm tại vùng nguyên liệu và các cơ sở sơ chế, bảo đảm chất lượng nguyên liệu và sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.
Trong thuỷ lợi, nhiều công nghệ mới được áp dụng trong xây dựng và quản lý, như công nghệ bê tông đầm lăn, kè bản nhựa, van nhựa tổng hợp, đập xà lan di động, đập cao su, bơm di động trên ray, công nghệ điều khiển từ xa trong quản lý, điều hành các công trình thuỷ lợi. 2 Cơ khí hoá nông nghiệp có bước tiến bộ Đến năm 2013, nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp đạt tỷ lệ cơ giới hoá cao, như: làm đất đạt 70%, tưới tiêu nước 85%, tuốt lúa 83,6%; xay xát lúa gạo đạt 95%; phát triển mạnh máy gặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long .Tổng công suất tàu, thuyền đánh bắt thuỷ sản năm 2006 đạt 5,8 triệu CV; công suất trung bình máy tàu tăng từ 17,5 CV/tàu (năm 1990) lên 60,6 CV/tàu.3 Thị trường Nông nghiệp là một ngành xuất khẩu chủ lực và duy nhất có giá trị thặng dư xuất khẩu, nhưng giá trị xuất khẩu nông sản hàng năm của nước ta luôn có những biến động đáng lưu tâm. Một điều nghịch lý là, dù sản lượng xuất khẩu của các mặt hàng nông sản chủ lực như gạo, cà phê, cao su, thủy sản đều tăng nhưng giá trị xuất khẩu các mặt hàng trên lại giảm. Qua đó cho thấy, việc duy trì và ổn định giá của các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam hiện là một nhiệm vụ vô cùng cấp bách và không ít khó khăn của ngành.