ĐẶT VẤN ĐỀ Táo bón là một vấn đề phổ biến và xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ trẻ sơ sinh tới người già. Táo bón là hiện tượng rối loạn cảm giác đại tiện, phân trở nên rắn, mỗi lần đi đại tiện cần có sự trợ giúp, số lần đi ngoài ít hơn 3 lần/ tuần [5]. Với tỷ lệ mắc những năm gần đây tăng với 76,47% của nhóm tuổi từ 61 tới 80 tuổi, đây là một trong những triệu chứng rất phổ biến của bệnh lý hệ thống tiêu hoá và cũng là triệu chứng xuất hiện trong nhiều bệnh lý ở cơ quan khác [7]. Táo bón không chỉ gây ra các vấn đề về sức khoẻ mà còn ảnh hưởng tới tinh thần người bệnh, nếu xảy ra thường xuyên sẽ khiến bệnh nhân cảm thấy khó chịu, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, điều này ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ.
Táo bón kéo dài có thể gây ra tình trạng bệnh lý khác như trĩ, sa trực tràng, ung thư trực tràng, chảy máu, rách hậu môn, có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu não hoặc xuất huyết não ở người cao tuổi có bệnh lý tim mạch [24]. Hiện nay để điều trị táo bón thường kết hợp thụt tháo phân trước khi điều trị duy trì, và điều trị duy trì bằng thuốc kèm chế độ ăn và huấn luyện đi ngoài [4]. Trong đó, phương pháp chữa bệnh đại tràng bằng các loại thảo dược tự nhiên được xem là phương pháp an toàn, hiệu quả và ít tác dụng phụ. Nghiên cứu về các dạng thuốc dùng tại đường trực tràng đã xuất hiện từ lâu đời, 500 năm trước công nguyên, Hypocrat đã viết về cách sử dụng thuốc bằng đường trực tràng, hơn 300 năm sau, Galen đã áp dụng tẩy cho bệnh nhân bằng đường trực tràng bằng cách đặt viên thuốc chế bằng xà phòng vào trực tràng của bệnh nhân.
Trải qua nhiều thế kỉ, cho đến những năm 30 của thế kỉ XIX, người ta mới chú ý nhiều tới những ưu điểm của thuốc dùng theo đường trực tràng và sử dụng dạng thuốc này thay cho đường uống, trong trường hợp dược chất có mùi vị khó chịu, dễ gây nôn, dược chất gây kích ứng mạnh hoặc dược chất bị phá huỷ bởi dịch dạ dày, hoặc bị chuyển hoá nhanh tại gan. Người ta đã sử dụng dụng cụ thụt trong nhiều thế kỉ để loại bỏ phân ở đại tràng, hiện nay, các chế phẩm gel thụt đại thường được sử dụng trong các trường hợp táo bón, điều trị tình trạng ứ đọng phân, chuẩn bị cho quá trình nội soi đại tràng và phẫu thuật. Dạng bào chế này thuận tiện cho bệnh nhân sử dụng tại nhà, và hiện nay thường có sẵn tại các hiệu thuốc mà không cần kê đơn. Việt Nam là đất nước có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, là một trong những nước sở hữu nguồn cây thuốc dồi dào nhất thế giới với hơn 6000 loài có thể dùng làm thuốc[5].
Từ lâu, quả Bồ kết đã được người Việt Nam sử dụng để làm thuốc, trong đó, cũng được đề cập tới tác dụng nhuận tràng, mà theo Đỗ Tất Lợi, phương pháp sử dụng quả bồ kết để thụt tháo đã được sử dụng từ những năm 70 của thế kỉ trước [8]. Từ năm 2022, Bộ môn Dược cổ truyền cùng DS. Trần Thị Vân và DS. Bùi Thị Thu Trang đã nghiên cứu, chiết xuất tạo cao Bồ kết Việt Nam và điều chế gel thụt đại tràng từ quả Bồ kết Việt Nam.
Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu chuyên sâu về nâng 1 cấp quy mô chiết cao Bồ kết và nâng cấp quy mô bào chế gel thụt đại tràng từ Bồ kết Việt Nam cũng như nghiên cứu về xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng dược liệu Bồ kết, cao Bồ kết và gel thụt đại tràng từ quả Bồ kết. Vì vậy, khoá luận tốt nghiệp: “Tiếp tục nghiên cứu, chiết xuất, bào chế chế phẩm gel thụt đại tràng từ quả Bồ kết và xây dựng một số chỉ tiêu chất lượng” được thực hiện với mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu nâng cấp quy mô quy trình chiết xuất cao Bồ kết từ quả Bồ kết Việt Nam. Nghiên cứu nâng cấp quy mô quy trình bào chế gel thụt đại tràng Bồ kết.
Xây dựng một số chỉ tiêu chất lượng cho nguyên liệu, thành phẩm cao và thành phẩm gel thụt đại tràng từ quả Bồ kết. Tổng quan về cây Bồ kết 1. Tên khoa học Bồ kết, hay còn được biết tới tên gọi khác là Tạo giác, Trư nha tạo, Tạo giác thích, màn khét [6], [8], [14]. Bộ phận dùng: - Quả Bồ kết - Tạo giác: Fructus Gleditsiachiae [8].
- Hạt Bồ kết - Tạo giác tử: Semen Gleditsiachiae [8]. - Gai Bồ kết - Tạo giác thích: Spina Gleditsiachiae [8]. Vị trí phân loại của Bồ kết trong giới thực vật, theo phân loại của Takhtajan Armen (2009)[31]. Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Hoa hồng (Rosidae) Bộ: Đậu (Fabales) Phân họ: Vang (Caesalpinioideae) Họ: Đậu (Fabales) Chi: Gleditsia Loài: : Gleditsia australis F.
Đặc điểm thực vật Bồ kết là cây thân gỗ sống lâu năm, cao 6-8m, trên thân có những túp gai có phân nhánh dài từ 3 tới 10 cm, gai to, cứng, dài tới 10-15cm, có từ 3 tới 5 gai phụ, thân chính ít gai hơn cành[3], [8]. Trên thân non có lông che chở và các nốt sần màu vàng. Cành có hình dạng mảnh, hình trụ, khúc khuỷu. Lá kép lông chim 2 lần chẵn, mọc so le, cuống chung có lông và rãnh dọc, 6-8 đôi lá chét, hình trứng dài, trung bình 25mm, rộng 15mm.
Hoa màu trắng, đều, đơn tính hoặc lưỡng tính cùng gốc, mọc thành hình bông, dài 10- 15cm, tràng 5 cánh, hoa đực có 10 nhị và không có bầu, hoa lưỡng tính có 5 nhị và bầu có nhiều lông đựng noãn [8]. Quả giáp màu vàng nâu, dài 10-12cm, rộng 1,5-2,0cm, hơi cong hình lưỡi liềm hay thẳng, quả mỏng, có những nơi có hạt thì nổi phình lên, trên mặt quả có phủ một lớp phấn màu xanh nhạt. Quả có từ 7 tới 10 hạt, hạt màu vàng nhạt. Nhiều tế bào thành dày hoá gỗ hình tròn hay là hình bầu dụng hoặc hình không đều, đường kính 15μm đến 53μm.
3 Nhiều sợi thường xếp thành bó, đường kính sợi khoảng 10 μm đến 35 μm, thành hơi hoá gỗ, được bao quanh bởi các tế bào mô mềm chứa tinh thể calci oxalat hình lăng trụ, và có một vài sợ cụm tinh thể, đi kèm bó sợi thường có các tế bào dày hình gần vuông. Các tinh thể calci oxalat hình lăng trụ dài 6 μm tới 15 μm, những bó tinh thể có đường kính từ 6 μm tới 14 μm. Nhiều tế bào mô mềm có thành hoá gỗ, có nhiều lỗ (hốc) và ống trao đổi. Tế bào biểu bì vỏ quả màu nâu đỏ, hình đa giác, thành tương đối dày, có lớp cutin gợn vân dạng hạt[3], [6], [14].
Phân bố, thu hái, chế biến. - Phân bố Thế giới: Chi Gleditsia phân bố chủ yếu ở Trung Á. Đông Nam Á, Nam Mỹ và Bắc Mỹ và đặc biệt phân bố nhiều ở các tỉnh phía nam Trung Quốc[8]. Buneau và cộng sự đã chỉ ra trên thế giới có 12 loài thuộc chi Gleditsia [19].
Gleditsia amorphoides (Griesb. Gleditsia aquatica Marshall Gleditsia australis F. (Bồ kết Việt Nam) Gleditsia caspica Desf. Gleditsia delavayi Franchet.
Gleditsia fera (Lour. Gleditsia ferox Desf. Gleditsia japonica Miq. Gleditsia macraranthan Desf.
Gleditsia sinensis Lam. Theo thực vật chí Trung Quốc, xác định được 16 loài thuộc chi Gleditsia. Nghiên cứu của Hagar Ashraf và cộng sự chỉ ra có 14 loài thuộc chi này [22]. Việt Nam: Cây Bồ kết mọc hoang và được trồng tại nhiều tỉnh miền Bắc nước ta, cả ở đồi núi và vùng đồng bằng.
Cây thường thấy ở một số nơi như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Thanh Hoá, Nghệ An… Riêng đảo Cát Bà (Hải Phòng) có tới 40.000 cây, sản lượng Bồ kết hàng năm cho tới 40 tấn quả Bồ kết. Ở Tây Nguyên, cây bồ kết được trồng để tạo bóng và chắn gió cho cà phê. Ở Việt Nam hiện nay hiện diện 3 loài thuộc chi Gleditsia [6]. Gleditsia rolfei Viral y Soler Gleditsia papachycarpa Bal.
ex Gagn Gleditsia australis F.Forbes & Hemsl - Thu hái, chế biến 4 Mùa bồ kết bắt đầu từ tháng 10, trong 2 tháng 10 và 11, khi quả chín, nông dân thu hái và phơi hoặc sấy khô. Khi mới hái, quả có màu xanh hoặc hơi vàng, khi phơi và để lâu vài ngày, quả chuyển dần sang màu đen bóng. Gai Bồ kết có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là vào tháng chín đến tháng ba năm sau, hái về phơi khô hoặc nhân lúc gai còn đang tươi[8]. Tác dụng dược lý Các loài thuộc chi Gleditsia đã được sử dụng rộng rãi từ nhiều thế kỉ để chữa bệnh.
Nhiều nhà nghiên cứu hiện đại đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại để xác nhận tác dụng chữa bệnh của chi Gleditsia, theo các ghi chép truyền thống. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học đã chỉ ra các hợp chất được chiết xuất từ chi Gleditsia thể hiện nhiều tác dụng dược lý như ức chế sự phát triển của khối u, chống viêm, chống tăng lipid máu, chống HIV, chống dị ứng, kháng khuẩn, kháng nấm, giảm đau, kháng đột biến và chống oxy hoá [17], [19], [27]. - Ức chế sự phát triển khối u Các nghiên cứu kéo dài từ những năm 2000 tới nay đã chỉ ra các loài thuộc chi Gleditsia có hiệu quả trong việc chống lại các khối u liên quan tới các bệnh ung thư như tế bào ung thư vú, u nguyên bào gan, ung thư vòm họng, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư ruột kết, ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư biểu mô tế bào vảy họng miệng. Nghiên cứu sớm nhất về tác dụng chống tăng sinh khối u được thực hiện vào 2002 với nghiên cứu của Chow và cộng sự thực hiện đối với 4 dòng tế bào khối u rắn (MCF- 7, MDA-MB231, tế bào HepG2 và SLMT-1), chỉ ra rằng dịch chiết từ quả Bồ kết Gleditsia sinensis thể hiện sự ức chế tăng trưởng đáng kể với các giá trị MTS50 trong khoảng từ 16μg/ml tới 20μg/ml so với cisplatin đối chứng dương tính trong khoảng từ 22μg/ml tới 28μg/ml.
Cơ chế chỉ ra rằng, có lẽ dịch chiết ethanol của Gleditsia sinensis (20μg/ml) có thể làm tăng lượng DNA oligonuclesomal trong tế bào MDA-MB231 với khoảng thời gian tăng dần từ 4 tới 24 giờ, và nhận thấy rằng có thể sự phân mảnh DNA dẫn tới sự chết các tế bào khối u đã tồn tại. Bằng phương pháp đếm tế bào học dòng chảy – Flow Cytometry sử dụng đầu cuối dUTP qua trung gian tranferase đã phát hiện ra dịch chiết Gleditsia sinensis có thể gây ra apoptosis theo thời gian và phụ thuộc vào liều lượng.