THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ THÔNG MINH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nghiên cứu chính sách xây dựng đô thị thông minh tại TP.HCM: Thực tiễn triển khai, đánh giá hiệu quả, giải pháp nâng cao đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

194
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước

1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu của các công trình đã tổng quan và những vẫn đề tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.4.1. Đánh giá chung

1.4.2. Những vấn đề liên quan đến đề tài cần tiếp tục nghiên cứu

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ THÔNG MINH

2.1. Một số khái niệm

2.1.1. Đô thị thông minh

2.1.2. Chính sách và chính sách công

2.1.3. Thực hiện chính sách công

2.1.4. Chính sách xây dựng đô thị thông minh

2.1.5. Thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh

2.1.6. Chủ thể thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh

2.1.7. Quy trình thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh

2.1.8. Nội dung của chính sách xây dựng đô thị thông minh

2.1.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh

2.2. Tiểu kết

3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ THÔNG MINH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Khái quát chung về Thành phố Hồ Chí Minh

3.1.1. Giới thiệu đặc điểm tự nhiên

3.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội và đô thị TP. Hồ Chí Minh

3.2. Hệ thống chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Việt Nam

3.2.1. Một số văn bản cấp trung ương ban hành

3.2.2. Một số văn bản do Thành phố Hồ Chí Minh ban hành

3.3. Tổ chức thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh

3.4. Thực trạng việc xây dựng Kho dữ liệu dùng chung và phát triển Hệ sinh thái dữ liệu mở cho thành phố

3.5. Xây dựng Trung tâm mô phỏng dự báo xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của thành phố

3.6. Xây dựng Trung tâm điều hành và quản lý

3.7. Xây dựng Hệ sinh thái khởi nghiệp

3.8. Đánh giá việc thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017 - 2022

3.8.1. Những vấn đề người dân được hưởng lợi từ kết quả hoạt động thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh trong thực tế

3.8.2. Kết quả đạt được

3.8.3. Những hạn chế, bất cập

3.8.4. Nguyên nhân của kết quả đạt được

3.8.5. Nguyên nhân của những hạn chế

3.9. Tiểu kết chương 3

4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ THÔNG MINH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN 2030

4.1. Bối cảnh chung

4.1.1. Bối cảnh quốc tế

4.1.2. Bối cảnh trong nước

4.2. Quan điểm, định hướng thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh

4.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh

4.3.1. Tăng cường tuyên truyền bằng nhiều hình thức về chính sách xây dựng đô thị thông minh

4.3.2. Hoàn thiện quy trình, nội dung thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh

4.4. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Chính Sách Đô Thị Thông Minh TP

Nghiên cứu về chính sách đô thị thông minh TP.HCM đang trở thành một chủ đề nóng hổi, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và quản lý. Sự phát triển nhanh chóng của đô thị thông minh TP.HCM đặt ra nhiều câu hỏi về hiệu quả, tính bền vững và tác động xã hội của các chính sách hiện hành. Bài viết này tổng hợp và phân tích các nghiên cứu đã có, làm rõ những khoảng trống kiến thức và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc xây dựng một khung pháp lý đô thị thông minh hoàn chỉnh là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững của đô thị. Theo số liệu thống kê, đến năm 2050, tỷ lệ dân cư thành thị sẽ chiếm hơn 70% dân số thế giới. Do đó, nghiên cứu về chính sách đô thị thông minh càng trở nên cấp thiết.

1.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đô thị thông minh

Nghiên cứu về đô thị thông minh đã được tiến hành rộng rãi trên thế giới. Các nghiên cứu tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau, từ ứng dụng công nghệ trong đô thị thông minh đến quản lý đô thị thông minh. Tuy nhiên, ở Việt Nam, các nghiên cứu còn hạn chế về số lượng và chiều sâu. Cần có nhiều nghiên cứu hơn để đánh giá hiệu quả đô thị thông minh trong bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là tại TP.HCM.

1.2. Đánh giá các công trình nghiên cứu về chính sách đô thị

Phân tích các công trình nghiên cứu đã tổng quan về chủ đề chính sách đô thị thông minh. Xác định những vấn đề còn bỏ ngỏ và cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án. Các nghiên cứu cần tập trung vào việc đánh giá thực tiễn xây dựng đô thị thông minh và đề xuất các giải pháp đô thị thông minh phù hợp. Cần có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn để đưa ra những khuyến nghị chính sách khả thi.

II. Cách Nhận Diện Vấn Đề Xây Dựng Đô Thị Thông Minh TP

Thực tế xây dựng đô thị thông minh TP.HCM đang đối mặt với nhiều thách thức. Từ hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ đến thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, các vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và hiệu quả của quá trình chuyển đổi số. Cần có cái nhìn tổng quan và đánh giá chính xác để đưa ra những giải pháp phù hợp. Thành phố phải đối mặt với những thách thức như: Tình hình gia tăng dân số cơ học quá nhanh; Tình hình an ninh trật tự phức tạp; Vấn đề về ô nhiễm môi trường và ngập úng.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực và đầu tư cho hạ tầng đô thị

Việc đầu tư đô thị thông minh đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn. Hạ tầng đô thị thông minh cần được nâng cấp và đồng bộ để đáp ứng yêu cầu của các ứng dụng công nghệ. Việc huy động vốn từ khu vực tư nhân và các nguồn lực khác là rất quan trọng.

2.2. Rào cản pháp lý và thể chế cho phát triển đô thị thông minh

Khung pháp lý đô thị thông minh chưa hoàn thiện gây khó khăn cho việc triển khai các dự án. Cần có cơ chế thử nghiệm (sandbox) để khuyến khích sáng tạo và đổi mới trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ trong đô thị thông minh.

2.3. An ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong đô thị thông minh

Vấn đề an ninh mạng đô thị thông minh cần được đặc biệt quan tâm. Dữ liệu lớn (Big Data) đô thị thông minh cần được bảo vệ an toàn để tránh rủi ro về rò rỉ thông tin và tấn công mạng. Chính quyền cần đầu tư vào việc đảm bảo an ninh mạng cho hệ thống đô thị thông minh.

III. Phương Pháp Hoàn Thiện Chính Sách Đô Thị Thông Minh TP

Để giải quyết các vấn đề tồn tại, cần có một hệ thống các giải pháp đồng bộ và toàn diện. Từ việc hoàn thiện khung pháp lý đến nâng cao năng lực quản lý, các giải pháp này phải được triển khai một cách hiệu quả và bền vững. Cần có sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm chính quyền, doanh nghiệp, và cộng đồng. Chính quyền điện tử TP.HCM cần được phát triển để nâng cao hiệu quả quản lý và cung cấp dịch vụ công.

3.1. Xây dựng khung pháp lý toàn diện về đô thị thông minh

Hoàn thiện khung pháp lý đô thị thông minh với các quy định rõ ràng về ứng dụng công nghệ trong đô thị thông minh, quản lý dữ liệu, và bảo vệ quyền riêng tư. Cần có cơ chế thử nghiệm (sandbox) để khuyến khích sáng tạo và đổi mới.

3.2. Tăng cường hợp tác công tư PPP trong phát triển đô thị thông minh

Khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc đầu tư đô thị thông minh. Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghệ phát triển các giải pháp sáng tạo cho đô thị thông minh TP.HCM.

3.3. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành đô thị thông minh

Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý có kiến thức và kỹ năng về đô thị thông minh. Áp dụng các công cụ quản lý hiện đại để nâng cao hiệu quả điều hành đô thị thông minh.

IV. Giải Pháp Ứng Dụng Công Nghệ Cho Đô Thị Thông Minh TP

Ứng dụng công nghệ trong đô thị thông minh là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả hoạt động của thành phố. Từ giao thông thông minh đến quản lý năng lượng, các ứng dụng này có tiềm năng to lớn để cải thiện mọi mặt của đời sống đô thị. Việc ứng dụng và phát triển Internet of Things (IoT) đô thị là rất quan trọng.

4.1. Phát triển hệ thống giao thông thông minh ITS ở TP.HCM

Ứng dụng công nghệ để quản lý giao thông hiệu quả, giảm ùn tắc và tai nạn. Phát triển hệ thống giao thông thông minh TP.HCM với các ứng dụng như điều khiển đèn tín hiệu giao thông thông minh, thông tin giao thông thời gian thực, và hệ thống đỗ xe thông minh.

4.2. Xây dựng hệ thống quản lý năng lượng thông minh và hiệu quả

Ứng dụng năng lượng tái tạo đô thị thông minh và công nghệ tiết kiệm năng lượng để giảm tiêu thụ năng lượng và bảo vệ môi trường. Phát triển hệ thống quản lý năng lượng thông minh cho các tòa nhà và khu dân cư.

4.3. Phát triển hệ thống quản lý môi trường thông minh tại TP.HCM

Ứng dụng công nghệ để theo dõi và quản lý chất lượng không khí, nước và chất thải. Xây dựng hệ thống cảnh báo ô nhiễm môi trường và các giải pháp xử lý ô nhiễm hiệu quả. Cần đặc biệt quan tâm đến môi trường đô thị thông minh TP.HCM.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Chính Sách Đô Thị Thông Minh TP

Việc đánh giá hiệu quả đô thị thông minh là rất quan trọng để đảm bảo các chính sách và giải pháp được triển khai đúng hướng và mang lại lợi ích thực sự cho cộng đồng. Cần có các tiêu chí và phương pháp đánh giá khách quan và toàn diện. Cần có các số liệu cụ thể để đánh giá hiệu quả đô thị thông minh một cách chính xác.

5.1. Phân tích lợi ích kinh tế xã hội từ đô thị thông minh

Đánh giá tác động của đô thị thông minh đến tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Cần có các nghiên cứu để chứng minh lợi ích kinh tế và xã hội của đô thị thông minh.

5.2. Đánh giá mức độ hài lòng của người dân về đô thị thông minh

Khảo sát ý kiến người dân về các dịch vụ và tiện ích của đô thị thông minh. Thu thập phản hồi của người dân để cải thiện chất lượng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng. Chính sách cần hướng đến sự phát triển bền vững đô thị.

5.3. Đánh giá hiệu quả quản lý và vận hành đô thị thông minh

Đánh giá khả năng quản lý và điều hành đô thị thông minh của chính quyền. Xác định những điểm mạnh và điểm yếu trong công tác quản lý và đề xuất các giải pháp cải thiện.

VI. Tương Lai Phát Triển Đô Thị Thông Minh TP

Với tầm nhìn đến năm 2030, đô thị thông minh TP.HCM hướng đến trở thành một đô thị hiện đại, thông minh, và đáng sống. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự nỗ lực và hợp tác của tất cả các bên liên quan. Phát triển đô thị thông minh TP.HCM cần dựa trên nền tảng công nghệ và đổi mới sáng tạo.

6.1. Định hướng phát triển bền vững đô thị thông minh TP.HCM

Phát triển đô thị thông minh gắn liền với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đô thị. Xây dựng một đô thị xanh, sạch, và thân thiện với môi trường.

6.2. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong quản lý đô thị thông minh

Sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích dữ liệu, dự báo xu hướng, và đưa ra quyết định thông minh. Áp dụng AI trong các lĩnh vực như giao thông, an ninh, và y tế.

6.3. Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân đô thị thông minh

Tạo ra một môi trường sống an toàn, tiện nghi, và hạnh phúc cho người dân. Cung cấp các dịch vụ công chất lượng cao và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng. Chính sách cần hướng đến người dân và phát triển bền vững.

21/05/2025
Thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài - Những nghiên cứu bàn về chính sách công và thực hiện chính sách công: Thực tế, khoa học chính sách là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khá mới mẻ đối với Việt Nam. Vì vậy, những nghiên cứu về khoa học chính sách còn khiêm tốn.

Khi nghiên cứu về chính sách công (CSC), Charles Merriam nhà chính trị học Hoa kỳ đã kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn của ngành chính trị học để tìm hiểu về các hoạt động của chính phủ và ông quan niệm đó là CSC. Từ khi ra đời, khái niệm CSC được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như trong điều hành và quản lý nhà nước, hoạt động của luật pháp và được hiểu dưới các góc độ khác nhau. Theo quan niệm của Thomas R. Dye (1972) “CSC là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm”.

Quan niệm này nhấn mạnh vai trò chủ thể CSC là nhà nước; chính sách là các chương trình hành động riêng biệt, việc áp dụng chính sách sẽ khác nhau với mục đích không giống nhau; William Jenkins (1978) cho rằng: “CSC là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và phương tiện để đạt được mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền” [200]. Định nghĩa này xác định chủ thể ban hành CSC là nhà nước, nội dung chính sách gồm mục tiêu và phương tiện đạt được mục tiêu, việc xác định mục tiêu và giải pháp chính sách phải được đặt trong từng tình huống cụ thể; Còn nhà khoa học B. Cũng theo các nghiên cứu, ta thấy sự ảnh hưởng của chính trị đến thực hiện chính sách và công nhận một quá trình phản hồi ý kiến của các bên khi tham gia thực hiện chính sách. Nhà nghiên cứu Brian Hogwood và Lewis Gunn đã đưa một danh sách yêu cầu đối với các công việc của nhà hoạch định chính sách để thảo luận về tính không thể đạt được của cái gọi là “triển khai hoàn hảo” (perfect implementation) [185, pp.

Tiếp đó phải kể đến các nghiên cứu của Thomas Dye Dye, T., Jr khi xác định vai trò nòng cốt của các nhà chính trị và vai trò của nhà nước trong hình thức thực thi chính sách và chủ thể thực thi chính sách [190]. Đề cập đến vai trò của chính quyền liên bang trong thực hiện chính sách thể hiện ở chỗ: chính quyền cung cấp thông tin (Downs, 1967: 133-136), [184]); hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật [184]. Các tác giả Michael Lipsky Lipsky, M. [188] Bo Rothstein Rothstein [162] lại đề cập đến việc cần có sự tham gia của người dân vào quá trình thực hiện chính sách và kỳ vọng, thất vọng của người dân khi thực hiện các chính sách xã hội.

Ở khía cạnh khác, khi một chính sách thực hiện thất bại, Benny Hjern và cộng sự Hjern, B. Thực tế cho thấy mô hình thực hiện chính sách từ dưới lên đề cao vai trò của công dân - đối tượng thụ hưởng chính sách không chỉ tham gia trong khâu hoạch định, mà cả ở khâu thực hiện chính sách. - Những nghiên cứu bàn về đô thị thông minh: 11 Hai tác giả Colin Harrison và Ian Abbott Bonnelly trong bài viết Lý thuyết về đô thị thông minh (A theory of smart cities) đăng trong Kỷ yếu Hội nghị thường niên lần thứ 55 của ISSS vào năm 2011 tại thành phố Hull, Vương quốc Anh đã khái quát lịch sử của vấn đề đô thị thông minh [166 - tr. Cụm từ đô thị thông minh không phải là mới, năm 1998 cụm từ này xuất hiện, bắt nguồn từ phong trào Smart Growth nhằm ủng hộ các chính sách quy hoạch đô thị mới.

Và đến năm 2009, cụm từ này được thừa nhận rộng rãi với khởi nguồn của đề xuất của Tập đoàn IBM, Cisco, IBM, Siemens (Hoa Kỳ). Gần 20 năm qua, khái niệm đô thị thông minh vẫn còn nhiều tranh luận và chưa có sự thống nhất. Cũng có thể nói, mặc dù hầu hết các nước trên thế giới vẫn đang trong giai đoạn đầu của phát triển đô thị thông minh bởi nhiều yếu tố về công nghệ, chỉnh sửa mô hình theo nhu cầu phát triển và phụ thuộc cả tiềm lực tài chính khi muốn phát triển toàn diện mô hình này thì các nghiên cứu về đô thị thông minh đã nhận được sự quan tâm của đông đảo học giả với các quy mô và cách thức tiếp cận, nghiên cứu khác nhau. Tác giả Sehl Mellouli vào năm 2009, với bài viết “Intelligent Agents for E-Government Development, Electronic Government”, An International Journal, Volume: 6, issue: 2, page(s): 177-192 (“Cơ quan thông minh để phát triển chính phủ điện tử, Chính phủ điện tử”, Tạp chí Quốc tế, tập: 6, số: 2, tr177- 192).

Bài báo này trình bày một khung kiến trúc với công nghệ thích hợp để thiết kế và triển khai chính phủ hiệu quả các dịch vụ. Kiến trúc hướng dịch vụ được điều khiển bởi đa tác nhân thông minh các thành phần được đề xuất như một giải pháp để đạt được các mục tiêu của chính phủ về công dân hiệu quả tập trung, khả năng đáp ứng và dự đoán. Các dịch vụ được tập hợp thành nhóm của các dịch vụ liên quan đến các lĩnh vực cụ thể của chính phủ. Công dân có quyền truy cập thông qua một điểm vào đa kênh duy nhất và thông qua dịch vụ nhóm đến bất kỳ dịch vụ nào được cung cấp bởi một bộ hoặc một cơ quan công 12 quyền.

Kết quả của nghiên cứu này cho phép các chính phủ nhận thức được các công nghệ tiên tiến có thể hỗ trợ họ phục vụ công dân của họ tốt hơn. Năm 2015, 3 tác giả Vito Albino, Umberto Berardi & Rosa Maria Dangelico trong bài viết “Smart Cities: Definitions, Dimensions, Performance, and Initiatives”, Journal of Urban Technology, Volume: 22, issue: 1, page(s): 3-21 (“Thành phố thông minh: Định nghĩa, Thứ nguyên, Hiệu suất và Sáng kiến”, Tạp chí Công nghệ Đô thị, tập: 22, số: 1, tr. Bài báo này nhằm mục đích làm rõ nghĩa của từ “thông minh” trong ngữ cảnh của các thành phố thông qua cách tiếp cận dựa trên tổng quan tài liệu chuyên sâu về các nghiên cứu liên quan cũng như các tài liệu chính thức của các tổ chức quốc tế. Nó cũng đã xác định các kích thước và yếu tố chính đặc trưng cho một thành phố thông minh.

Các chỉ số đo lường khác nhau về đô thị thông minh được xem xét để cho thấy sự cần thiết phải có một định nghĩa chung về những gì cấu thành thành phố thông minh, các tính năng của nó là gì và nó hoạt động như thế nào so với các thành phố truyền thống. Hơn nữa, các biện pháp thực hiện và các sáng kiến ở một số thành phố thông minh đã được xác định. Năm 2018, khi bàn đến sự tập trung vào người dân là một trong những vấn đề được nói đến một cách rõ ràng dành cho các nhà lãnh đạo trong một báo cáo đặc biệt được xuất bản bởi tổ chức Knowledge @ Wharton (Tổ chức tư vấn kết nối với Trường Kinh doanh Wharton của Đại học Pennsylvania). Báo cáo có tên là “Các thành phố thông minh: Bộ công cụ cho nhà lãnh đạo”, kêu gọi các nhà lãnh đạo thành phố suy nghĩ lại về vai trò của họ.

Họ nên thấy rằng mình không phải là người quản lý các cơ quan hành chính mà là những người xây dựng cộng đồng, những người giúp nuôi dưỡng lòng tin, sự hòa hợp và coi đó là một niềm vinh dự. Theo báo cáo này, việc phát triển thành phố thông minh ở những quốc gia dẫn đầu hiện đang ở giai đoạn thứ ba, trong đó chính thành phố đã trở thành một nền tảng để tương tác, hợp tác và đồng sáng tạo với người dân. Thành công trong giai đoạn mới này có nghĩa là nhà quản lý đô thị 13 phải xác định lại các mục tiêu của thành phố thông minh để đáp ứng nhu cầu nội tại của người dân và những bên liên quan đến họ. Những người đứng đầu có thể bắt đầu bằng cách xác định lại các mục tiêu của thành phố thông minh để công dân là trung tâm của mọi mục tiêu, thay vì các lĩnh vực đô thị thông thường như tiện ích và giao thông.

Để đáp ứng lại những yêu cầu trải nghiệm mà công dân số ngày nay mong đợi, họ nên thúc đẩy sự hợp tác giữa các ban ngành thành phố cũng như khuyến khích người dân tham gia trực tiếp vào các cuộc đối thoại với nhà lãnh đạo đô thị. Những người đứng đầu có thể bắt đầu bằng cách xác định lại các mục tiêu của thành phố thông minh để công dân trở thành trung tâm của mọi quá trình, thay vì các lĩnh vực đô thị thông thường như tiện ích và giao thông. Để cung cấp các loại trải nghiệm theo yêu cầu mà người dân sống trong thời kì tiến bộ ngày nay mong đợi, họ nên thúc đẩy sự hợp tác giữa các ban ngành thành phố cũng như khuyến khích người dân tham gia trực tiếp vào những cuộc tọa đàm với các nhà lãnh đạo. - Những nghiên cứu bàn về chính phủ thông minh Ở góc độ quản trị, chính phủ và đô thị thông minh, năm 2016, nhóm tác giả Ines Mergel, R.

Karl Rethemeyer đã viết Big Data in Public Affairs, public administration and the disciplines, Volume: 76, issue: 6, page(s): 928-937 (Dữ liệu lớn trong các vấn đề công, hành chính công và các kỷ luật, Tập: 76, số: 6, tr928-937) [174]. Bài viết này đã cung cấp tổng quan về các vấn đề khái niệm, nội dung và thực tiễn xung quanh “dữ liệu lớn” để cung cấp một góc nhìn về cách lĩnh vực công có thể đối phó thành công với cuộc cách mạng dữ liệu lớn. Dữ liệu lớn trong các vấn đề công là sự kết hợp của dữ liệu hành chính được thu thập thông qua các phương tiện truyền thống và các tập dữ liệu quy mô lớn được tạo bởi các cảm biến, mạng máy tính hoặc cá nhân khi họ sử dụng Internet. Trong các vấn đề cộng đồng, các cơ hội mới để hiểu rõ theo thời gian thực về các mẫu hành vi đang xuất hiện nhưng bị ràng buộc bởi các biện pháp bảo vệ hạn chế khả năng tiếp cận của chính phủ thông qua việc hạn chế thu thập và 14 phân tích những dữ liệu này.

Để giải quyết cả những cơ hội và thách thức của hiện tượng mới nổi này, các tác giả xem xét quy luật phát triển của các bài báo về dữ liệu lớn trên các lĩnh vực liên quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Chính Sách Xây Dựng Đô Thị Thông Minh tại TP.HCM: Thực Tiễn và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách và thực tiễn liên quan đến việc phát triển đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tài liệu này không chỉ phân tích những thách thức mà thành phố đang đối mặt trong quá trình hiện đại hóa, mà còn đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng sống cho cư dân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức áp dụng công nghệ và quản lý đô thị hiệu quả, từ đó có thể áp dụng vào các bối cảnh khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý đô thị và phát triển bền vững, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá rủi ro ngập lụt và đề xuất các giải pháp phòng chống thích ứng cho thành phố Lạng Sơn, nơi cung cấp cái nhìn về các giải pháp ứng phó với thiên tai trong đô thị. Bên cạnh đó, tài liệu Giải pháp quản lý xây dựng theo quy hoạch với sự tham gia của cộng đồng dân cư tại phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của cộng đồng trong quy hoạch đô thị. Cuối cùng, tài liệu Đô thị hóa thành phố Cần Thơ giai đoạn 1999-2009 sẽ cung cấp thêm thông tin về quá trình đô thị hóa tại một thành phố khác, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về xu hướng phát triển đô thị tại Việt Nam.