Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu luận án Chương 2: Cơ sở về lý luận và thực tiễn chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản Chương 3: Phương pháp nghiên cứu luận án Chương 4: Thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm cá hồng Mỹ tại Việt Nam Chương 5: Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm cá hồng Mỹ tại Việt Nam 8 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng thủy sản 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Hiện nay có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến phân tích và nâng cấp chuỗi cung ứng sản phẩm.
Các nghiên cứu sớm về lĩnh vực này thường dựa trên hai khung phân tích cơ bản là dựa vào động cơ từ người mua hoặc từ nhà sản xuất và đặc điểm của sản phẩm cho các sản phẩm cụ thể trong ngành trang sức, công nghiệp xe hơi, đóng tàu, máy bay, điện tử, áo quần, đồ chơi trẻ em, đồ dùng gia đình của Mỹ [79], [80], [81], [132]. Các tác giả đi phân tích 03 loại chuỗi cung ứng khác nhau dưới nhiều tiêu chí khác nhau như đặc tính sản phẩm và các giai đoạn của chu kỳ sống của sản phẩm. Dựa vào đó đưa ra giải pháp phù hợp và thay thế mô hình chuỗi cung ứng khả thi [120]. Tuy nhiên, các kết quả của các nghiên cứu này chưa chỉ ra quá trình tạo ra giá trị và giá trị tăng thêm của từng tác nhân tham gia chuỗi cũng như chưa đi phân tích các mối quan hệ liên kết giữa các tác nhân trong 03 chuỗi cung ứng này.
Ở một góc độ khác, Beamon [48] nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng thể về lý thuyết mô hình chuỗi cung ứng gồm nhiều giai đoạn như kế hoạch sản xuất và tích trữ, kiểm soát hàng tồn kho; hoạt động Logistics đầu ra. Tác giả cũng giới thiệu các mô hình và phương pháp thiết kế, phân tích chuỗi cung ứng (các mô hình tĩnh, mô hình phân tích ngẫu nhiên, mô hình kinh tế và mô hình mô phỏng), đánh giá thành quả chuỗi cung ứng thông qua các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, cũng như nhận diện các biến số tác động đến mô hình chuỗi cung ứng dựa trên phương pháp lập trình toán học để phân tích. Về cơ bản, cách tiếp cận của Beamon là sử dụng hệ thống tích hợp của chuỗi cung ứng để đề xuất những yêu cầu và các thành tố quan trọng để vận hành chuỗi cung ứng [112]. Meixell và Gargeya [110] cung cấp tổng quan lý thuyết về phân tích chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhóm tác giả chỉ ra một vấn đề trong vận hành chuỗi giá trị là phải xác định được số lượng và vị trí các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cũng như đánh 9 luan an giá sự phù hợp giữa các lý thuyết nghiên cứu và các vấn đề thực tế trong lĩnh vực vận hành chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng nhấn mạnh cấu trúc chuỗi cung ứng nên được xem xét lại hàng năm cùng với việc xác định những thay đổi cần thiết để đáp ứng những nhu cầu kinh doanh trong tình hình mới [59], [106], [110]. Đối với chuỗi cung ứng thủy sản, FAO [71] đã thực hiện các nghiên cứu về chuỗi giá trị các sản phẩm thủy sản khai thác tại Campuchia và FAO đã tiến hành phân tích các tác nhân trong chuỗi theo khía cạnh như: đặc điểm hoạt động sản xuất, từ đó thiết lập một chuỗi cung ứng cho các sản phẩm thủy sản được khai thác tại quốc gia này. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này vẫn chưa đề cập đến hoạt động phân chia lợi ích giữa các tác nhân chuỗi do quá trình thực hiện nghiên cứu FAO do số liệu lưu trữ không đầy đủ.
Đối với nhóm tác giả Dubay, Tokuoka và Gereffi [64] thực hiện nghiên cứu chuỗi giá trị tôm biển khai thác của Mexico xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Ngoài thông tin chỉ ra được trong kết quả nghiên cứu trùng với nghiên cứu của FAO thì nghiên cứu này còn xác định được quá trình phân phối thu nhập và chi phí giữa các tác nhân trong chuỗi nhưng chưa chỉ ra được tầm quan trọng của mối liên kết/hợp tác giữa các tác nhân tham gia chuỗi. Các báo cáo phân tích chuỗi thủy sản được khai thác ở một số quốc gia Châu Phi gồm: Tanzania, Maroc, Namibia,., đã đi phân tích sơ đồ chuỗi cung ứng cho một số sản phẩm thủy sản khai thác từ các quốc gia trên. Kết quả nghiên cứu này đã thực hiện phân tích, đánh giá các mối quan hệ tương tác giữa các tác nhân trong chuỗi theo sự vận hành chuỗi và cũng như chỉ ra được những thách thức từ môi trường bên ngoài như các rào cản thương mại đối với quá trình xây dựng vị thế cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế Hempel [91].
Trong dự án nuôi trồng phát triển thủy sản [10], [29] ngoài nội dung nghiên cứu chỉ ra giống [91] thì nghiên cứu này đã tiến hành phân tích và đánh giá trên 3 khía cạnh chính gồm: kinh tế, môi trường và xã hội/tổ chức, trong đó khía cạnh kinh tế được xem là yếu tố khó khăn, ảnh hưởng nhất đến phát triển bền vững ngành. Các công trình nghiên cứu trong nước Phan Lê Diễm Hằng và Nguyễn Ngọc Duy [13]; Nguyễn Ngọc Duy và cộng sự [5], [6], [7] thực hiện nghiên cứu chuỗi cung và chuỗi giá trị thủy sản khai thác 10 luan an cá ngừ sọc dưa từ biển, nghiên cứu đã sử dụng mô hình cấu trúc thực hiện kết quả thị trường (SCP) để xác định sự phân phối lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi. Kết quả nghiên cứu cho thấy những tác nhân tham gia chuỗi gồm: ngư dân, nậu vựa, công ty chế biến thủy sản, người buôn bán sỉ và người bán lẻ. Nghiên cứu này chủ yếu chỉ ra sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân tham gia chuỗi, cụ thể ngư dân khai thác tạo giá trị tăng thêm lớn nhất nhưng tỷ suất lợi nhuận của họ là thấp nhất, ngược lại các nậu vựa và công ty chế biến thủy sản đóng góp tỷ lệ giá trị thấp hơn nhưng thu được lợi ích cao nhất.
Đây là nguyên nhân chính dẫn đến vị thế cạnh tranh của chuỗi cung yếu. Nghiên cứu “Tiếp cận chuỗi cung ứng nâng cao lợi thế cạnh tranh cho mặt hàng tôm thẻ chân trắng” kết quả nghiên cứu chỉ ra những tác nhân chính tham gia chuỗi cung ứng tôm thẻ chân trắng gồm hộ nuôi, nậu vựa và công ty chế biến. Và giữa các tác nhân trong chuỗi thiếu sự liên kết hợp tác chặt chẽ trong chuỗi. Do vậy, đã dẫn đến sự phát triển quá nóng và mất cân đối giữa cung nguyên liệu, năng lực chế biến và nhu cầu của thị trường, và nguy cơ bùng phát dịch bệnh, các hệ lụy môi trường sống [4], [22].
Phạm Thị Thanh Thủy và cộng sự [34] nghiên cứu cấu trúc chuỗi cung ứng mặt hàng cá cơm cũng như xem xét và đánh giá vai trò của từng tác nhân bằng cách sử dụng mô hình cấu trúc SCP. Nghiên cứu đã chỉ ra việc phân chia lợi ích giữa các tác nhân chưa tương xứng. Để phát huy được lợi thế của chuỗi mặt hàng này cần phải xem lại quá trình phân chia lợi ích của các tác nhân trong chuỗi trong một mối quan hệ đầy đủ [2], [21], [31]. Thái Văn Đại và cộng sự [8]; Nguyễn Văn Thuận và Võ Thành Danh [33], kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy sự liên kết dọc giữa hộ nuôi cá tra và doanh nghiệp chế biến chuỗi cung còn nhiều bất cập, nên nguồn cung nguyên liệu cá tra thường xuyên không ổn định.
Tác nhân nuôi cá tra không kiểm soát được chất lượng yếu tố sản xuất đầu vào và trong quy trình nuôi chưa tuân thủ hoàn toàn theo một tiêu chuẩn chất lượng nhất định nên sản lượng cá tra nguyên liệu đầu vào của công ty chế biến thấp. Thêm vào đó, công tác qui hoạch và dự báo của ngành chưa thực sự tốt; thiếu hệ thống chia sẻ và giám sát thông tin về thị trường; tình trạng ô 11 luan an nhiễm môi trường nước và dịch bệnh gia tăng; mật độ nuôi quá dày dẫn đến chi phí sản xuất tăng; chất lượng thức ăn không ổn định và giá cả có xu hướng gia tăng. Nguyễn Thị Liên [20] đã từng bước phân tích từng đối tượng, từng khâu, xây dựng mô hình chuỗi cung ứng tích hợp với nhà cung cấp, bỏ qua khâu trung gian là các tác nhân thu mua, giúp công ty và người nuôi tôm xích lại gần nhau hơn, thuận lợi cho công tác kiểm tra, giám sát các khâu trong chuỗi, giúp người nuôi tôm yên tâm hoạt động, phát triển ngành nghề. Tác giả đã đi nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm tôm nuôi thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng chuỗi cung sản phẩm này trong mối liên hệ mật thiết với hiệu quả kinh tế bền vững, ngoài nội dung tác giả đã đi phân tích và đánh giá liên quan chuỗi cung sản phẩm này, tác giả chỉ ra sản phẩm tôm trong chuỗi cung có hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh với phương pháp phân tích chính như phương pháp hàm sản xuất, phương pháp ma trận SWOT,.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về nội dung các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi tôm tại tỉnh Quảng Nam, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hàm sản xuất để đi đánh giá và xuyên suốt nghiên cứu luận án tác giả sử dụng cách tiếp cận theo lý thuyết chuỗi cung ứng truyền thống và quan điểm về giá trị gia tăng của Porter [35]. Các công trình nghiên cứu về liên kết chuỗi cung ứng 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Xiang và cộng sự [135], Nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ khía cạnh ý định/động cơ và hành vi của các thành viên tham gia liên kết chuỗi. Nghiên cứu này dựa trên quan điểm thái độ và động cơ của thành viên hay động cơ và hành vi của họ có vai trò quan trọng ảnh hưởng lớn đến hành vi.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng 05 nhóm nhân tố gồm: đặc điểm cá nhân; đặc điểm gia đình; thái độ, sự tin tưởng; và nhu cầu của các thành viên tác động đến động cơ và hành vi liên kết quản lý, và nghiên cứu nhấn mạnh động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của các thành viên. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ ra liên kết yếu giữa các nhân tố trên với động cơ và hành vi với các hệ số tương quan hoặc hệ số tác động khoảng 0,10 đến 0,25.