Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGHÀNH NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Nông nghiệp 1. Những vấn đề chung về nguồn nhân lực nông nghiệp và nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Nông nghiệp 1. Nguồn nhân lực nông nghiệp * Nguồn nhân lực.
Thuật ngữ nguồn nhân lực (human resoures) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỉ XX khi mà tính chủ động sáng tạo của người lao động được đề cao. Thay vì sử dụng phương thức quản trị nhân viên (personnel management) - coi người lao động là lực lượng thụ động, thừa hành - phương thức quản trị nguồn nhân lực (human resource management) - coi trọng việc tạo môi trường cho người lao động phát huy khả năng vốn có ở mức cao nhất thông qua quá trình học tập, phát triển và cống hiến cho tổ chức. Phương thức quản trị nguồn nhân lực cho thấy tính hiệu quả cao hơn và chính từ đó thuật ngữ nguồn nhân lực được biết đến nhiều hơn. Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” chẳng hạn như: Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Begg, Fischer và Dornbusch, 2008) [19, tr22].
Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người (thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp, v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó. Như vậy, mặc dù có các biểu hiện khác nhau nhưng nguồn nhân lực một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng nhất sau: Nguồn nhân lực là 5 nguồn lực con người; nguồn nhân lực là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động; và nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của một xã hội. Ngoài ra còn có ba điểm chung mà ta có thế nhận thấy qua các quan niệm trên về nguồn nhân lực là: Số lượng, chất lượng, và cơ cấu nguồn nhân lực. Như vậy, nói tới nguồn lực con người là nói tới số lượng, chất lượng, và cơ cấu nguồn nhân lực.
Số lượng và chất lượng nguồn lực con người có quan hệ với nhau một cách chặt chẽ. Nếu số lượng nguồn lực con người quá ít sẽ gây khó khăn cho phân công lao động xã hội và do vậy, chất lượng lao động cũng bị hạn chế. Chất lượng nguồn lực con người nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một tổ chức xã hội, đồng thời cũng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thể người trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội. * Nguồn nhân lực nông nghiệp Việc nghiên cứu nguồn nhân lực (NNL) nông nghiệp có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp cũng như đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Cho đến nay có nhiều tài liệu và nhiều tác giả đưa ra quan niệm về NNL nông nghiệp cụ thể như: Chuyên đề “Kinh tế sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp” của Trường đại học Kinh tế quốc dân đưa ra khái niệm về NNL nông nghiệp dưới góc độ kỹ thuật nông nghiệp đó là: Tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của người lao động. Về số lượng bao gồm những người trong độ tuổi (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55) và những người trên và dưới độ tuổi nói trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp [14, tr. Như vậy, về lượng của NNL nông nghiệp khác ở chỗ, nó không chỉ bao gồm những người trong độ tuổi mà bao gồm cả những người trên và dưới độ tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động. Về chất lượng bao gồm thể lực và trí lực của người lao động, cụ thể là sức khoẻ, trình độ nhận thức, trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ và tay nghề của người lao động.
6 Theo PGS, TS Trần Xuân Cầu, quan niệm về NNL nông nghiệp dưới góc độ của kinh tế nguồn nhân lực: NNL nông nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có việc làm hay không và những người ngoài độ tuổi lao động có thể cần hay trong tương lai sẽ tham gia vào lực lượng sản xuất nông nghiệp với tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực về chuyên môn nông nghiệp có liên quan đến sự phát triển xã hội, ngoài ra nó còn đề cập đến vấn đề thể chất, trình độ văn hóa. Kế thừa những quan niệm trên và tiếp cận ở góc độ kinh tế chính trị, luận văn đưa ra quan niệm về NNL nông nghiệp như sau: NNL nông nghiệp là một bộ phận nằm trong NNL của một quốc gia hay một địa phương, bao gồm tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức của lực lượng lao động đang trực tiếp hoặc có khả năng sẵn sàng tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp để tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH. Từ quan niệm trên, NNL nông nghiệp được hiểu là một bộ phận nằm trong tổng thể NNL của một quốc gia hay một địa phương, bao gồm cả những người trong độ tuổi quy định có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên hoặc dưới độ tuổi lao động) đang tham gia vào quá trình sản xuất (trực tiếp hoặc gián tiếp, ít nhiều, thường xuyên hoặc không thường xuyên) và cả những người không tham gia nhưng có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia sản xuất nông nghiệp khi có nhu cầu. Về chất lượng, đó là tổng hợp những yếu tố về thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, kỷ luật lao động và những kinh nghiệm sống, làm việc của NNL nông nghiệp.
Nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Nông nghiệp. * Nguồn nhân lực chất lượng cao. Ở Việt Nam, thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao thường được tiếp cận theo nhiều cách thức khác nhau. Cách tiếp cận nhấn mạnh tới khả năng và vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam.
Cách tiếp cận này cho rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao 7 là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang”, bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh. Theo cách tiếp cận này, khả năng của nguồn nhân lực chất lượng cao thể hiện ở trình độ và năng lực cao; vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao thể hiện ở vai trò xung kích trong tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến và vai trò dẫn dắt những bộ phận nhân lực có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh. Cách tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên hiệu quả, năng suất của người lao động: Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc; từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của đơn vị nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Định nghĩa nguồn nhân lực chất lượng cao nêu trên thiên về mặt định tính, giúp ta có thể trả lời một cách lý thuyết: nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm những người lao động có khả năng như thế nào trong lực lượng lao động.
Tuy vậy, trong bối cảnh thực tế ở Việt Nam hiện nay, khi những tiêu chí đánh giá khả năng của người lao động chưa được lượng hóa thì dựa vào định nghĩa này, chúng ta sẽ rất khó khăn trong việc thống kê bộ phận lao động chất lượng cao. Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ chuyên môn cao và khả năng thích ứng nhanh của nguồn nhân lực chất lượng cao. Cách tiếp cận này cho rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất. Cách tiếp cận về nguồn nhân lực chất lượng cao với tư cách là cá nhân người lao động riêng lẻ gắn với tiêu thức phân loại về chuyên môn, kỹ thuật.
8 Theo cách tiếp cận này, nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên đại học, cao đẳng, công nhân lành nghề). Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ cao và khả năng thích ứng nhanh, đồng thời nhấn mạnh tới phẩm chất và khả năng sáng tạo tri thức của nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo cách tiếp cận này, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực. Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giái và có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có phẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đó được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao.
Dù các nhà nghiên cứu có những góc độ tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng tổng hợp lại, có thể nhấn mạnh tới những đặc trưng cốt lõi sau của lực lượng này: - Một là, về vai trò và tầm quan trọng: Nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng lao động ưu tú nhất, thực hiện vai trò dẫn đường đối với nguồn nhân lực nói chung trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. - Hai là, về số lượng: Nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ bao gồm một bộ phận nhân lực trong tổng số nguồn nhân lực quốc gia.