CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH NÔNG SẢN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng xanh Chuỗi cung ứng là một hệ thống liên kết các đơn vị kinh doanh từ giai đoạn sản xuất, gia công, đóng gói, phân phối cho đến tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động và quá trình liên quan đến sản xuất và phân phối sản phẩm từ nguyên vật liệu đến khách hàng cuối cùng. Nó là một mạng lưới các công ty và tổ chức liên kết với nhau để sản xuất và cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng.
Chuỗi cung ứng hiện nay là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong ngành kinh doanh và có tầm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và cạnh tranh của các doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng được thực hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng thường tập trung vào hai nội dung chính là (i) tính hợp tác trong chuỗi cung ứng (ii) vai trò của chuỗi cung ứng. Các nghiên cứu về chuỗi cung ứng Nghiên cứu chuỗi cung ứng là một lĩnh vực quan trọng trong kinh tế học và quản lý doanh nghiệp. Nó tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích các hoạt động và quy trình trong chuỗi cung ứng, từ nhà cung cấp đến khách hàng cuối cùng.
Việc nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về hoạt động chuỗi cung ứng của mình và đưa ra các giải pháp để tối ưu hoá hoạt động này. Các nghiên cứu chuỗi cung ứng thường tập trung vào các yếu tố như quản lý đơn đặt hàng, quản lý kho, quản lý vận chuyển, quản lý nhà cung cấp, quản lý thông tin và quản lý rủi ro. Các nghiên cứu này có thể được áp dụng cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau, từ sản xuất, bán lẻ, du lịch đến dịch vụ khác. Nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã được các nhà khoa học sớm nghiên cứu và sau đây là một số nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới như: Một số nghiên cứu tập trung làm rõ nội hàm, đặc điểm và sự vận hành của chuỗi cung ứng.
Barratt (2004) đã chỉ ra khái niệm và các cách tiếp cận khác nhau về chuỗi 9 cung ứng hợp tác, sự cần thiết phải hiểu rõ về sự hợp tác trong chuỗi cũng như sự cần thiết nâng cao sự hợp tác trong chuỗi cung ứng. Theo tác giả thì cách tiếp cận dựa trên mối quan hệ về nhu cầu và hành vi của người tiêu dùng sẽ là khái niệm chính xác nhất về hợp tác. Hợp tác trong chuỗi bao gồm sự hợp tác theo chiều ngang và hợp tác theo chiều dọc, bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra rằng quá trình hợp tác giữa các thành viên trong chuỗi không phải là việc dễ dàng. Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ tiếp cận từ người tiêu dùng, do đó cần có các nghiên cứu tiếp cận từ các thành phần khác của chuỗi cung ứng.
Mohamed và các cộng sự (2006) đã chỉ ra rằng có khoảng 1/3 lượng rau quả được người sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng nhờ các <chương trình hỗ trợ hoặc chợ đêm= do chính quyền và hiệp hội địa phương hoặc FAMA hỗ trợ; 2/3 lượng rau quả còn lại được tiêu thụ thông qua các trung gian phân phối. Con đường đi của rau quả sau thu hoạch cũng rất dài. Những hạn chế này khiến chuỗi khó tìm kiếm giá trị gia tăng (GTGT) và nâng cao chất lượng. Các nhà tổ chức chuỗi Malaysia đã thực hiện một cuộc cải tổ lớn trong ngành hàng rau quả, đó là dần thay thế chuỗi truyền thống bằng chuỗi hiện đại, tập trung nâng cao chất lượng rau quả và vận hành theo cơ chế linh hoạt, thống nhất.
Chuỗi mới vận hành trên cơ sở vai trò lãnh đạo và điều phối của các nhà bán lẻ có quy mô lớn. Điều này làm giảm đáng kể số lượng các trung gian bán buôn giúp chuỗi gọn nhẹ, ít xung đột, giá thành rau quả được giảm đáng kể, chất lượng gia tăng do không phải chờ đợi quá lâu trong khi chờ tiêu thụ. Ngoài ra, các nhà bán lẻ này còn tích hợp cả chức năng bán buôn vào chuỗi siêu thị/đại siêu thị/chuỗi cửa hàng tiện ích. Phương thức hoạt động chuyên nghiệp cộng với quy mô lớn, các chuỗi bán lẻ thực hiện các kết nối với nhà sản xuất và các đối tác thông qua hợp đồng, điều này giúp người nông dân tránh được các rủi ro thị trường.
Đồng thời chuỗi nhà bán lẻ còn cung cấp cho các đối tác các sáng kiến thoả mãn thị trường,giải pháp tiết kiệm chi phí, ban hành các tiêu chuẩn chất lượng tư nhân. Reddy và các cộng sự (2010) đã đưa ra các cách thức để tạo ra GTGT cho chuỗi giá trị: Khác biệt hóa sản phẩm trên cơ sở gia tăng chất lượng, áp dụng mức giá cạnh tranh với từng đối tượng khách hàng. Chế biến sâu sản phẩm để có thể tiêu dùng trực tiếp. Áp dụng công nghệ bảo quản hiện đại giữ rau quả tươi lâu, chất lượng ổn định.
Ở Andhra Pradesh, ngành bán lẻ chủ yếu theo 10 kiểu truyền thống, nhưng các cửa hàng theo mô hình hiện đại đang ngày càng phổ biến. Sự có mặt của chuỗi bán lẻ hiện đại tạo ra bình diện cạnh tranh công bằng cho nhiều chuỗi khác, giúp giảm thiểu các rủi ro về giá cả và sản xuất, từ đó tăng lợi nhuận cho người sản xuất nông nghiệp. Nhu cầu của người tiêu dùng về các sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng, an toàn. đang dần xóa bỏ mô hình sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ.
Các cửa hàng bán lẻ hiện đại giúp khách hàng có cơ hội được sử dụng sản phẩm có chất lượng, thuận tiện hơn. Ở Andhra Pradesh đã xuất hiện mô hình với các tổ chức và cơ chế tăng cường sự tham gia của các hộ sản xuất nhỏ vào chuỗi giá trị thực phẩm hiện đại. Nhu cầu về giảm trung gian phân phối cũng được lưu tâm nhằm gia tăng giá trị cho các thành viên chuỗi. Một số nghiên cứu đã làm rõ mối quan hệ hợp tác giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới đến việc chia sẻ thông tin và sự cộng tác trong chuỗi cung ứng.
Simatupang và các cộng sự (2002) đã tìm hiểu về mối quan hệ hợp tác giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng để đi đến thiết lập cách thức phân loại toàn diện cho các mô hình hợp tác này. Bốn mô hình hợp tác được đề cập đến trong nghiên cứu, bao gồm: đồng bộ hóa các dữ liệu thống kê, chia sẻ thông tin, thúc đẩy liên kết và nghiên cứu tổng hợp. Nhóm nghiên cứu đã dùng phương pháp lấy mẫu thực tế để kiểm nghiệm các giả thuyết đưa ra. Mẫu thực tế là một số doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân phối.
Nghiên cứu tạo ra sự vận dụng và kết hợp sáng tạo những kiến thức về mạng lưới hợp tác trong chuỗi cung ứng. Kết quả nghiên cứu mở đường cho hướng tiếp cận mới về quan hệ phối hợp giữa các chủ thể trong kênh phân phối cũng như giải pháp làm thế nào để thúc đẩy quan hệ hợp tác và đi đến mục tiêu chung. Kết quả nghiên cứu cũng gợi mở về mô hình nghiên cứu trong tương lai, tập trung vào nghiên cứu thực nghiệm để đánh giá tác động của các mô hình hợp tác chính trong chuỗi cung ứng, từ đó xác định được cơ hội cũng như thách thức cho doanh nghiệp trong kênh phân phối. Handfield và Bechtel (2002) đã đưa ra mô hình nhằm xây dựng các mối quan hệ chủ yếu giữa nhà cung cấp và người mua dựa vào sự tín nhiệm, các nhà cung cấp buộc phải đầu tư vào tài lực và nguồn nhân lực, những người mua phải vận dụng các hợp đồng một cách thận trọng để kiểm soát các mức độ phụ 11 thuộc liên quan đến mối quan hệ.
Mô hình đưa ra biến phụ thuộc là trách nhiệm của các thành viên trong chuỗi cung ứng thông qua các biến độc lập là mức độ tín nhiệm và sự phụ thuộc vào người mua, hợp đồng, mức độ đầu tư vào tài sản cố định, nguồn nhân lực…Các tác giả cũng đưa ra giả định rằng tất cả các biến phụ thuộc có quan hệ thuận với trách nhiệm chuỗi cung ứng ngoại trừ sự phụ thuộc của người mua thông qua 9 giả thuyết. Kết quả cho thấy rằng thậm chí trong những trường hợp khi lượng cầu vượt quá khả năng cung ứng của nhà cung cấp (lượng cung), sự khan hiếm xảy ra và khi đó hợp tác để xây dựng lòng tin - sự tín nhiệm (trust) trong mối quan hệ chuỗi có thể cải tiến được trách nhiệm nhà cung cấp và nâng cao sự hợp tác trong chuỗi cung ứng. Vereecke và Muylle (2006) tập trung xem xét mối quan hệ giữa sự hợp tác trong chuỗi và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại các doanh nghiệp nghiên cứu ở Châu Âu. Nghiên cứu này chỉ ra rằng tính hợp tác cao trong chuỗi càng cao sẽ đem lại hiệu quả hoạt động tốt hơn của doanh nghiệp, và sự hợp tác trong chuỗi không có tác động ngược đến hiệu quả hoạt động; và mặc dù chuỗi cung ứng hợp tác không đảm bảo cho thành công của doanh nghiệp nhưng nó là một thước đo quan trọng trong đánh giá mối quan hệ với khách hàng và nhà cung ứng.
Nghiên cứu đã chỉ ra được vai trò thuận chiều giữa tính hợp tác với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, tuy nhiên nghiên cứu giới hạn ở các doanh nghiệp ở Châu Âu. Frazier và các cộng sự (2009) đã xem xét mối quan hệ giữa doanh nghiệp bán lẻ và doanh nghiệp cung cấp, thể hiện qua việc chia sẻ các thông tin chiến lược nhằm tăng tính cạnh tranh và phát triển sản xuất dựa trên sự tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau. Tác giả thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp bán lẻ, phỏng vấn các nhà quản lý bởi họ thường là người chịu trách nhiệm chia sẻ các thông tin chiến lược. Sau đó tác giả tiến hành khảo sát, thu thập dữ liệu về các thông tin bên ngoài và thông tin nội bộ.
Nhóm tác giả đưa ra kết luận rằng việc chia sẻ thông tin chiến lược giữa doanh nghiệp bán lẻ với doanh nghiệp cung cấp là một khâu quan trọng trong công tác hoạch định chiến lược dài hạn cho cả hệ thống. Quá trình chia sẻ thông tin phụ thuộc vào vị trí của doanh nghiệp bán lẻ và mức độ phụ thuộc của họ vào doanh nghiệp cung cấp.