Khóa luận tốt nghiệp nhận xét chỉ số abi và một số yếu tố liên quan đến bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại khoa nội tiết đái tháo đường bệnh viện bạch mai

Khóa luận phân tích chỉ số ABI và yếu tố liên quan đến bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Bạch Mai.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

64
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về bệnh Đái tháo đường type 2

1.2. Sơ lược về giải phẫu hệ động mạch chi dưới

1.3. Bệnh động mạch chi dưới

1.4. Cơ chế bệnh sinh của bệnh động mạch chi dưới

1.5. Các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch chi dưới

1.6. Đặc điểm lâm sàng của bệnh động mạch chi dưới

1.7. Các phương tiện chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Nhóm nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Các bước tiến hành

2.8. Phương pháp hỏi bệnh sử và lâm sàng

2.9. Cách đo và đánh giá chỉ số ABI

2.10. Phương pháp chẩn đoán các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân

2.11. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Xác định đặc điểm ABI ở đối tượng nghiên cứu

3.2. Tỷ lệ ABI ở mỗi bên

3.3. Tỷ lệ ABI ở các độ tuổi

3.4. Tỷ lệ ABI liên quan tới giới tính

3.5. Tỷ lệ mắc các yếu tố nguy cơ ở các đối tượng nghiên cứu

3.6. Tỷ lệ ABI theo hút thuốc lá

3.7. Tỷ lệ ABI trái với tình trạng sử dụng thuốc lá

3.8. Tỷ lệ ABI theo thời gian phát hiện đái tháo đường

3.9. Tỷ lệ ABI theo tình trạng tăng huyết áp và có biến chứng thần kinh ngoại vi

3.10. Tỷ lệ ABI theo BMI

3.11. Tỷ lệ ABI đối với rối loạn mỡ máu, đường máu, HbA1C và các chỉ số khác

3.12. Tỷ lệ ABI đối với HbA1C và Glucose huyết

3.13. Tỷ lệ ABI theo Triglycerid, Cholesterol thành phần và LDL

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về chỉ số ABI ở những bệnh nhân ĐTĐ type 2

4.2. Bàn luận về chỉ số ABI với một số yếu tố liên quan đến BĐMCD ở nhóm đối tượng nghiên cứu

4.3. Mối liên quan giữa chỉ số ABI và giới tính

4.4. Mối liên quan giữa chỉ số ABI và tuổi

4.5. Mối liên quan giữa chỉ số ABI và hút thuốc lá

4.6. Mối liên hệ giữa chỉ số ABI và thời gian phát hiện ĐTĐ

4.7. Mối liên hệ giữa chỉ số ABI và tăng huyết áp

4.8. Mối liên hệ giữa chỉ số ABI và chỉ số BMI

4.9. Mối liên hệ giữa chỉ số ABI và Rối loạn lipid máu

4.10. Mối liên hệ giữa chỉ số ABI với chỉ số glucose máu tĩnh mạch khi đói lúc vào viện và HbA1C

4.11. Mối liên quan giữa chỉ số ABI và biến chứng thần kinh ngoại vi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC II

Tóm tắt

I. Tổng quan về chỉ số ABI và bệnh động mạch chi dưới

Chỉ số ABI (Ankle-Brachial Index) là một công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới (BĐMCD), đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Bệnh động mạch chi dưới là một trong những biến chứng nghiêm trọng của đái tháo đường, có thể dẫn đến tàn phế và tử vong. Nghiên cứu cho thấy rằng việc đo chỉ số ABI có thể giúp phát hiện sớm tình trạng thiếu máu chi dưới, từ đó cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

1.1. Khái niệm chỉ số ABI và vai trò trong chẩn đoán

Chỉ số ABI được tính bằng cách so sánh huyết áp ở cổ chân với huyết áp ở cánh tay. Giá trị ABI dưới 0.9 thường chỉ ra sự hiện diện của BĐMCD. Việc đo chỉ số này là một phương pháp đơn giản, nhanh chóng và không xâm lấn, giúp bác sĩ đánh giá tình trạng mạch máu của bệnh nhân.

1.2. Tình trạng bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường

Bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ cao mắc BĐMCD do các yếu tố như tăng đường huyết, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp. Theo nghiên cứu, tỷ lệ mắc BĐMCD ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có thể lên đến 30%, gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng.

II. Vấn đề và thách thức trong chẩn đoán BĐMCD

Chẩn đoán sớm BĐMCD ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 gặp nhiều thách thức. Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng cho đến khi bệnh tiến triển nặng. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán muộn và tăng nguy cơ biến chứng. Việc thiếu kiến thức về các yếu tố nguy cơ cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Thiếu kiến thức về bệnh và triệu chứng

Nhiều bệnh nhân không nhận thức được các triệu chứng của BĐMCD, như đau chân khi đi bộ hoặc tê bì. Điều này dẫn đến việc họ không đi khám kịp thời, làm tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế

Nhiều bệnh nhân đái tháo đường sống ở vùng nông thôn, nơi có hạn chế về cơ sở y tế. Việc thiếu các dịch vụ y tế chất lượng cao làm giảm khả năng chẩn đoán và điều trị kịp thời cho bệnh nhân.

III. Phương pháp đo chỉ số ABI hiệu quả

Đo chỉ số ABI là một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả trong việc phát hiện BĐMCD. Phương pháp này không chỉ giúp chẩn đoán mà còn theo dõi tiến triển của bệnh. Việc thực hiện đúng quy trình đo là rất quan trọng để đảm bảo độ chính xác của kết quả.

3.1. Quy trình đo chỉ số ABI

Quy trình đo chỉ số ABI bao gồm việc đo huyết áp ở cánh tay và cổ chân. Bác sĩ sẽ sử dụng máy đo huyết áp và ống nghe để xác định huyết áp ở cả hai vị trí. Sau đó, chỉ số ABI được tính toán bằng cách chia huyết áp cổ chân cho huyết áp cánh tay.

3.2. Khuyến cáo về tần suất đo chỉ số ABI

Theo khuyến cáo, bệnh nhân đái tháo đường nên được đo chỉ số ABI ít nhất một lần mỗi năm. Việc theo dõi thường xuyên giúp phát hiện sớm các thay đổi trong tình trạng mạch máu và điều chỉnh điều trị kịp thời.

IV. Kết quả nghiên cứu về chỉ số ABI ở bệnh nhân ĐTĐ type 2

Nghiên cứu cho thấy rằng chỉ số ABI có thể phản ánh chính xác tình trạng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số ABI thấp cao hơn so với nhóm không mắc bệnh. Điều này cho thấy sự cần thiết phải thực hiện đo chỉ số ABI thường xuyên.

4.1. Tỷ lệ ABI ở bệnh nhân ĐTĐ type 2

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số ABI dưới 0.9 là 35%, cho thấy mức độ nghiêm trọng của BĐMCD ở nhóm bệnh nhân này. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc sớm.

4.2. Mối liên hệ giữa chỉ số ABI và các yếu tố nguy cơ

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chỉ số ABI có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và thời gian mắc đái tháo đường. Điều này cho thấy rằng việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể cải thiện tình trạng mạch máu.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu

Chỉ số ABI là một công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán và theo dõi BĐMCD ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Nghiên cứu cho thấy rằng việc đo chỉ số này có thể giúp phát hiện sớm và cải thiện kết quả điều trị. Tương lai cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

5.1. Tầm quan trọng của việc sàng lọc sớm

Sàng lọc sớm BĐMCD thông qua đo chỉ số ABI có thể giúp giảm thiểu biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Việc này cần được thực hiện thường xuyên và đồng bộ trong các cơ sở y tế.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn cho bệnh nhân đái tháo đường type 2 có BĐMCD. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhóm bệnh nhân này.

16/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp nhận xét chỉ số abi và một số yếu tố liên quan đến bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại khoa nội tiết đái tháo đường bệnh viện bạch mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Tổng quan về bệnh Đái tháo đường type 2 Đái tháo đường ( ĐTĐ) là rối loạn chuyển hóa của nhiều nguyên nhân, bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mạn tính phối hợp với các rối loạn chuyển hóa carbohydrat, lipid và protein do thiếu hụt tình trạng tiết insulin, tác dụng của insulin hoặc cả hai. Có hai loại bệnh chính là ĐTĐ type 1 và ĐTĐ type 2, trong đó ĐTĐ type 2 chiếm 85% các trường hợp ĐTĐ ở các nước phát triển và gần 100% ở những nước đang phát triển. Nếu ĐTĐ type xảy ra do tế bào beta đảo tụy bị phá hủy, dẫn đến thiếu hụt insulin hoàn toàn nên thường được được gọi là ĐTĐ phụ thuộc insulin.

Thì ĐTĐ type 2 là dạng không phụ thuộc insulin, nó được gây ra do tình trạng kháng insulin, tăng đường huyết xảy ra khi khả năng bài xuất insulin cảu các tế bào beta đảo tụy không đáp ứng thỏa đáng nhu cầu chuyển hóa. Thiếu hụt insulin điển hình sẽ xảy ra sau một giai đoạn tăng insulin máu nhằm bù trừ cho tình trạng kháng insulin. Suy tế bào beta diễn ra trong suốt cuộc đời của hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ type 2 dẫn đến tiến triển của bệnh trên lâm sàng và bệnh nhân sẽ cần phải phối hợp thuốc, thậm chí bổ sung thêm insulin. Tăng đường huyết tham gia vào quá trình gây suy giảm chức năng của tế bào beta và được biết đến với tên gọi “ ngộ độc glucose”.

Tăng mạn tính các acid béo tự do – một đặc trưng khác của bệnh ĐTĐ type 2 có thể góp phần làm giảm tiết insulin và gây hiện tượng chết tế bào đảo tụy theo chương trình. Yếu tố di truyền được xác định là có vai trò đóng góp gây tình trạng kháng insulin, nhưng có lẽ chỉ giải thích cho 50% các rối loạn chuyển hóa. Béo phì, nhất là béo bụng ( tăng mỡ tạng), tuổi cao, và không hoạt động thể lực tham gia một cách có ý nghĩa vào tình trạng kháng insulin. [4] Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của ĐTĐ type 2 bao gồm: • Lâm sàng: - Người lớn > 30 tuổi - Tứ chứng lâm sàng: ăn nhiều, uống nhiều, tiều nhiều, gầy nhiều thường không rầm rộ ( phát hiện tình cờ) - Bệnh nhân đi khám thường vì biến chứng của bệnh ĐTĐ như: nhìn mờ, tê bì chân tay,.

• Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ type 2: - Có người thân trực hệ bị ĐTĐ - Tiền sử rối loạn dung nạp glucose, rối loạn đường máu lúc đói - Bệnh mạch vành 11 - Tiền sử ĐTĐ thai kỳ - Tiền sử sinh con to > 4kg - Tăng huyết áp - Rối loạn mỡ máu - Béo bụng - Thừa cân - Hội chứng buồng trứng đa nang - Chứng gai đen - Tâm thần phân liệt • Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo ADA ( Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ) năm 2019 với một trong những tiêu chuẩn sau: - Glucose huyết tương bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L kèm theo các triệu chứng của tăng glucose huyết (khát nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều, gầy sút). - Glucose huyết tương lúc đói (nhịn ăn > 8-14 giờ) ≥ 7 mmol/L trong 2 buổi sáng khác nhau. - Glucose huyết tương 2 giờ sau khi uống 75 g glucose ≥ 11,1 mmol/L (Nghiệm pháp tăng glucose huyết). Sử dụng xét nghiệm được chứng nhận của chương trình chuẩn hóa hemoglobin gắn glucose quốc tế (NGSP).

Sơ lược về giải phẫu hệ động mạch chi dưới Hình 1.1: giải phẫu động mạch chi dưới 12 • Động mạch (ĐM) chậu gốc: ĐM chủ bụng chạy đến ngang đốt sống thắt lưng 4 - 5 thì chia thành hai ĐM chậu gốc. ĐM chậu gốc chạy dài khoảng 5 - 6 cm thì chia thành ĐM chậu ngoài và ĐM chậu trong. • ĐM chậu trong: chia ra các nhánh cung cấp máu cho các tạng ở khung chậu và góp phần tạo nên bàng hệ trong trường hợp bệnh lý. • ĐM chậu ngoài: tiếp theo ĐM chậu gốc, chạy xuống dọc theo cơ thắt lưng lớn, tới sau điểm giữa dây chằng bẹn thì đổi tên thành ĐM đùi chung.

• ĐM đùi chung: tiếp tục chạy xuống theo hướng hơi chếch ra ngoài. Đến khoảng 4cm dưới dây chằng bẹn thì chia thành ĐM đùi nông và ĐM đùi sâu. • ĐM đùi sâu: là nhánh lớn nhất đóng vai trò chính trong cấp máu cho vùng đùi. • ĐM đùi nông: tiếp theo ĐM đùi chung ở dƣới dây chằng bẹn 4 - 5 cm và chạy tiếp theo trục của ĐM đùi chung xuống tới lỗ gân cơ khép thì đổi tên thành ĐM khoeo.

• ĐM khoeo: tiếp theo ĐM đùi nông, bắt đầu từ lỗ gân cơ khép tới bờ dưới cơ khoeo thì chia hai nhánh là ĐM chày trƣớc và thân chày mác. • ĐM chày trước: là nhánh đầu tiên bắt nguồn từ ĐM khoeo. Bắt đầu từ bờ dưới cơ khoeo đi qua bờ trên màng gian cốt ra khu cẳng chân trước, tiếp tục đi xuống tới giữa hai mắt cá rồi chui qua mạc hãm giữa các gân duỗi, đổi tên thành ĐM mu chân. • ĐM chày sau: là nhánh tận chính tách ra từ thân chày mác, tiếp tục đi xuống đến 1/3 dưới cẳng chân thì hơi chếch vào trong để vào rãnh cơ gấp dài ngón cái ở mặt trong xương gót chia làm hai nhánh tận là ĐM gan chân trong và ĐM gan chân ngoài.

• ĐM mác: tách từ thân chày mác độ 2 - 3 cm dưới cơ khoeo rồi chạy song song với ĐM chày sau, tận hết cho các nhánh tới cổ chân và gót. Bệnh động mạch chi dưới 1. Định nghĩa Bệnh động mạch chi dưới được định nghĩa là bệnh lý xơ vữa các động mạch cấp máu cho chi dưới, bao gồm một trong các động mạch sau: động mạch chậu, động mạch đùi, động mạch khoeo, động mạch chày, động mạch mác và các nhánh chính của nó. Điều này gây giảm tưới máu cơ và các bộ phận liên quan (da, thần kinh) phía hạ lưu.

Thiếu máu cơ sẽ dẫn đến chuyển hóa yếm khí, tăng acid lactic 13 gây ra đau, lúc đầu xuất hiện khi gắng sức, về sau, đau cả khi nghỉ ngơi, kèm theo là các biểu hiện thiếu máu cục bộ như loạn dưỡng, loét, hoại tử [2][5] Bệnh ĐMCD thường biểu hiện dưới 2 hình thái: - Thiếu máu chi dưới khi gắng sức, có biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc chưa, diễn biến mạn tính. - Thiếu máu chi dưới thường xuyên trầm trọng có thể biểu hiện mạn tính và cấp tính. Cơ chế bệnh sinh của bệnh động mạch chi dưới Bệnh động mạch chi dưới do quá trình xơ vữa động mạch gây nên. Xơ vữa động mạch (XVĐM) là hiện tượng xơ hóa thành ĐM bao gồm các ĐM trung bình và ĐM lớn.

Biểu hiện chủ yếu là sự lắng động mỡ và các mảng tế bào tại lớp bao trong thành ĐM gọi là mảng vữa[6]. Quá trình này xảy ra thông qua việc bộc lộ các yếu tố bám dính của mạch máu, bạch cầu đơn nhân di chuyển vào lớp dưới nội mạc, ở đây các bạch cầu đơn nhân bị biến đổi thành các đại thực bào ngậm lipid (các tế bào bọt). Cholesterol có vai trò kích hoạt các Protein viêm của đại thực bào. Các mảng xơ vữa động mạch đặc trưng gồm các đại thực bào ngậm lipid, tế bào lympho và các tế bào đuôi gai giải phóng một số yếu tố gây viêm như cytokine và chemokine.

Sự nứt vỡ các mảng xơ vữa không ổn định (nhất là mảng xơ vữa có lõi trung tâm giàu lipid) là nền tảng của hội chứng thiếu máu chi cấp tính. Các lớp vỏ mỏng bị phá vỡ và xâm nhập bởi các tế bào bọt và một số tế bào cơ trơn. Interferon-gamma có nguồn gốc từ tế bào T có thể làm giảm sản xuất collagen của tế bào cơ trơn mạch máu và các CD40 trên bề mặt tế bào T có thể hoạt hóa men collagenase được giải phóng từ các đại thực bào hoạt hóa, góp phần làm mất ổn định mảng xơ vữa. Sự phát triển của mảng xơ vữa Xơ vữa động mạch là một quá trình bệnh lý phức tạp của các động mạch lớn và động mạch vừa, được thúc đẩy bởi các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được như tăng cholesterol máu, hút thuốc, béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp và cả các yếu tố nguy cơ không thay đổi được như tính nhạy cảm di truyền.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng xơ vữa động mạch là một đáp ứng viêm miễn dịch bệnh lý mạn tính ở các mạch máu. Các đáp ứng này gồm các đáp ứng miễn dịch tự nhiên và đáp ứng miễn dịch kiểu thích nghi, gây ra một phần bởi các Lipoprotein tiền xơ vữa, đặc biệt là lipoprotein trọng lượng phân tử thấp (LDL-C). Bên cạnh đó, tất cả các yếu tố nguy cơ tim mạch đều có thể gây kích hoạt các tế bào nội mạc mạch, làm bộc lộ các phân tử kết dính bạch cầu, làm thúc đẩy sự kết dính và thâm nhiễm bạch cầu. Hậu 14 quả của quá trình này là sự hình thành và phát triển mảng XVĐM.

Mặt khác, các yếu tố nguy cơ tim mạch cũng làm giảm nồng độ nitric oxide (NO) nội mạc, thúc đẩy các yếu tố tiền viêm và tiền đông máu của nội mạc. Các mảng xơ vữa động mạch đặc trưng bởi các đại thực bào ngậm lipid, tế bào lympho và các tế bào đuôi gai, chúng giải phóng một số yếu tố tiền viêm như cytokine và chemokine. Cholesterol có vai trò quan trọng trong việc kích hoạt các yếu tố tiền viêm của đại thực bào thông qua việc kích hoạt yếu tố viêm NLRP3 và giải phóng các cytokine đặc biệt là interleukin (IL)-1 beta. Trong đó tăng nồng độ LDL-C thúc đẩy các đại thực bào đi vào trong thành mạch là một trong những cơ chế chính gây viêm động mạch và hình thành xơ vữa động mạch.

Bên cạnh đó, việc kích hoạt các phản ứng viêm này cũng làm suy giảm hiệu quả chống xơ vữa của lipoprotein trọng lượng cao (HDL-C). HDL-C giảm là yếu tố thúc đẩy viêm mạch máu thông qua các recepter LOX-1 hoặc TLR-2. Cả đáp ứng miễn dịch tự miễn và đáp ứng miễn dịch thích nghi đều đóng vai trò chính trong sự hình thành và tiến triển của xơ vữa động mạch. Đáng chú ý, cả đại thực bào và tế bào lympho T, B có thể làm tăng hoặc giảm các phản ứng viêm của mạch máu.

Đối với tế bào lympho T, trong khi tập hợp các tế bào T helper (TH)-1 được cho thấy có vai trò là các yếu tố tiền viêm, thì nhóm các tế bào T “điều hòa”, một tập hợp dưới nhóm của các tế bào T lại có chức năng duy trì cân bằng miễn dịch nội môi bằng cách ngăn chặn các phản ứng miễn dịch gây bệnh và đóng vai trò chống xơ vữa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nghiên cứu chỉ số ABI và yếu tố liên quan đến bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường type 2" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa chỉ số ABI (Ankle-Brachial Index) và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh động mạch chi dưới ở những bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường type 2. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mà còn chỉ ra những yếu tố có thể can thiệp để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

Đối với những ai quan tâm đến sức khỏe và các bệnh lý liên quan, tài liệu này mang lại những thông tin quý giá, giúp nâng cao nhận thức và khả năng phòng ngừa bệnh tật. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Khảo sát hình ảnh nội soi thanh quản ở trẻ em khàn tiếng kéo dài trên 3 tuần tại bệnh viện nhi đồng ii từ 2021 đến 2022, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp chẩn đoán và điều trị trong lĩnh vực y tế, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.