CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHÀN TIẾNG 1.1 Trên thế giới Năm 1765, Francis Home lần đầu giới thiệu từ “Viêm thanh quản phù nề hạ thanh môn” (Croup) trong bài luận của ông, “Khảo sát bản chất, nguyên nhân và cách chữa trị của bệnh Viêm thanh quản phù nề hạ thanh môn”, có nghĩa là “tiếng khóc khàn”. Vào thế kỉ tiếp theo, từ “Croup” được dùng cho nhiều bệnh nhiễm vi khuẩn và virus, bao gồm bạch hầu và chứng viêm tắc thanh quản 3 Năm 1868, Tuker là người đầu tiên mô tả về đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của hạt xơ dây thanh 4 Năm 1884, Edwin Klebs và Friedrich Loffler phát hiện ra Corynebacterium diphtheriae là vi khuẩn gây ra bệnh bạch hầu hay còn được biết đến với tên Trực khuẩn Kleds-Loffler 5 Năm 1922, Chevalier Lawrence Jackson đã mô tả chi tiết khi soi đường hô hấp trực tiếp đã giúp cho việc chẩn đoán phân biệt được dễ dàng hơn 6 Năm 1975, Ellen-Marie Siverman và Catherine H. Zimmer nghiên cứu về bệnh khàn tiếng mạn tính ở trẻ em tuổi đi học7 Năm 1985, Von Leden đã xác định một trong những triệu chứng của rối loạn giọng nói ở lứa tuổi học sinh là khàn tiếng được ước tính tới 5%8 Năm 1988 Hufnagle J.K đã nghiên cứu tỷ lệ rối loạn giọng phát âm s/z ở trẻ em có và không có hạt xơ dây thanh 9 Năm 2000: Siphan Sisakun đã phân tích âm giọng nói để đánh giá mức độ nhược cơ dây thanh của học sinh thanh nhạc 10 1.2 Ở Việt Nam Năm 1966, Phạm Kim và Nguyễn Thị Liên đã nhận xét về 89 trường hợp về hạt xơ dây thanh tại khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Bạch Mai trong hai năm 1963-.
Các tác giả nhận thấy hạt xơ dây thanh là nguyên nhân hàng đầu gây khàn tiếng ở nước ta 11 Năm 1991, Lê Sỹ Nhơn và cộng sự đã nhận xét về đặc điểm dịch tễ lâm sàng và kết quả điều trị 252 ca bệnh có rối loạn giọng thì viêm mạn tính đường hô hấp trên chiếm 60,3% và lưu ý việc điều trị cần giải quyết bệnh tích ở vùng mũi họng 12 Năm 1999, Lê Văn Lợi cũng đề cập đến nguyên nhân rối loạn giọng ở trẻ em là do viêm thanh quản 13 Năm 2000: Nguyễn Giang Long đã nghiên cứu lâm sàng, mô bệnh học ảnh hưởng đến thanh điệu ở hạt xơ dây thanh và đưa ra nhận xét hạt xơ dây thanh chủ yếu ảnh hưởng đến thanh điệu của bệnh nhân nhất là thanh ngã và thanh hỏi 14 Năm 2003, Nguyễn Duy Dương nghiên cứu ảnh hưởng của một số bệnh thanh quản trong đó có hạt xơ dây thanh và thấy rằng bệnh lý này làm thay đổi tần số cơ bản (fundamental frequency, F0) của một số thanh điệu tiếng Việt15 Năm 2003: Nguyễn Đức Tùng thực hiện đề tài “vi phẫu thanh quản kết hợp ống nội soi quang học cứng ” tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở II từ tháng 9/2002 đến 9/2003. Theo dõi sau phẫu thuật 1 tháng tỷ lệ hết và giảm khàn tiếng trên 110 bệnh nhân là 90% 16 Năm 2010, Trần Việt Hồng đã nghiên cứu về lâm sàng và kết quả vi phẫu thanh quản người lớn qua ống nội soi ống cứng 17 Năm 2010: Trần Việt Hồng và cộng sự thực hiện “phẫu thuật nội soi điều trị bệnh dây thanh tại khoa Tai Mũi Họng bệnh viện nhân dân Gia Định từ năm 2000- 2010” đã nghiên cứu 415 bệnh nhân có các bệnh lý dây thanh. Kết quả sau phẫu thuật u lành tính dây thanh 93,12% được cải thiện giọng thành công 18 Năm 2011: Nguyễn Như Đua tiến hành:“Nghiên cứu hình thái lâm sàng nội soi và mô bệnh học một số u lành tính dây thanh ở trẻ em”. Đã đưa ra đặc điểm về hình thái lâm sàng, hình ảnh nội soi u lành tính thanh quản ở trẻ em.
Và thấy tổn thương qua nội soi ống mềm có sự phù hợp giữa chẩn đoán lâm sàng và kết quả mô bệnh học. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NỘI SOI ỐNG MỀM Năm 1881 Jonhann von Mikulicz và các cộng sự người Áo của ông đã phát minh ra nội soi ống cứng đầu tiên và đã được ứng dụng vào thực tiễn 20 Năm 1932, bác sĩ người Đức, Rudolph Schindler mới chế tạo ra nội soi ống mềm. 21 Năm 1957, Basil Hirshowitz, Wilbur Peter và Lorence Curtis ở trường đại học y khoa Michigan đã chế tạo thành công ống nội soi sợi thủy tinh mềm đầu tiên dựa trên nguyên lý Heinrich Lamm. Sáng chế này đã mở ra 1 kỷ nguyên mới của nội soi hiện đại trong chẩn đoán và điều trị ở nhiều chuyên ngành y khoa trong đó có chuyên ngành Tai Mũi Họng 22, 23 Ở Việt Nam, năm 1997: tại Viện Tai Mũi Họng Trung Ương bắt đầu ứng dụng nội soi ống mềm vào chẩn đoán và điều trị các bệnh lý Tai Mũi Họng.
Hiện nay ống soi mềm thanh khí phế quản đã được sử dụng để chẩn đoán các bệnh lý ở thanh khí phế quản và bắt đầu ứng dụng để phẫu thuật các khối u lành tính thanh quản như u nang dây thanh, polyp dây thanh 18 1. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU THANH QUẢN 24 Thanh quản thuộc hệ hô hấp trên của cơ thể, là một cơ quan hình ống nối hầu (pharynx) ở phía trên và khí quản (trachea) ở phía dưới. Thanh quản cấu tạo bởi các mảnh sụn khớp với nhau, giữ chặt bằng màng và các dây chằng. Bên trong lót bởi niêm mạc liên tục với niêm mạc hầu và khí quản tạo nên một số xoang để giúp trong việc cộng hưởng âm thanh.
Thanh quản ở phía trước cột sống, kéo dài từ đốt sống cổ C2 đến C6 1.1 Cấu tạo Thanh quản được cấu tạo bằng các sụn, dây chằng, các cơ và lớp niêm mạc. Các sụn thanh quản Hình 1.1: Các sụn thanh quản 25 Các sụn chính gồm có sụn giáp (cartilago thyroidea), sụn nhẫn (cartilago cricoidea), sụn phễu (cartilago arytenoidea), sụn nắp thanh môn (acrtilago epiglottis), sụn sừng (cartilago corniculata). Ngoài ra còn có các sụn phụ như sụn chêm (cartilago cuneiformis), sụn thóc (cartilago triticea): Sụn giáp (cartilago thyroidea) là sụn đơn lớn nhất trong các sụn của thanh quản, nằm trên đường giữa, phía dưới xương móng (os hyoideum), phía trên sụn nhẫn và phía trước sụn nắp. Gồm hai mảnh: mảnh phải (lamina dextra) và mảnh trái (lamina sinistra) hình tứ giác nối với nhau trên đường giữa tạo nên một góc mở ra sau.
Góc này khoảng 90° a nam tạo nên lồi thanh quản (prominentia laryngea), và 120° ở nữ Sụn nhẫn (cartilago cricoidea) là sụn đơn có hình dạng giống chiếc nhẫn, nằm ngay dưới sụn giáp, phía trên vòng sụn 1 của khí quản. Sụn nhẫn gồm mảnh sụn nhẫn (lamina cartilaginis cricoideae) và cung sụn nhẫn (arcus cartilaginis cricoideae). 7 Các sụn phễu (cartilago arytenoidea) gồm hai sụn khớp với bờ trên mảnh sụn nhẫn. Sụn có hình tam giác đỉnh hướng lên trên, đáy ở dưới khớp với sụn nhẫn, đỉnh khớp với sụn sừng.
Đáy có góc ngoài là mỏm cơ, góc trước là mỏm thanh âm nơi gắn của dây chằng thanh âm Sụn nắp thanh môn (acrtilago epiglottis) là một sụn đơn hình chiếc lá cây nằm trên đường giữa phía sau sụn giáp. Cuống nắp (petiolus epiglottidis) nằm ở trước dưới, gắn vào mặt trong sụn giáp, trên đường giữa Các sụn sừng (cartilago corniculata) có đáy cố định vào sụn phễu Các sụn chêm (cartilago cuneiformis) bất thường, nằm trong nếp phễu nắp Sụn thóc (cartilago triticea) nằm ở bờ sau ngoài của màng giáp – móng 1. Các khớp, màng và dây chằng Các khớp chia làm hai loại: + Khớp ngoại: khớp giữa các sụn thanh quản và các thành phần gần đó như xương móng, sụn khí quản + Khớp nội: nối giữa các sụn của thanh quản với nhau. Gồm có: o Khớp nhẫn giáp (articulatio cricothyroidea): giữa sừng dưới sụn giáp và 2 mặt khớp giáp của sụn nhẫn.
Khớp phẳng hình bầu dục, có cử động trượt và lúc lắc quanh trục ngang qua 2 khớp o Khớp nhẫn phễu (articulatio cricoarytenoidea): khớp giữa 2 mặt khớp phễu của sụn nhẫn và đáy sụn phễu, quan trọng vì tham gia đóng mở thanh môn. Có các cử động: Xoay quanh trục thẳng đứng Trượt ra ngoài xuống dưới hoặc lên trên vào trong Khớp phễu sừng là loại khớp bất động, cố định đáy sụn sừng vào sụn phễu. 8 Các màng xơ chun thanh quản (membrana fibroelastica laryngis) + Màng tứ giác (membrana quadragularis) căng từ nếp phễu nắp ở phía trên đến nếp tiền đình ở phía dưới + Nón đàn hồi (conus elasticus) còn gọi là màng nhẫn thanh âm, căng từ nếp thanh âm đến bờ trên sụn nhẫn. Phần trước nón rất chắc tạo nên dây chằng nhẫn giáp.
Bờ tự do ở trên tạo nên dây chằng thanh âm nối từ góc sụn giáp đến mỏm thanh âm của sụn phễu Các dây chằng + Dây chằng giáp nắp (ligamentum thyroepiglotticum) là dây chằng nối từ cuống sụn nắp đến mặt trong sụn giáp + Màng giáp móng (membrana thyrohyoidea) căng từ bờ trên sụn giáp đến sừng lớn và bờ trên xương móng. Ở giữa, màng dày lên tạo nên dây chằng giáp móng giữa và ở hai bên là dây chằng giáp móng bên có chứa sụn thóc + Dây chằng móng nắp (lig. Hyoepiglotticum) từ bờ trên và sừng lớn xương móng đến mặt trước sụn nắp + Dây chằng lưỡi nắp từ rễ lưỡi đến sụn nắp tạo nên nếp lưỡi nắp giữa + Dây chằng nhẫn khí quản (lig. cricotracheale) từ bờ dưới sụn nhẫn đến bờ trên vòng sụn khí quản 1 + Dây chằng sừng hầu từ sụn sừng đi về phía dưới và vào đường giữa, nối liền với niêm mạc hầu + Dây chằng nhẫn phễu sau (lig.
cricoarytenoideum posterius) gắn mảnh sụn nhẫn vào mỏm cơ sụn phễu 1. Các cơ thanh quản Chia làm 2 nhóm lớn: + Nhóm cơ ngoại lai: từ các phần chung quanh như nền sọ, xương móng, xương ức và hầu đến bám một đầu vào thanh quản, đó là các cơ: vai móng, ức móng, ức giáp, giáp móng và một số cơ trên móng là cơ trâm hầu, cơ khẩu hầu, cơ khít hầu giữa và dưới. 9 + Nhóm cơ nội tại: bám cả 2 đầu vào thanh quản, gồm các cơ: Cơ phễu - nắp thanh môn, cơ nhẫn - giáp, cơ nhẫn phễu sau, cơ nhẫn - phễu bên, cơ thanh âm, cơ giáp - nắp thanh môn, cơ giáp - phễu, cơ phễu chéo và ngang Hình 1.2: Các cơ nội tại thanh quản 25 Tùy theo chức năng, các cơ thanh quản chia làm 3 nhóm: + Căng dây thanh âm: cơ nhẫn giáp và cơ nhẫn phễu sau. Còn làm chùng dây thanh âm: cơ giáp phễu Hình 1.