Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công (mã số: 93 40 402) với đề tài "Thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Lê Minh Tuấn Anh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Xuân Trung và PGS.TS. Trịnh Thị Xuyến. Luận án được hoàn thành vào năm 2024 (niên khóa đào tạo 2019–2022).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình đô thị hóa toàn cầu đang diễn ra nhanh chóng với 54,6% dân số thế giới (khoảng 3,6 tỷ người) sinh sống tại các đô thị và dự báo đạt trên 70% vào năm 2050 (trong đó 64,1% ở các nước đang phát triển và 85,9% ở các nước phát triển). Tại Việt Nam, dân số đô thị chiếm khoảng 34,6 triệu người (tương đương 35,9% dân số cả nước). Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, giữ vị trí đầu tàu kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết số 16/NQ-TW ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Bộ Chính trị. Trong hơn 40 năm phát triển, tổng sản phẩm trên địa bàn tăng bình quân 9,6%/năm (gấp 1,63 lần bình quân cả nước), thu nhập bình quân đầu người đạt 5.122 USD/người (gấp 2,37 lần cả nước), đóng góp 27% tổng thu ngân sách quốc gia và gần 21% GDP toàn quốc (thu ngân sách năm 2018 đạt trên 378 nghìn tỷ đồng).
Tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh đối mặt với nhiều áp lực và thách thức lớn:
- Tốc độ gia tăng dân số cơ học nhanh: Theo cuộc tổng điều tra dân số năm 2019, thành phố có hơn 13 triệu người sinh sống, học tập và làm việc; trung bình mỗi năm tăng thêm hơn 200.000 người, tạo sức ép nghiêm trọng lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
- Ô nhiễm môi trường và ngập úng: Hơn 2.000 kênh rạch tiếp nhận lượng lớn rác thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp chưa qua xử lý, gây tắc nghẽn dòng chảy và ngập úng khi mưa; khí thải từ phương tiện giao thông, công trường xây dựng và khu công nghiệp gây ô nhiễm không khí.
- Trật tự an toàn xã hội: Phát sinh nhiều loại tội phạm mới, cả truyền thống lẫn phi truyền thống, buôn lậu và gian lận thương mại.
- Năng lực quản lý nhà nước: Các hạn chế trong cải cách hành chính, năng lực điều hành của chính quyền cơ sở và công tác quản lý đất đai.
Chuyển đổi mô hình từ đô thị truyền thống sang đô thị thông minh là nhu cầu thực tiễn nhằm tối ưu hóa quản lý và nâng cao chất lượng sống. Mặc dù nhiều địa phương tại Việt Nam (như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Dương, Cần Thơ, Lâm Đồng, Kiên Giang) đã bắt đầu triển khai, nhưng chưa có địa phương nào hoàn thành toàn diện mô hình này. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là việc thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Việt Nam còn rất mới, thiếu sự tổng kết khoa học dưới góc độ chuyên ngành Chính sách công gắn liền với quá trình tổ chức triển khai cụ thể tại một đô thị đặc biệt như Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu toàn diện và hệ thống về quá trình thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017–2022; từ đó dự báo xu hướng phát triển và kiến nghị các giải pháp nhằm bổ sung, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 5 nội dung:
- Hệ thống hóa và làm rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Thành phố Hồ Chí Minh về xây dựng đô thị thông minh.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017–2022.
- Đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của các hạn chế trong việc thực hiện chính sách.
- Dự báo xu hướng phát triển và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017–2022.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tế từ năm 2017 đến năm 2022 (mốc bắt đầu từ Quyết định số 6179/QĐ-UBND ngày 23 tháng 11 năm 2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt Đề án "Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017–2020") và định hướng tầm nhìn đến năm 2030.
- Phạm vi nội dung: Các hoạt động tổ chức thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh theo quy trình và chu trình chính sách công.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, phân loại theo các nhóm chủ đề chính:
| Nhóm chủ đề |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung trọng tâm |
| Lý luận chính sách công và thực thi chính sách |
Charles Merriam; Thomas R. Dye (1972, 1990); William Jenkins (1978); Brian Hogwood & Lewis Gunn; Anthony Downs (1967); Michael Lipsky; Bo Rothstein; Benny Hjern; Nguyễn Hữu Hải (2014); Lê Văn Hòa (2016); Lê Văn Gấm & Nguyễn Thị Ánh Mây (2021); Hồ Việt Hạnh, Kiều Quỳnh Anh, Nguyễn Ngọc Hà, Nguyễn Thị Hoài (2017, 2022, 2023). |
Khái niệm chính sách công, chu trình chính sách, tính khả thi của mô hình "triển khai hoàn hảo", vai trò cung cấp thông tin của chính quyền, cách tiếp cận thực thi chính sách từ dưới lên (bottom-up) và sự tham gia của người dân. |
| Khái niệm, cấu trúc và tiêu chuẩn đô thị thông minh |
Colin Harrison & Ian Abbott Bonnelly (2011); Vito Albino, Umberto Berardi & Rosa Maria Dangelico (2015); Báo cáo Knowledge @ Wharton (2018); Nguyễn Trọng (2017); Nguyễn Văn Khôi, Phạm Lê Cường, Hà Minh Hiệp (2017); Nguyễn Văn Cương (2020); Phạm Minh Thành & Hồ Trúc Chi (2018); Đào Thị Như (2021). |
Lịch sử thuật ngữ từ phong trào Smart Growth (1998) và đề xuất của IBM/Cisco (2009); 6 thành tố nhận diện đô thị thông minh (môi trường, đời sống, kinh tế, di chuyển, chính quyền, cư dân thông minh); bộ tiêu chuẩn kỹ thuật; tầm nhìn lấy công dân làm trung tâm. |
| Chính phủ thông minh, dữ liệu lớn và công nghệ hỗ trợ |
Sehl Mellouli (2009); Ines Mergel & R. Karl Rethemeyer (2016); Rashed Shtait Hamad AL Shamsi và cộng sự (2018); Niên giám Thụy Sĩ (2018); Fahad Salmeen Al-Obthani & Ali Abdulbaqi Ameen (2018); Pereira G. và cộng sự (2018); Victor Chang (2021); Umer Majeed và cộng sự (2021); Jens Kandt & Michael Batty (2021); Lê Việt Hưng (2020). |
Ứng dụng đa tác nhân trong chính phủ điện tử; dữ liệu lớn (Big Data) trong các vấn đề công; mô hình quản trị thông minh; ứng dụng Blockchain, IoT, mạng 5G và hệ thống nguồn lực cộng đồng; khuôn khổ đạo đức dữ liệu lớn. |
| Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng đô thị thông minh |
Liyin Shen và cộng sự (2018 - Trung Quốc); AL-Masri A. (2019 - Dubai); Nhóm tác giả Brazil (2020); Izabela Jonek-Kowalska & Radosław Wolniak (2021 - Ba Lan); Anthony Simonofski và cộng sự (2021 - Bỉ và Thụy Điển); Nguyễn Phương Dung (2018 - Seoul, Singapore, Ấn Độ); Nguyễn Thị Hồng Lam và cộng sự (2019 - Châu Âu); Trần Nhật Quang & Nguyễn Thị Mai Hương (2019 - Luân Đôn, Singapore). |
Đánh giá hiệu suất 44 đô thị thông minh Trung Quốc (phương pháp Entropy và TOPSIS); mô hình chuỗi xoắn ba tại 287 thành phố Ba Lan; mô hình SEM khảo sát 829 cư dân Brazil; 5 yếu tố bối cảnh trong chiến lược tham gia của người dân; các bài học huy động vốn và thể chế. |
| Quản lý rủi ro và nguồn lực tài chính |
Fahim Ullah và cộng sự (2021); Báo cáo CIEM (2018); Chuyên đề VNEP số 9/2018. |
Khung TOE phân loại 56 rủi ro (17 rủi ro công nghệ chiếm 38,7%, 11 rủi ro tổ chức chiếm 15,6%, 28 rủi ro bên ngoài chiếm 46,7%); huy động vốn thông qua hợp tác công tư (PPP), dữ liệu mở và quy mô dân số tối thiểu để thu hồi vốn. |
| Thực tiễn xây dựng đô thị thông minh tại Việt Nam và TP.HCM |
Nguyễn Ngọc Hiếu (2017); Nguyễn Xuân Trung & Nguyễn Văn Linh (2018); Nguyễn Thị Vân Hương (2019); Đặng Đình Toàn (2019); Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2018 - Đông Nam Bộ); PGS. Nguyễn Văn Thành & Đỗ Quang Hưng (2018); Trần Hoàng Giang (2018); Nguyễn Trung Thành (2018); Nguyễn Đức Chung (2018); Huỳnh Văn Minh (2017); Võ Văn Sen & Võ Phúc Toàn (2019); Phan Thị Hồng Xuân & Nguyễn Việt Khôi (2019); Đặng Kim Quyên (2020); Nguyễn Thị Cẩm Thu & Mai Ngọc Khương (2020); Trần Văn Thiện & Phạm Kiên (2021); Nguyễn Tiến Hùng (2021); Bùi Ngọc Hiền & Phan Thị Thúy Tiên (2021). |
Phân tích 6 trụ cột đô thị thông minh vùng Đông Nam Bộ; mô hình nhân tố tác động tại TP.HCM (Quản lý thông minh, Cư dân thông minh, Kinh tế thông minh); ứng dụng GIS trong công bố quy hoạch đô thị tại TP.HCM; 5 bất cập về sự tham gia của người dân; phát triển 3 nhóm nhân lực (công nghệ, quản trị, cộng đồng). |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trong nước tập trung vào khía cạnh hạ tầng kỹ thuật, công nghệ thông tin hoặc phân tích mô hình quản lý đô thị nói chung. Luận án đi sâu vào góc độ khoa học Chính sách công để phân tích quy trình tổ chức thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời kết hợp đánh giá thực chứng từ cả hai phía: đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp triển khai và người dân là đối tượng thụ hưởng chính sách.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm công cụ: Luận án làm rõ các khái niệm về chính sách, chính sách công, đô thị thông minh, chính sách xây dựng đô thị thông minh và thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh.
- Khung phân tích quy trình thực hiện chính sách: Vận dụng chu trình thực hiện chính sách công gồm các khâu: xây dựng kế hoạch triển khai, phổ biến tuyên truyền, tổ chức bộ máy và bố trí nguồn lực, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả và phản hồi chính sách.
- Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Đánh giá tác động của bối cảnh thể chế, nguồn lực tài chính, hạ tầng công nghệ thông tin, năng lực đội ngũ thực thi và mức độ tham gia của cộng đồng dân cư.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng:
- Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt để phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị quyết, đề án và tổng hợp dữ liệu thực tế nhằm rút ra các kết luận khoa học.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các văn kiện, chương trình phát triển đô thị thông minh giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác trong nước, cũng như tham chiếu các mô hình quốc tế.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát thực chứng): Khảo sát thu thập dữ liệu sơ cấp với quy mô mẫu tổng cộng $N = 500$, phân bổ thành hai nhóm đối tượng:
- Nhóm cán bộ, công chức, chuyên gia: $n_1 = 200$ phiếu, khảo sát các cá nhân công tác trong các lĩnh vực kinh tế, đô thị, công nghệ thông tin, văn hóa - xã hội và môi trường tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhóm người dân đô thị: $n_2 = 300$ phiếu, khảo sát cư dân sinh sống tại các quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đo lường mức độ tiếp cận và thụ hưởng các tiện ích đô thị thông minh.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn kiện của Đảng (Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết số 16/NQ-TW của Bộ Chính trị); văn bản pháp luật của Nhà nước (Luật Quy hoạch đô thị 2005, Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 01/8/2018 phê duyệt Đề án Phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018–2025 và định hướng đến năm 2030, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia); các văn bản chỉ đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (trọng tâm là Quyết định số 6179/QĐ-UBND ngày 23/11/2017); báo cáo tổng kết của các sở, ban, ngành; số liệu thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh và Tổng cục Thống kê.
- Dữ liệu sơ cấp: Kết quả xử lý 500 phiếu khảo sát điều tra thực tế đối với cán bộ, công chức và người dân thành phố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Luận án phân tích các luồng tư tưởng về chính sách công, các khái niệm và thành tố cấu thành đô thị thông minh, quản trị chính phủ thông minh và việc ứng dụng dữ liệu lớn. Tác giả điểm lại kinh nghiệm triển khai đô thị thông minh tại nhiều quốc gia (Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Thụy Sĩ, Ba Lan, Bỉ, Thụy Điển, Singapore, Hàn Quốc, Ấn Độ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất) và các công trình nghiên cứu tại Việt Nam (Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh). Qua đó, chương 1 chỉ rõ những giá trị khoa học kế thừa được, đồng thời xác định các nội dung còn bỏ ngỏ mà luận án cần tập trung giải quyết dưới góc độ chuyên ngành Chính sách công.
Chương 2: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh
Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng: đô thị thông minh, chính sách công, thực hiện chính sách công và chính sách xây dựng đô thị thông minh. Luận án phân tích cấu trúc chủ thể thực hiện chính sách (chính quyền đô thị, các sở ngành chức năng, doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và người dân), quy trình tổ chức thực hiện chính sách (từ lập kế hoạch, chuẩn bị nguồn lực, tổ chức triển khai đến kiểm tra, giám sát, đánh giá), nội dung thực hiện chính sách (xây dựng hạ tầng dữ liệu, trung tâm điều hành, ứng dụng công nghệ phục vụ quản trị và tiện ích công cộng) và các nhóm yếu tố tác động (thể chế, tài chính, công nghệ, nhân lực và sự tham gia của xã hội).
Chương 3: Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 trình bày bức tranh thực tế về quá trình thực hiện chính sách tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017–2022:
- Khái quát bối cảnh: Đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội, áp lực dân số trên 13 triệu người và các vấn đề đô thị bức thiết (ngập nước, giao thông, môi trường).
- Hệ thống văn bản chính sách: Phân tích các văn bản trung ương (Quyết định 950/QĐ-TTg, Quyết định 749/QĐ-TTg) và văn bản địa phương (Quyết định 6179/QĐ-UBND và các kế hoạch triển khai của Thành phố).
- Kết quả triển khai 4 trụ cột chính của Đề án Đô thị thông minh:
- Xây dựng Kho dữ liệu dùng chung và phát triển Hệ sinh thái dữ liệu mở cho thành phố.
- Xây dựng Trung tâm mô phỏng dự báo xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
- Xây dựng Trung tâm điều hành và quản lý đô thị thông minh.
- Xây dựng Trung tâm An toàn thông tin và thúc đẩy Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
- Đánh giá thực chứng: Phân tích mức độ thụ hưởng tiện ích của người dân, kết quả đạt được trong việc hiện đại hóa quản trị, đồng thời chỉ ra các hạn chế (sự thiếu đồng bộ giữa các ngành, chia sẻ dữ liệu còn cục bộ, cơ chế tài chính và nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu hụt) kèm theo nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, tầm nhìn 2030
Chương 4 phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; xác định các quan điểm, định hướng phát triển đô thị thông minh bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp trọng tâm:
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức đa dạng nhằm nâng cao nhận thức, sự đồng thuận và thu hút sự tham gia chủ động của người dân, doanh nghiệp vào quá trình xây dựng đô thị thông minh.
- Hoàn thiện quy trình và nội dung thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm hoàn thiện cơ chế điều hành liên ngành, chuẩn hóa quy trình tích hợp và chia sẻ dữ liệu dùng chung, đổi mới phương thức huy động vốn (đặc biệt là hợp tác công tư PPP) và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản trị số.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh theo tiếp cận của khoa học Chính sách công, làm phong phú thêm hệ thống lý luận chuyên ngành về chu trình chính sách đối với lĩnh vực chuyển đổi số và phát triển đô thị.
- Cung cấp khung phân tích và hệ thống tiêu chí đánh giá quá trình thực hiện chính sách đô thị thông minh, có thể phục vụ làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí đô thị thông minh áp dụng thống nhất.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng triển khai Đề án xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017–2022 thông qua việc kết hợp phân tích văn bản quản lý nhà nước và dữ liệu điều tra thực tế từ 200 cán bộ, công chức và 300 người dân.
- Làm rõ các điểm nghẽn thực tế trong việc xây dựng Kho dữ liệu dùng chung, Trung tâm điều hành thông minh, Trung tâm mô phỏng dự báo và phát triển Hệ sinh thái khởi nghiệp.
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn với quy trình chính sách, có tính ứng dụng trực tiếp cho chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, tầm nhìn 2030, đồng thời cung cấp bài học kinh nghiệm thực tiễn cho các tỉnh, thành phố khác tại Việt Nam đang triển khai đề án đô thị thông minh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế nghiên cứu: Phạm vi khảo sát thực tế của luận án tập trung chủ yếu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong mốc thời gian từ năm 2017 đến năm 2022; chưa thực hiện so sánh định lượng đa biến sâu rộng giữa nhiều tỉnh thành khác nhau do điều kiện thời gian và nguồn lực nghiên cứu có giới hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá quá trình vận hành của các trung tâm điều hành và hệ sinh thái dữ liệu mở sau giai đoạn 2022; mở rộng nghiên cứu so sánh quy trình thực thi chính sách đô thị thông minh giữa các đô thị trực thuộc trung ương (như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ) để xây dựng mô hình quản trị chính sách liên vùng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách: Cung cấp căn cứ thực tiễn để Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông rà soát, điều chỉnh các quy định pháp lý, quy trình tổ chức thực hiện và cơ chế huy động nguồn lực cho các đề án đô thị thông minh.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo khung lý thuyết chuyên ngành Chính sách công về thực hiện chính sách, phương pháp thiết kế công cụ điều tra bảng hỏi kết hợp giữa cán bộ quản lý ($n=200$) và công dân ($n=300$).
- Doanh nghiệp công nghệ và chuyên gia đô thị: Nắm bắt các định hướng chính sách, nhu cầu tích hợp dữ liệu và các phân hệ trọng điểm (giao thông, môi trường, quy hoạch đô thị, an ninh trật tự) để phối hợp triển khai các dự án hợp tác công tư.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn nào?
Luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2022, mốc thời gian bắt đầu tính từ khi Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 6179/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 phê duyệt Đề án "Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017–2020", đồng thời định hướng tầm nhìn đến năm 2030.
2. Đề án Đô thị thông minh của Thành phố Hồ Chí Minh tập trung vào những trụ cột trọng điểm nào?
Theo nội dung phân tích thực trạng trong luận án, quá trình thực hiện chính sách của thành phố tập trung vào 4 trụ cột chính: (1) Xây dựng Kho dữ liệu dùng chung và phát triển Hệ sinh thái dữ liệu mở; (2) Xây dựng Trung tâm mô phỏng dự báo xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; (3) Xây dựng Trung tâm điều hành và quản lý đô thị thông minh; (4) Xây dựng Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
3. Khảo sát thực chứng của luận án được thực hiện với quy mô mẫu và cơ cấu như thế nào?
Tác giả đã tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với tổng quy mô mẫu là 500 phiếu, bao gồm: 200 phiếu khảo sát cán bộ, công chức, chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế, đô thị, công nghệ, văn hóa - xã hội, môi trường; và 300 phiếu khảo sát người dân sinh sống tại các quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Những áp lực đô thị chủ yếu nào thúc đẩy Thành phố Hồ Chí Minh phải thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh?
Các áp lực chính gồm: gia tăng dân số cơ học nhanh (trên 13 triệu người sinh sống, mỗi năm tăng hơn 200.000 người dẫn đến quá tải hạ tầng); ngập úng do hơn 2.000 kênh rạch bị xả rác và tắc nghẽn dòng chảy; ùn tắc giao thông và ô nhiễm không khí; an ninh trật tự phức tạp; cùng các yêu cầu nâng cao hiệu quả cải cách hành chính và quản lý nhà nước về đất đai.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Minh Tuấn Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xây dựng đô thị thông minh theo chuyên ngành Chính sách công, đồng thời phân tích sâu sắc thực tiễn triển khai tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017–2022. Thông qua sự kết hợp giữa phân tích văn bản quản lý và khảo sát thực chứng 500 đối tượng (cán bộ, công chức và người dân), công trình đã làm rõ những thành tựu đạt được trong việc hình thành hạ tầng dữ liệu và trung tâm điều hành, chỉ ra các điểm nghẽn về thể chế, quy trình và nguồn lực. Các định hướng và giải pháp được đề xuất trong luận án mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị thông minh tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các địa phương trên toàn quốc đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.