CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Cây Chè vằng (Jasminum suptriplinerve) 1. Vị trí, phân loại của cây Chè vằng Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ: Nhài (Oleales) Họ: Nhài (Oleaceae) Chi: Nhài (Jasminum L.) Loài: Jasminum subtriplinerve [44]. Đặc điểm thực vật, phân bố, sinh thái Hình 1.
Cây Chè vằng (Ảnh Chè vằng được lấy từ trang web của Sở Y tế Thái Nguyên) Cây bụi nhỏ, mọc theo cụm hoặc bám vào các cây lớn. Thân cây cứng, chia thành từng đốt, đường kính 5-6mm, chia thành nhiều cành, có thể vươn cao 1-1,5m và vươn dài tới 15-20m, thân và cành đều nhẵn, không lông. Lá mọc đối xứng nhau, có hình dạng mũi mác. Cuống lá tù hay hơi tròn, nhẵn, dài 0,3-1,2cm; đầu lá nhọn, dài 4-7,5cm, rộng 2-4,5cm.
Các lá ở phía trên nhỏ hơn lá ở phía dưới, mép nguyên, mặt trên có 3 gân nổi rõ rệt [6]. Hoa màu trắng, cụm hoa mọc ở đầu cành thành chuỳ, gồm 7-9 hoa. Đài hoa có ống ngắn 3mm, 8-10 thuỳ rất hẹp và nhọn. Tràng có ống dài phình lên ở đầu 16- 18mm, 8-10 cánh hoa hẹp; nhị dính ở họng tràng; bầu tù.
Quả mọng hình cầu, đường kính 7-8mm. Khi chín có màu vàng hoặc đen, trong quả có 1 hạt rắn chắc. Thời kỳ ra hoa vào khoảng tháng 3 – 4. Mùa quả chín vào tháng 5 – 6 [5],[6].
2 Chè vằng thường mọc ở bờ rào hay bụi tre, hoặc bám vào các cây khác ở ven rừng, ven đồi và xung quanh các làng bản. Chè vằng phát triển tốt trong điều kiện ẩm ướt và ấm áp. Chè vằng phân bố khá phổ biến, tập trung ở khu vực các nước Đông Nam Á và Nam Á và có ở cả các tỉnh phía nam Trung Quốc và đảo Hải Nam. Ở Việt Nam, Chè vằng có rải rác ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng đồng bằng, trung du và vùng núi dưới 1500m.
Chè vằng được tìm thấy nhiều ở một số khu vực: Hoà Bình, Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh [5]. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến Bộ phận dùng của Chè vằng là lá [6],[7],[17],[19] nhưng trong một số tài liệu lại đề cập bộ phận dùng bao gồm cả lá và thân [3],[14]. Còn trong dân gian người ta vẫn dùng cả thân và lá cây Chè vằng phơi khô để đun nước uống thay chè. Dược liệu có thể thu hái quanh năm dùng tươi hoặc khô.
Thành phần hóa học của cây Chè vằng Jasminum subtriplinerve Cho đến nay, trên thế giới đã có một số nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Chè vằng. Trong đó, có các nhóm chất chính như terpen glycosid, flavonoid glycosid, phenylethanoid glycosid, phenylpropanoid glycosid, steroid, triterpenoid, acid phenolic,… (Bảng 1. Một số hợp chất phân lập từ cây Chè vằng Nhóm Tên hợp chất TLTK Anatoliosid A (1) 6′′′-Epi-anatoliosid A (2) Chevangin A (3) Terpen glycosid Chevangin B (4) [38] 6-Epi-chevangin B (5) Chevangin C (6) Chevangin D (7) Rutin (8) Flavonoid Isoquercitrin (9) [10],[11],[12] glycosid Astragalin (10) Nicotiflorin (11) Verbascosid (12) [10],[33],[36] Phenylethanoid Isoverbascosid (13) glycosid [37] Apiosylverbascosid (14) 6'-O-menthiafoloylverbascosid (15) Phenylpropanoid Jasnervosid A (16) glycosid [33] Jasnervosid B (17) 3 Nhóm Tên hợp chất TLTK Jasnervosid C (18) Jasnervosid D (19) Poliumosid (20) Acid 3β-acetyl oleanolic (21) [35] Lup-20-en-3β-ol (22) Triterpenoid Acid oleanolic (23) [23] Acid betulinic (24) Acid gallic (25) Acid phenolic [15] Acid protocatechuic (26) Jasnervosid F (27) Secoiridoid Jasnervosid G (28) glycosid Jasnervosid H (29) [33] Monoterpenoid Jasnervosid E (30) glycosid Stigmast-5-en-3β-ol (31) [35] Steroid β-Sitosterol (32) [23] Stigmasterol (33) Linalool (34) α-Terpineol (35) Tinh dầu [27] Geraniol (36) Cis-linalool oxid (37) α-L-rhamnopyranosyl-(13)-O-(α-L- rhamnopyranosyl(16)-1-O-E-caffeoyl- Nhóm khác [33] β-D-glucopyranosid (38) Jaspolyanthosid (39) 1. Tác dụng sinh học của Chè vằng Các tác dụng sinh học của Chè vằng đã được nghiên cứu trước đây như tác dụng chống oxy hóa, tác dụng kháng khuẩn và tác dụng chống ung thư.
Các kết quả hiện tại cho thấy Chè vằng có nhiều tiềm năng trong y học và có thể được sử dụng để hỗ trợ điều trị cho nhiều loại bệnh. Tác dụng chống oxy hóa Khả năng chống oxy hóa in vitro là tác dụng nổi bật nhất của cây Chè vằng (J. subtriplinerve), cụ thể trong các nghiên cứu sau: Trong nghiên cứu của Đái Huệ Ngân và các cộng sự năm 2008, chiết xuất ethyl acetat, ethanol, methanol và nước của thân và lá Chè vằng ở nồng độ 200 μg/mL đều 4 thể hiện tác dụng chống oxy hóa dựa trên thử nghiệm thu dọn gốc tự do DPPH (2,2- diphenyl1-picrylhydrazyl). Trong đó, hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết ethyl acetat và ethanol là mạnh nhất, nhưng vẫn kém hơn acid ascorbic (44 μg/mL) [35].
Năm 2012, Nguyễn Thị Thanh Mai và các cộng sự đã sử dụng phương pháp bẫy gốc tự do DPPH và phương pháp ức chế gốc tự do NO để khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của các cao chiết từ thân và lá của cây Vằng sẻ (J. Các kết quả thu được 12 cho thấy cao chloroform, cao ethyl acetat, cao n-butanol đều thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa. Trong đó, cao ethyl acetat thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa cao nhất trên cả hai phương pháp thử nghiệm, với giá trị SC50 thu được tương ứng là 8,2 µg/mL và 80,7 µg/mL. Có 3 hợp chất tinh khiết gồm acid 3,4-dihidroxibenzoic, acid 3,4,5- trihidroxibenzoic và verbascosid được phân lập từ cây Vằng sẻ.
Khảo sát khả năng ức chế gốc tự do DPPH cho thấy cả ba hợp chất này đều có tác dụng chống oxy hóa mạnh với giá trị SC50 tương ứng lần lượt là 9,1; 4,9 và 1,8 µM, trong đó verbascosid thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa mạnh hơn cả chất chuẩn quercetin (SC50 = 4,0 µM) [15]. Ngoài ra, bằng phương pháp bẫy gốc tự do DPPH, nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy khả năng chống oxy hóa của loài J. Tác dụng kháng khuẩn Năm 2008, Đái Huệ Ngân và cộng sự đã tiến hành thử nghiệm đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của các dịch chiết ether dầu hỏa, methanol, ethanol, ethyl acetat và nước từ loài J. subtriplinerve trên các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa và Bacillus subtilis.
Kết quả cho thấy chiết xuất ether dầu hỏa có tác dụng ức chế B. subtilis với nồng độ ức chế tối thiểu MIC = 100 μg/mL, các dịch chiết ethyl acetat và ethanol ức chế S. aureus với giá trị MIC = 200 μg/mL và chiết xuất methanol ức chế E. coli với giá trị MIC = 200 μg/mL.
Mặt khác, dịch chiết nước không có tác dụng ức chế bất kỳ chủng vi khuẩn nào ở nồng độ bằng hoặc thấp hơn 200 μg/mL. Tất cả các dịch chiết không cho thấy bất kỳ tác dụng ức chế nào đối với các vi nấm [35]. Tác dụng chống ung thư Chiết xuất ether dầu hỏa của thân và lá Chè vằng có tác dụng gây độc tế bào in vitro trên cả hai dòng tế bào ung thư ở người là Hep-G2 và RD với giá trị IC50 lần lượt là 19,2 và 20,0 μg/mL [35]. Các jasnervosid A H phân lập từ thân cây J.
subtriplinerve) được đánh giá tác dụng gây độc tế bào đối với ba dòng tế bào ung thư ở người (A-549, Bel- 7402 và HCT-8), nhưng khả năng ức chế không đáng kể [33]. Sử dụng dược liệu Chè vằng trong Y học cổ truyền Theo Y học cổ truyền, Chè vằng có vị hơi đắng, chát, tính ấm, quy kinh tâm và tỳ; có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, khu phong, hoạt huyết điều kinh, tiêu viêm, trừ mủ. 5 Chè vằng dùng tươi hoặc khô dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu nước tắm với lượng thích hợp, được sử dụng trị rối loạn kinh nguyệt, dùng cho phụ nữ sau sinh bị nhiễm khuẩn sốt cao. Ngoài ra, còn dùng trị phong thấp do huyết kém, đau nhức xương khớp và các bệnh ngoài da [5],[7].
Một số bài thuốc: - Bài thuốc chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh đau bụng [3]. Chè vằng: 20g Ích mẫu: 16g Hy thiêm: 16g Ngải cứu: 8g Bạch đồng nữ: 8g Nước 500 mL. Sắc còn 300 mL, chia 3 lần uống trong ngày. - Phụ nữ sau sinh cảm sốt, sưng họng hay lưỡi viêm lở, nóng khát, tắc tia sữa hay ít sữa, dùng lá cây ba chạc, chè vằng mỗi thứ 30g sắc uống [8].
- Dùng lá Chè vằng chữa áp xe vú: Lá Chè vằng giã nát, đắt hoặc giã lá với cồn 50o rồi đắp vào chỗ sưng đau, ngày 3 lần, đêm 2 lần. Thời gian điều trị là 1 ngày hoặc 1 tuần, tùy theo bệnh nặng, nhẹ và chữa sớm hay muộn [6]. Một số chỉ tiêu chất lượng của Chè vằng trong Chuyên luận Dược điển Việt Nam V [7] Mô tả: Lá hình bầu dục – mũi mác, đầu nhọn, phía cuống tù hay hơi tròn, dài 4 cm đến 7,5 cm, rộng 2 cm đến 4,5 cm, mép nguyên, trên có 3 gân rõ rệt. Cuống lá nhẵn, dài 0,3 cm đến 1,2 cm.
Vi phẫu: Phần gân lá: Mặt trên tương đối phẳng, mặt dưới lồi nhiều. Biểu bì là một hàng tế bào nhỏ xếp tương đối đều đặn, thành ngoài hóa cutin. Mô dày gồm vài lớp tế bào thành dày nằm sát lớp biểu bì trên và dưới. Libe-gỗ gân chính gồm cung libe ở ngoài bao lấy cung gỗ ở trong.
Phần phiến lá: Biểu bì trên và dưới giống như phần gân lá. Dưới biểu bì trên là mô giậu gồm 2 đến 3 lớp tế bào xếp dọc. Phía dưới mô giậu là mô mềm khuyết. Bột: Màu lục, vị đắng hơi chát.
Soi kính hiển vi thấy: Những mảnh phiến lá có thể thấy các lớp tế bào mô giậu. Mảnh biểu bì tế bào đa giác tương đối đều, có thể mang lỗ khí. Lấy 5 g bột thô dược liệu, thêm 50 ml ethanol 90 % (TT). Lắc đều rồi để yên qua đêm.
Lọc rồi cô cách thủy còn khoảng 20 ml, lấy 3 ml dịch lọc đã cô, thêm 3 giọt acid hydrocloric (TT), thêm một ít bột kẽm (TT), dung dịch sủi bọt và có màu đỏ. Lấy 2 g đến 3 g bột thô dược liệu, thêm 20 ml nước, đun sôi, lọc. Lấy 1 ml đến 2 mi dịch lọc đã để nguội, thêm 1 đến 2 giọt gelatin 2 % (TT), xuất hiện vẩn trắng đục. 6 Tiếp tục lấy 1 ml đến 2 ml dịch lọc trên, thêm 2 giọt dung dịch sắt (III) clorid 10,5 % (TT), xuất hiện màu xanh tím.
Xây dựng chỉ tiêu cho kiểm nghiệm dược liệu [7] Dược liệu trước khi đưa vào sử dụng đều phải kiểm tra chất lượng và phải đạt yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn đã đăng ký (tiêu chuẩn dược điển hoặc tiêu chuẩn cơ sở). Kiểm nghiệm dược liệu bao gồm việc mô tả, định tính, các phép thử tinh khiết, xác định hàm lượng chất chiết được và định lượng hoạt chất trong dược liệu. Mô tả: Dựa vào chuyên luận riêng để kiểm nghiệm dược liệu. Chỉ tiêu này bao gồm những mô tả về hình thái, kích thước, màu sắc, mùi vị, các đặc điểm của bề mặt dược liệu.