CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản 1. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản 1.1 Các quan điểm phát triển nuôi trồng thuỷ sản a. Quan điểm về phát triển Phát triển và phát triển kinh tế là một trong những quan tâm hàng đầu của các quốc gia nhằm cải thiện mức sống của dân cư và gia tăng sản xuất.
Phát triển kinh tế luôn gắn liền với tăng trưởng nhưng tăng trưởng chỉ là một khía cạnh, trong điều kiện nguồn lực có hạn, các tác động đối với xã hội và môi trường càng lớn, xã hội cần phát triển theo hướng bền vững. Các quan điểm phát triển có thể tóm tắt theo các trường phái: trường phái cơ cấu, trường phái phát triển qua nhiều giai đoạn, trường phái của các nhà tân cổ điển, trường phái phát triển bền vững (PTBV). Trường phái cơ cấu chủ trương muốn phát triển kinh tế thì phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng của khu vực sơ khai và tăng dần tỷ trọng của khu vực chế tạo và khu vực dịch vụ. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu, công nghệ là thiết yếu.
Dựa trên lý thuyết này, chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã được áp dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển từ thập niên 50 của Thế kỷ 20 đến nay (Hoàng Thị Chỉnh, 2003). Mô hình tăng trưởng nhiều giai đoạn cho rằng các nước đang phát triển có thể đẩy mạnh phát triển kinh tế nếu họ nhận được nhiều vốn và được Nhà nước can thiệp và hỗ trợ hợp lý. Trường phái này cho rằng để trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, cần phải trải quan 5 giai đoạn: (1) Xã hội truyền thống; (2) Chuẩn bị các tiền đề để cất cánh; (3) Cất cánh; (4) Trưởng thành; (5) Xã hội dùng quy mô lớn. Các nước đang phát triển ở vào các giai đoạn thứ nhất và thứ hai.
Quan điểm này nhấn mạnh tốc độ phát triển mà không đề cập đến thay đổi cơ cấu giữa các ngành trong nền kinh tế, không nói tới các điều kiện cần thiết để chuyển qua các giai đoạn của quá trình phát triển kinh tế. 5 Trường phái Tân cổ điển, vào thập niên 80 của Thế kỷ 20, cho rằng muốn phát triển kinh tế các nước đang phát triển phải dựa vào thị trường chứ không phải dựa vào sự can thiệp của nhà nước. Nói cách khác, họ đề cao phát triển kinh tế gắn với thị trường với các biện pháp cần thực hiện là xoá bỏ những hạn chế thị trường, tư nhân hoá, tự do hoá thương mại, hay giảm sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế (Hoàng Thị Chỉnh, 2003). Nội dung phát triển nuôi trồng thuỷ sản Phát triển NTTS là bộ phận của phát triển sản xuất nói chung, đó là sự sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm thủy sản, năng suất lao động NTTS cao hơn, ổn định hơn, mang lại lợi nhuận cao hơn.
Cũng như phát triển sản xuất, phát triển NTTS bao gồm cả phát triển theo chiều rộng và theo chiều sâu. Phát triển NTTS theo chiều rộng là hướng phát triển mở rộng số lượng, qui mô NTTS. Cụ thể phát triển nhằm tăng sản lượng thủy sản nuôi trồng bằng cách mở rộng diện tích đất đai, mặt nước, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ NTTS. Trong giai đoạn đầu, NTTS thường phát triển theo hướng này và tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên.
Phát triển NTTS theo chiều sâu là thay đổi cơ cấu, chất lượng NTTS nhằm tăng hiệu quả của ngành. Cụ thể phát triển theo hướng này là tăng năng suất, sản lượng thủy sản dựa trên cơ sở thâm canh, đầu tư thêm vốn (hoặc tiết kiệm vốn), ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng NTTS phù hợp với mỗi hình thức nuôi. Ngoài ra, thay đổi cơ cấu loại hình NTTS, cơ cấu giống cũng nhằm nâng cao hiệu quả NTTS. Như vậy, phát triển theo chiều sâu là tăng hiệu quả NTTS trên một đơn vị diện tích hay nguồn lực sản xuất.
Như vậy, phát triển NTTS bao gồm sự gia tăng về quy mô, diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng, đồng thời là sự thay đổi cơ cấu giá trị sản phẩm và chủng loại thủy sản nuôi trồng theo hướng hiệu quả và bền vững. Vì vậy, phát triển NTTS phải thực hiện đồng thời nhiều nội dung khác nhau, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu là phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý NTTS, phương thức khai thác và sử dụng các yếu tố nguồn lực, tổ chức các hoạt động dịch vụ đầu vào, đầu ra cho NTTS và không ảnh hưởng đến tương lai. Do đó, khi đánh 6 giá sự phát triển NTTS cần tập trung vào các nội dung hiệu quả trên trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường hay phát triển NTTS bền vững. Các hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản Quá trình phát triển NTTS thường hướng tới 4 nội dung của tính bền vững: bền vững sinh thái, bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững thể chế (Anthony Charles, 2001).
- Bền vững sinh thái: quan tâm dài hạn để đảm bảo rằng sản lượng thu hoạch đạt mức bền vững, tránh làm cạn kiệt nguồn lợi; quan tâm đến việc duy trì cơ sở nguồn lợi ở mức không gây tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu cho thế hệ tương lai; duy trì hoặc tăng cường tính thích ứng và tính ổn định của hệ sinh thái. - Bền vững kinh tế: tập trung ở tầm “vĩ mô”, nghĩa là duy trì hoặc gia tăng lợi ích kinh tế tổng thể trong dài hạn. Lợi ích kinh tế tập trung chủ yếu vào việc tạo ra các lợi ích ròng bền vững, phân phối hợp lý những lợi ích này giữa các thành viên tham gia vào NTTS. - Bền vững xã hội: tập trung ở tầm “vi mô” nghĩa là duy trì hoặc nâng cao phúc lợi kinh tế, văn hoá – xã hội cho nhóm cộng đồng trong hệ thống NTTS.
- Bền vững thể chế: liên quan tới việc duy trì năng lực tài chính, hành chính và tổ chức phù hợp trong dài hạn được xem là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của các nội dung bền vững trên. Tính bền vững về thể chế bao gồm hàng loạt các quy định quản lý NTTS và các tổ chức để thực hiện những quy định đó. Yêu cầu quan trọng để đạt tính bền vững thể chế là khả năng quản lý và thực thi các quy định về sử dụng nguồn lợi. Phát triển bền vững của hệ thống NTTS đòi hỏi đáp ứng đồng thời 4 thành tố trên.
Do đó một hoạt động đánh bắt hay biện pháp quản lý ngành NTTS sẽ không được chấp nhận nếu nó gây ra các tác động tiêu cực lên một thành tố khác. Hay PTBV của hệ thống NTTS sẽ giảm xuống nếu một chính sách chỉ nhằm làm tăng một thành tố trong khi gây ảnh hưởng tiêu cực tới các thành tố khác. Vai trò của phát triển nuôi trồng thủy sản NTTS là một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia. Do đó, phát triển ngành này là cần thiết đối với nền kinh tế, bởi nó có một số vai trò sau: 7 * Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thuỷ sản và NTTS là ngành kinh tế giữ vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
Bình quân hàng năm thuỷ sản và NTTS của Việt Nam đáp ứng từ 39% - 43% tổng sản lượng thực phẩm, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh thực phẩm và dinh dưỡng quốc gia (Hà Xuân Thông, 2004). Trong những năm qua, phát triển thuỷ sản góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp. Mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp trong tổng GDP cả nước giảm dần từ 19,52% năm 2001 xuống còn 16,41% năm 2011, nhưng trong nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng thuỷ sản tăng từ 19,06% lên 21,3% (Bảng 1. * Tăng nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu và phát triển thương mại quốc tế Năm 2011 xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đạt 6,11 tỷ đô la Mỹ (USD) tăng 245% so với năm 2001.
Bình quân giai đoạn 2001 – 2011, sản lượng xuất khẩu tăng 15,03%/ năm, giá trị xuất khẩu tăng 13,16% (Bảng 1. Quan hệ thương mại thuỷ sản được mở rộng đã dẫn đến phát triển các quan hệ song phương và đa phương với các nước như Đan Mạch, Nhật Bản, Na Uy, Nga, Mỹ, Hàn Quốc. Các quan hệ này đã phát huy hiệu quả trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội (KT-XH) của ngành NTTS nói riêng và của cả nước nói chung. Cũng trên cơ sở này, tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập tốt hơn về kinh tế, pháp luật và thông lệ quốc tế với khu vực và thế giới (Đặng Thanh Sơn, 2009).
* Phát triển NTTS góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo Thuỷ sản được đánh giá là nguồn cung cấp quan trọng đạm động vật cho người dân. Cũng giống như một số nước Châu Á khác, thu nhập tăng đã khiến cho người dân có xu hướng chuyển sang tiêu dùng nhiều hơn mặt hàng thuỷ sản. Có thể nói sự phát triển của TS và NTTS đã đóng góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia (Trần Đức Hạnh, 2005). NTTS với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra cơ hội việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép thiếu việc làm.
Số lao động thường xuyên của NTTS tăng bình quân 2,4%/ năm, cao hơn mức tăng bình quân lao động chung cả nước (2%/ năm). Môi trường nuôi trồng thuỷ sản 1. Khái niệm môi trường nuôi trồng thuỷ sản Hiện nay chưa có một định nghĩa chi tiết về MT NTTS nhưng theo ý kiến của tác giả, MT NTTS có thể như sau: Các vấn đề MT trong NTTS phát sinh do NTTS phụ thuộc rất lớn vào “hàng hoá” MT (như nước nguồn, nước thải, thành phần thức ăn, giống. và “dịch vụ”.
Tác động qua lại giữa NTTS và MT bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố có mối quan hệ tương hỗ như tính có sẵn, số lượng và chất lượng của các nguồn nước được sử dụng, loài nuôi, quy mô trại nuôi, thiết kế và quản lý mô hình nuôi và đặc điểm MT của vùng nuôi. Sự tương tác giữa NTTS và MT là điều đã được biết và xem xét, đó là sự tác động của sự thay đổi MT đối với NTTS; tác động của NTTS đến MT và sự tác động của các loại hình NTTS với nhau.