CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH VÀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH 1.1 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh 1.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (Adam Smith) Theo Adam Smith các quốc gia sẽ có lợi khi tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi sản phẩm cho nhau. Khi tiến hành phân công lao động giữa các quốc gia thì phải dựa trên lợi thế tuyệt đối của quốc gia mình, tức là các quốc gia nên tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có hao phí cá biệt thấp hơn hao phí trung bình của thế giới. Nhờ vào xuất khẩu, quốc gia đó sẽ nhập những mặt hàng mà mình không có lợi thế tuyệt đối, tức hao phí cá biệt của quốc gia mình cao hơn hao phí trung bình của thế giới. Như vậy, lợi thế tuyệt đối của một quốc gia về một mặt hàng nào đó được đo lường bằng năng suất lao động và chi phí để sản xuất ra mặt hàng đó so với quốc gia còn lại.
Tuy nhiên, lý luận này có hạn chế là nếu như quốc gia nào không có lợi thế tuyệt đối thì không thể trao đổi trên thế giới.2 Lý thuyết về lợi thế tương đối (David Ricardo) Để khắc phục những hạn chế về lý luận lợi thế tuyệt đối của A.Smith, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết về lợi thế tương đối (lợi thế so sánh) trong thương mại quốc tế. Theo ông, nếu một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt hàng so với quốc gia còn lại thì vẫn tồn tại cơ sở mậu dịch quốc tế. Cả hai quốc gia có thể tìm được lợi thế so sánh qua sự phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất ngay cả khi hiệu quả kinh tế ở hai mặt hàng của họ đều thấp hơn trước. Để giải thích một cách rõ ràng về lợi thế tương đối của một quốc gia, ông dùng đến khái niệm về chi phí cơ hội.
Chi phí cơ hội để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá được đo bằng số lượng hàng hoá còn lại mà chúng ta phải hi sinh để sử dụng nguồn lực sản xuất ra mặt hàng mà mình đang xem xét. Do đó, một quốc gia có lợi 8 thế tương đối về một mặt hàng nào đó khi chi phí cơ hội để sản xuất ra nó thấp hơn so với quốc gia còn lại, lúc đó quốc gia có lợi thế sẽ chuyên môn hoá sản xuất mặt hàng này. Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét đơn lẻ hai yếu tố có lợi thế so sánh, ví dụ như xem xét hai yếu tố sản xuất và công nghệ giống nhau, tức tỷ lệ sử dụng vốn và lao động giống nhau ở hai nước thì thật sự chưa đủ, vì trong thực tế thì các yếu tố này rất đa dạng và không giống nhau, nên đây cũng là hạn chế của mô hình.3 Lý thuyết về sự dồi dào các nhân tố sản xuất (Heckscher - Ohlin) Đây là lý thuyết do hai nhà kinh tế học người Thuỵ Điển mang tên Eli Heckscher và Bertil Ohlin. Lý thuyết này cho rằng, trong nền kinh tế thế giới các sản phẩm sản xuất ra được chia thành hai loại: sản phẩm thâm dụng về lao động và sản phẩm thâm dụng về vốn.
Đồng thời các quốc gia cũng chia thành hai nhóm tương ứng, đó là các quốc gia dồi dào về lao động, và các quốc gia dồi dào về vốn. Đối với các quốc gia dồi dào về vốn thì sẽ có lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất những mặt hàng thâm dụng về vốn, tương tự các quốc gia dồi dào về lao động thì sẽ có chi phí nhân công thấp. Do đó, có xu hướng dẫn đến giá phí thấp và sẽ có lợi thế cạnh tranh về mặt hàng mà quốc gia đó sản xuất. Theo Heckscher – Ohlin, các quốc gia có lợi thế cạnh tranh khác nhau là do sự khan hiếm tương đối của các yếu tố sản xuất khác nhau từ sự khác nhau của cơ cấu nguồn lực sẵn có và các giai đoạn phát triển khác nhau.
Từ đó, cho thấy rằng trong một nền kinh tế, việc sử dụng lợi thế cạnh tranh là quá trình lựa chọn cơ cấu ngành phù hợp. Sự kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất khác nhau sẽ tạo thành các hàng hoá khác nhau, vì thế mỗi quốc gia nên chọn cho mình một cơ cấu ngành hàng phù hợp với nguồn lực sẵn có của mình.2 Mô hình viên kim cương của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh Trong tác phẩm lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “viên kim cương”. Ông cho rằng không có quốc gia nào có lợi 9 thế cạnh tranh ở tất cả các ngành hay hầu hết các ngành. Mỗi quốc gia chỉ có thể thành công ở những ngành nhất định có lợi thế cạnh tranh bền vững khi tham gia vào thương trường kinh doanh quốc tế.
Các yếu tố quyết định của mô hình bao gồm: điều kiện về các nhân tố; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh của DN. Ngoài ra, còn có hai biến bổ sung là vai trò của nhà nước và các yếu tố thời cơ.1: Mô hình viên kim cương của Michael Porter Chính Chieán löôïc coâng ty, caáu phuû truùc vaø söï caïnh tranh Ñieàu kieän Ñieàu kieän nhaân toá nhu caàu Caùc ngaønh coâng nghieäp hoã trôï vaø lieân quan 1.1 Điều kiện về nhân tố Theo lý thuyết kinh tế cổ điển thì các nhân tố sản xuất (lao động, đất đai, tài nguyên, vốn, cơ sở hạ tầng) quyết định sản xuất và kinh doanh của một quốc gia. Đây là những nhân tố mà một quốc gia được thiên nhiên ưu đãi. Các DN có thể có được lợi thế cạnh tranh khi họ sử dụng các nhân tố đầu vào có chi phí thấp, chất lượng cao và có vai trò quan trọng trong cạnh tranh.
Tuy nhiên, theo Michael Porter, không hẳn các nhân tố này mang lại lợi thế cạnh tranh nếu như chúng không được phân bổ hợp lý và hiệu quả, đặc biệt là đối với những ngành mà tăng năng suất không phải do yếu tố tự nhiên ban tặng mà do con người sáng tạo ra quyết 10 định. Nói cách khác, sử dụng, tạo ra, cải tiến và chuyên biệt hoá đầu vào có tầm quan trọng lớn hơn số lượng yếu tố đầu vào trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh. Có bốn loại nhân tố sản xuất: nhân tố cơ bản, tiên tiến, phổ biến và chuyên ngành. Các nhân tố cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên, đất đai, khí hậu, lao động giản đơn và nguồn vốn tài chính.
Các nhân tố tiên tiến bao gồm hệ thống hạ tầng viễn thông hiện đại, kỹ sư, lao động có tay nghề và trình độ cao. Các nhân tố phổ biến là nhân tố sử dụng chung cho tất cả các ngành như hệ thống đường cao tốc, vốn tín dụng, lao động có trình độ trung học. Còn nhân tố chuyên ngành chỉ phù hợp với một số ít ngành hoặc thậm chí chỉ có một ngành như cơ sở hạ tầng có những tính chất đặc thù, tri thức của một chuyên ngành cụ thể, kỹ năng cụ thể. Như vậy, theo Porter, để tạo ra lợi thế cạnh tranh thì phụ thuộc nhiều vào việc sở hữu các yếu tố cải tiến và chuyên ngành.
Bởi vì theo thời gian, những nhân tố hôm nay là nhân tố chuyên dùng hay tiên tiến thì ngày mai có thể là nhân tố phổ biến và cơ bản, do đó lợi thế cạnh tranh sẽ phụ thuộc nhiều vào việc tạo ra các nhân tố đầu vào.2 Điều kiện về cầu Cạnh tranh quốc tế không làm giảm tầm quan trọng của nhu cầu nội địa. Khi thị trường cho một sản phẩm đặc biệt ở địa phương lớn hơn nước ngoài thì các DN trong nước sẽ dành nhiều quan tâm đối với sản phẩm đó hơn các DN nước ngoài, dẫn đến lợi thế cạnh tranh khi các DN bắt đầu xuất khẩu sản phẩm. Bản chất của nhu cầu trong nước xác định cách thức DN nhận thức, lý giải và phản ứng trước nhu cầu của người mua. Người mua có đòi hỏi càng cao sẽ càng tạo cho DN áp lực đáp ứng các tiêu chuẩn cao đó về chất lượng, về kỹ thuật và dịch vụ; hoặc tạo sức ép chuyển sang đáp ứng đoạn nhu cầu mới, cao cấp hơn và do đó nâng cao lợi thế cạnh tranh.
Và nếu như nhu cầu trong nước lan toả sang các nước khác thì DN không chỉ được lợi từ sản phẩm mới mà còn được lợi từ việc tiếp cận các khách hàng có nhu cầu cao đó. 11 Mặt khác, mức độ cạnh tranh trong nước có vai trò quan trọng tác động tích cực hoặc tiêu cực đến lợi thế cạnh tranh thông qua quy mô thị trường. Nếu số lượng người mua ít sẽ tạo ra lợi thế tĩnh nhưng có thể làm giảm lợi thế động, ngược lại số lượng người mua nhiều sẽ tạo sự đa dạng về nhu cầu và tăng sức ép cạnh tranh giữa họ, nhờ đó mở rộng thông tin thị trường và thúc đẩy DN cải tiến kỹ thuật. Tốc độ tăng trưởng nhu cầu trong nước nhanh sẽ kích thích các DN áp dụng các công nghệ mới nhanh hơn.
Trong khi nhu cầu bão hoà nhanh cũng có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho DN trong nước. Nó sẽ làm cho các DN phải tiếp tục đổi mới, cải tiến, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường mức độ cạnh tranh trong nước. Thông qua đó những DN yếu kém sẽ bị đào thải và giữ lại những DN mạnh hơn và đổi mới hơn.3 Các ngành hỗ trợ và liên quan Một yếu tố quyết định khác của lợi thế cạnh tranh là có hay không sự tồn tại của các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan. Các ngành công nghiệp hỗ trợ là những ngành sản xuất cung ứng đầu vào cho chuỗi hoạt động SXKD của DN.
Trong khi đó, các ngành sản xuất liên quan là những ngành mà DN có thể phối hợp hoặc chia sẻ các hoạt động thuộc chuỗi hoạt động SXKD hoặc những ngành mà sản phẩm của chúng mang tính chất bổ trợ, việc chia sẻ hoạt động thường diễn ra ở các khâu phát triển kỹ thuật, sản xuất, phân phối, tiếp thị hoặc dịch vụ. Nhìn chung, một quốc gia có nhiều ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan có lợi thế cạnh tranh thì sẽ tạo cho DN lợi thế cạnh tranh.