Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài - Những nghiên cứu bàn về chính sách công và thực hiện chính sách công: Thực tế, khoa học chính sách là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khá mới mẻ đối với Việt Nam. Vì vậy, những nghiên cứu về khoa học chính sách còn khiêm tốn.
Khi nghiên cứu về chính sách công (CSC), Charles Merriam nhà chính trị học Hoa kỳ đã kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn của ngành chính trị học để tìm hiểu về các hoạt động của chính phủ và ông quan niệm đó là CSC. Từ khi ra đời, khái niệm CSC được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như trong điều hành và quản lý nhà nước, hoạt động của luật pháp và được hiểu dưới các góc độ khác nhau. Theo quan niệm của Thomas R. Dye (1972) “CSC là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm”.
Quan niệm này nhấn mạnh vai trò chủ thể CSC là nhà nước; chính sách là các chương trình hành động riêng biệt, việc áp dụng chính sách sẽ khác nhau với mục đích không giống nhau; William Jenkins (1978) cho rằng: “CSC là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và phương tiện để đạt được mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền” [200]. Định nghĩa này xác định chủ thể ban hành CSC là nhà nước, nội dung chính sách gồm mục tiêu và phương tiện đạt được mục tiêu, việc xác định mục tiêu và giải pháp chính sách phải được đặt trong từng tình huống cụ thể; Còn nhà khoa học B. Cũng theo các nghiên cứu, ta thấy sự ảnh hưởng của chính trị đến thực hiện chính sách và công nhận một quá trình phản hồi ý kiến của các bên khi tham gia thực hiện chính sách. Nhà nghiên cứu Brian Hogwood và Lewis Gunn đã đưa một danh sách yêu cầu đối với các công việc của nhà hoạch định chính sách để thảo luận về tính không thể đạt được của cái gọi là “triển khai hoàn hảo” (perfect implementation) [185, pp.
Tiếp đó phải kể đến các nghiên cứu của Thomas Dye Dye, T., Jr khi xác định vai trò nòng cốt của các nhà chính trị và vai trò của nhà nước trong hình thức thực thi chính sách và chủ thể thực thi chính sách [190]. Đề cập đến vai trò của chính quyền liên bang trong thực hiện chính sách thể hiện ở chỗ: chính quyền cung cấp thông tin (Downs, 1967: 133-136), [184]); hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật [184]. Các tác giả Michael Lipsky Lipsky, M. [188] Bo Rothstein Rothstein [162] lại đề cập đến việc cần có sự tham gia của người dân vào quá trình thực hiện chính sách và kỳ vọng, thất vọng của người dân khi thực hiện các chính sách xã hội.
Ở khía cạnh khác, khi một chính sách thực hiện thất bại, Benny Hjern và cộng sự Hjern, B. Thực tế cho thấy mô hình thực hiện chính sách từ dưới lên đề cao vai trò của công dân - đối tượng thụ hưởng chính sách không chỉ tham gia trong khâu hoạch định, mà cả ở khâu thực hiện chính sách. - Những nghiên cứu bàn về đô thị thông minh: 11 Hai tác giả Colin Harrison và Ian Abbott Bonnelly trong bài viết Lý thuyết về đô thị thông minh (A theory of smart cities) đăng trong Kỷ yếu Hội nghị thường niên lần thứ 55 của ISSS vào năm 2011 tại thành phố Hull, Vương quốc Anh đã khái quát lịch sử của vấn đề đô thị thông minh [166 - tr. Cụm từ đô thị thông minh không phải là mới, năm 1998 cụm từ này xuất hiện, bắt nguồn từ phong trào Smart Growth nhằm ủng hộ các chính sách quy hoạch đô thị mới.
Và đến năm 2009, cụm từ này được thừa nhận rộng rãi với khởi nguồn của đề xuất của Tập đoàn IBM, Cisco, IBM, Siemens (Hoa Kỳ). Gần 20 năm qua, khái niệm đô thị thông minh vẫn còn nhiều tranh luận và chưa có sự thống nhất. Cũng có thể nói, mặc dù hầu hết các nước trên thế giới vẫn đang trong giai đoạn đầu của phát triển đô thị thông minh bởi nhiều yếu tố về công nghệ, chỉnh sửa mô hình theo nhu cầu phát triển và phụ thuộc cả tiềm lực tài chính khi muốn phát triển toàn diện mô hình này thì các nghiên cứu về đô thị thông minh đã nhận được sự quan tâm của đông đảo học giả với các quy mô và cách thức tiếp cận, nghiên cứu khác nhau. Tác giả Sehl Mellouli vào năm 2009, với bài viết “Intelligent Agents for E-Government Development, Electronic Government”, An International Journal, Volume: 6, issue: 2, page(s): 177-192 (“Cơ quan thông minh để phát triển chính phủ điện tử, Chính phủ điện tử”, Tạp chí Quốc tế, tập: 6, số: 2, tr177- 192).
Bài báo này trình bày một khung kiến trúc với công nghệ thích hợp để thiết kế và triển khai chính phủ hiệu quả các dịch vụ. Kiến trúc hướng dịch vụ được điều khiển bởi đa tác nhân thông minh các thành phần được đề xuất như một giải pháp để đạt được các mục tiêu của chính phủ về công dân hiệu quả tập trung, khả năng đáp ứng và dự đoán. Các dịch vụ được tập hợp thành nhóm của các dịch vụ liên quan đến các lĩnh vực cụ thể của chính phủ. Công dân có quyền truy cập thông qua một điểm vào đa kênh duy nhất và thông qua dịch vụ nhóm đến bất kỳ dịch vụ nào được cung cấp bởi một bộ hoặc một cơ quan công 12 quyền.
Kết quả của nghiên cứu này cho phép các chính phủ nhận thức được các công nghệ tiên tiến có thể hỗ trợ họ phục vụ công dân của họ tốt hơn. Năm 2015, 3 tác giả Vito Albino, Umberto Berardi & Rosa Maria Dangelico trong bài viết “Smart Cities: Definitions, Dimensions, Performance, and Initiatives”, Journal of Urban Technology, Volume: 22, issue: 1, page(s): 3-21 (“Thành phố thông minh: Định nghĩa, Thứ nguyên, Hiệu suất và Sáng kiến”, Tạp chí Công nghệ Đô thị, tập: 22, số: 1, tr. Bài báo này nhằm mục đích làm rõ nghĩa của từ “thông minh” trong ngữ cảnh của các thành phố thông qua cách tiếp cận dựa trên tổng quan tài liệu chuyên sâu về các nghiên cứu liên quan cũng như các tài liệu chính thức của các tổ chức quốc tế. Nó cũng đã xác định các kích thước và yếu tố chính đặc trưng cho một thành phố thông minh.
Các chỉ số đo lường khác nhau về đô thị thông minh được xem xét để cho thấy sự cần thiết phải có một định nghĩa chung về những gì cấu thành thành phố thông minh, các tính năng của nó là gì và nó hoạt động như thế nào so với các thành phố truyền thống. Hơn nữa, các biện pháp thực hiện và các sáng kiến ở một số thành phố thông minh đã được xác định. Năm 2018, khi bàn đến sự tập trung vào người dân là một trong những vấn đề được nói đến một cách rõ ràng dành cho các nhà lãnh đạo trong một báo cáo đặc biệt được xuất bản bởi tổ chức Knowledge @ Wharton (Tổ chức tư vấn kết nối với Trường Kinh doanh Wharton của Đại học Pennsylvania). Báo cáo có tên là “Các thành phố thông minh: Bộ công cụ cho nhà lãnh đạo”, kêu gọi các nhà lãnh đạo thành phố suy nghĩ lại về vai trò của họ.
Họ nên thấy rằng mình không phải là người quản lý các cơ quan hành chính mà là những người xây dựng cộng đồng, những người giúp nuôi dưỡng lòng tin, sự hòa hợp và coi đó là một niềm vinh dự. Theo báo cáo này, việc phát triển thành phố thông minh ở những quốc gia dẫn đầu hiện đang ở giai đoạn thứ ba, trong đó chính thành phố đã trở thành một nền tảng để tương tác, hợp tác và đồng sáng tạo với người dân. Thành công trong giai đoạn mới này có nghĩa là nhà quản lý đô thị 13 phải xác định lại các mục tiêu của thành phố thông minh để đáp ứng nhu cầu nội tại của người dân và những bên liên quan đến họ. Những người đứng đầu có thể bắt đầu bằng cách xác định lại các mục tiêu của thành phố thông minh để công dân là trung tâm của mọi mục tiêu, thay vì các lĩnh vực đô thị thông thường như tiện ích và giao thông.
Để đáp ứng lại những yêu cầu trải nghiệm mà công dân số ngày nay mong đợi, họ nên thúc đẩy sự hợp tác giữa các ban ngành thành phố cũng như khuyến khích người dân tham gia trực tiếp vào các cuộc đối thoại với nhà lãnh đạo đô thị. Những người đứng đầu có thể bắt đầu bằng cách xác định lại các mục tiêu của thành phố thông minh để công dân trở thành trung tâm của mọi quá trình, thay vì các lĩnh vực đô thị thông thường như tiện ích và giao thông. Để cung cấp các loại trải nghiệm theo yêu cầu mà người dân sống trong thời kì tiến bộ ngày nay mong đợi, họ nên thúc đẩy sự hợp tác giữa các ban ngành thành phố cũng như khuyến khích người dân tham gia trực tiếp vào những cuộc tọa đàm với các nhà lãnh đạo. - Những nghiên cứu bàn về chính phủ thông minh Ở góc độ quản trị, chính phủ và đô thị thông minh, năm 2016, nhóm tác giả Ines Mergel, R.
Karl Rethemeyer đã viết Big Data in Public Affairs, public administration and the disciplines, Volume: 76, issue: 6, page(s): 928-937 (Dữ liệu lớn trong các vấn đề công, hành chính công và các kỷ luật, Tập: 76, số: 6, tr928-937) [174]. Bài viết này đã cung cấp tổng quan về các vấn đề khái niệm, nội dung và thực tiễn xung quanh “dữ liệu lớn” để cung cấp một góc nhìn về cách lĩnh vực công có thể đối phó thành công với cuộc cách mạng dữ liệu lớn. Dữ liệu lớn trong các vấn đề công là sự kết hợp của dữ liệu hành chính được thu thập thông qua các phương tiện truyền thống và các tập dữ liệu quy mô lớn được tạo bởi các cảm biến, mạng máy tính hoặc cá nhân khi họ sử dụng Internet. Trong các vấn đề cộng đồng, các cơ hội mới để hiểu rõ theo thời gian thực về các mẫu hành vi đang xuất hiện nhưng bị ràng buộc bởi các biện pháp bảo vệ hạn chế khả năng tiếp cận của chính phủ thông qua việc hạn chế thu thập và 14 phân tích những dữ liệu này.
Để giải quyết cả những cơ hội và thách thức của hiện tượng mới nổi này, các tác giả xem xét quy luật phát triển của các bài báo về dữ liệu lớn trên các lĩnh vực liên quan.