Tổng quan nghiên cứu

Trong quá trình khai thác và chế biến các loại khoáng sản như sa khoáng titan chứa khoảng 4% đến 10% Thori, 1% Urani hay quặng đất hiếm chứa 0,01% U3O8 và 0,02% ThO2, lượng chất thải phóng xạ phát tán vào môi trường nước có thể vượt ngưỡng quy chuẩn cho phép từ hàng chục đến hàng trăm lần. Sự tích tụ của Thori và Urani trong nguồn nước tự nhiên gây ra những hiểm họa sức khỏe nghiêm trọng cho con người, bao gồm tổn thương thận, suy giảm chức năng gan, biến đổi cấu trúc gen và gia tăng tỷ lệ ung thư phổi hoặc ung thư xương. Mặc dù các loại nhựa trao đổi ion tổng hợp thương mại mang lại hiệu quả cao, chi phí đắt đỏ và tính sẵn có hạn chế trên thị trường nội địa đặt ra yêu cầu cấp bách về việc phát triển nguồn vật liệu xử lý mới có nguồn gốc tự nhiên với giá thành thấp.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là chế tạo thành công vật liệu hấp phụ từ quặng đá ong laterite tự nhiên tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ thông qua quy trình biến tính nhiệt kết hợp hoạt hóa axit sunfuric, sau đó ứng dụng trên cột chiết pha rắn để phân tích và xử lý Thori, Urani trong nước thải. Đề tài được thực hiện trong giai đoạn năm 2017 đến năm 2018 tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Phân tích thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp giảm hơn 70% chi phí nguyên liệu so với nhựa tổng hợp ngoại nhập, đồng thời đạt hiệu suất thu hồi Thori và Urani trên 90%, mở ra hướng tiếp cận bền vững trong kiểm soát ô nhiễm phóng xạ tại các vùng mỏ Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của lý thuyết hấp phụ bề mặt và lý thuyết trao đổi ion vô cơ trên nền khoáng vật tự nhiên. Quá trình lưu giữ các ion phóng xạ diễn ra thông qua hai cơ chế chính: hấp phụ vật lý nhờ lực hút Van der Waals tại hệ thống mao quản rỗng và hấp phụ hóa học thông qua liên kết phối trí giữa các cation kim loại nặng với nhóm hydroxyl linh động trên bề mặt oxit sắt, oxit nhôm. Đồng thời, mô hình động học hấp phụ dòng liên tục trên cột chiết pha rắn (SPE) được ứng dụng để đánh giá dung lượng trao đổi động và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình rửa giải.

Các khái niệm then chốt cấu thành nền tảng khoa học của đề tài bao gồm:

  1. Khoáng laterite (đá ong): Sản phẩm phong hóa giàu oxit sắt và oxit nhôm với hàm lượng Fe đạt trên 28% và Al đạt khoảng 7,94%, sở hữu độ xốp tự nhiên cao nhưng cần gia cường độ bền cơ học.
  2. Quá trình hoạt hóa nhiệt và axit: Kỹ thuật nung chuyển pha kết hợp ngâm chiết bằng dung dịch axit H2SO4 nhằm mở rộng diện tích bề mặt riêng và tăng mật độ tâm hấp phụ hoạt tính.
  3. Chiết pha rắn (Solid Phase Extraction - SPE): Kỹ thuật tách, làm giàu vết các ion kim loại phóng xạ từ pha lỏng lên chất hấp phụ rắn nhồi trong cột chiết.
  4. Quang phổ phát xạ plasma cảm ứng (ICP-OES): Phương pháp định lượng nguyên tố hiện đại dựa trên sự kích thích nguyên tử bằng nguồn plasma nhiệt độ cao 6000K đến 8000K.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ quặng đá ong tự nhiên tại Thanh Ba (Phú Thọ) và các nguồn nước thải thực tế gồm mẫu khai thác quặng Apatit tại Lào Cai cùng mẫu thử nghiệm chế biến quặng Urani do Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim lưu trữ. Quy trình lấy mẫu và chuẩn bị mẫu tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-1:2011, mẫu nước được lọc qua màng lọc kích thước lỗ 0,45 µm và điều chỉnh môi trường pH thích hợp trước khi qua cột chiết. Cỡ mẫu đánh giá bao gồm 12 biến thể vật liệu điều chế (từ LATH1 đến LATH12), thực hiện đo kiểm chứng trên 3 khoảng nồng độ chuẩn gồm 0,05 ppm, 2,00 ppm và 8,00 ppm với 6 lần lặp lại độc lập cho mỗi điểm để bảo đảm độ tin cậy thống kê.

Phương pháp quang phổ phát xạ plasma cảm ứng ICP-OES trên hệ thống thiết bị Prodigy (Leeman Labs - Mỹ) được lựa chọn nhờ khả năng phân tích đa nguyên tố đồng thời, giới hạn phát hiện siêu vết ở mức phần tỷ (ppb), độ nhạy cao và khả năng khử nhiễu nền ma trận vượt trội so với các phương pháp trắc quang truyền thống. Các điều kiện vận hành tối ưu được thiết lập gồm: chế độ quan sát dọc trục, công suất nguồn RF 1300W, lưu lượng khí tạo plasma 15 L/phút, lưu lượng khí phun sương nebulizer 0,8 L/phút, bước sóng đo đặc trưng 424,167 nm đối với Urani và 401,913 nm đối với Thori. Đặc tính cấu trúc và hình thái học của vật liệu trước và sau hoạt hóa được kiểm chứng toàn diện bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM), phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR), nhiễu xạ tia X (XRD) và phương pháp đo diện tích bề mặt riêng Brunauer - Emmett - Teller (BET).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát điều kiện biến tính đã xác định công thức điều chế tối ưu cho vật liệu ký hiệu LATH10: bột đá ong tự nhiên nghiền mịn kích thước dưới 25 mm, nung ở nhiệt độ 500°C trong 2 giờ, sau đó ngâm hoạt hóa trong dung dịch axit H2SO4 nồng độ 20% trong thời gian 3 giờ, rửa sạch và sấy khô ở 70°C. Ảnh chụp kính hiển vi điện tử quét (SEM) cho thấy LATH10 sở hữu bề mặt xốp mịn, mật độ lỗ xốp phân bố đồng đều vượt trội so với đá ong nguyên sinh (LAT) hay mẫu nung ở 600°C (LATN5) vốn xuất hiện nhiều hạt thô kết tụ.

Phương pháp phân tích trên thiết bị ICP-OES thể hiện độ tuyến tính xuất sắc trong khoảng nồng độ rộng từ 0,03 ppm đến 10,00 ppm với hệ số tương quan hồi quy R đạt trên 0,995. Giới hạn phát hiện (LOD) của phương pháp đối với cả Urani và Thori đều đạt mức 0,009 ppm; giới hạn định lượng (LOQ) xác định được là 0,033 ppm đối với Urani và 0,031 ppm đối với Thori. Đánh giá độ đúng và độ lặp lại tại ba mức nồng độ kiểm tra cho thấy hiệu suất thu hồi trung bình của Urani đạt từ 92,00% đến 93,96% với độ lệch chuẩn tương đối RSD chỉ từ 0,72% đến 3,07%; hiệu suất thu hồi của Thori đạt từ 93,00% đến 95,01% với RSD từ 0,59% đến 4,66%. Khi thử nghiệm xử lý trên mẫu nước thải thực tế qua cột chiết SPE nhồi vật liệu LATH10, hiệu suất hấp phụ loại bỏ Thori và Urani đạt trên 90%, đưa hàm lượng phóng xạ tổng về dưới ngưỡng giới hạn an toàn theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích phổ hồng ngoại (IR) và nhiễu xạ tia X (XRD) chỉ ra rằng việc gia nhiệt đá ong ở 500°C giúp loại bỏ nước liên kết và các hợp chất hữu cơ tạp chất, trong khi xử lý bằng H2SO4 20% giúp hòa tan một phần pha vô định hình và làm sạch các mao quản, kích hoạt các nhóm chức hydroxyl (-OH) gắn trên mạng khung oxit kim loại Fe-Al-Si. Đây chính là các tâm trao đổi cation chủ đạo, giúp tăng dung lượng hấp phụ động đối với các ion Th4+ và ion uranyl UO22+.

Sự biến thiên của các thông số phân tích được biểu diễn trực quan qua đồ thị đường chuẩn cường độ phát xạ theo nồng độ, biểu đồ phân bố dạng tồn tại của ion theo pH và các bảng thống kê hiệu suất rửa giải. Môi trường pH đóng vai trò quyết định đến hiệu suất hấp phụ: ở dải pH tối ưu khoảng 3,5 đến 4,5, các ion kim loại tồn tại chủ yếu ở dạng cation tự do hoặc phức cation hòa tan, dễ dàng thâm nhập vào các khe rỗng và liên kết với bề mặt vật liệu mà không bị cạnh tranh mạnh bởi ion H+ hay bị kết tủa hydroxit sớm. So sánh với các nghiên cứu sử dụng khoáng sét bentonit biến tính hoặc sinh khối nấm, vật liệu LATH10 thể hiện độ bền cơ học cao trong dòng chảy liên tục, không gây hiện tượng tắc cột hay đục nước sau xử lý, đồng thời duy trì khả năng tái sử dụng trên 5 chu kỳ với dung lượng hấp phụ không suy giảm quá 10%.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả thực nghiệm đạt được, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm chuyển giao công nghệ và nâng cao hiệu quả kiểm soát chất thải phóng xạ:

  1. Chuẩn hóa quy trình sản xuất vật liệu LATH10 ở quy mô bán công nghiệp: Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim phối hợp với các cơ sở chế biến khoáng sản thiết lập dây chuyền nung nhiệt 500°C và ngâm chiết H2SO4 20% với công suất xử lý khoảng 200 kg đến 500 kg quặng/ngày, hoàn thành quy chuẩn kỹ thuật trong vòng 6 đến 9 tháng.
  2. Tích hợp module chiết pha rắn vào hệ thống xử lý nước thải mỏ: Lắp đặt các cột hấp phụ nhồi vật liệu LATH10 quy mô pilot tại các mỏ khai thác sa khoáng titan Bình Định và mỏ Apatit Lào Cai nhằm đạt chỉ tiêu xử lý loại bỏ trên 95% nồng độ Urani và Thori trong dòng thải lỏng, timeline triển khai trong 12 tháng.
  3. Áp dụng quy trình phân tích ICP-OES trong quan trắc môi trường định kỳ: Các trung tâm phân tích kiểm nghiệm môi trường tại địa phương ban hành sổ tay hướng dẫn phân tích vết Th và U bằng ICP-OES với ngưỡng LOQ đạt 0,03 ppm, thực hiện kiểm tra định kỳ 1 tháng/lần tại các nguồn tiếp nhận nước thải công nghiệp khoáng sản.
  4. Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ đóng rắn bã thải hấp phụ bão hòa: Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam triển khai đề tài xử lý chất thải thứ cấp, ứng dụng kỹ thuật xi măng hóa hoặc thủy tinh hóa để cô lập vĩnh viễn lượng Urani, Thori đã hấp phụ trong thời hạn 18 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Hóa phân tích, Hóa môi trường: Khai thác quy trình tối ưu hóa thiết bị ICP-OES, phương pháp xây dựng đường chuẩn, xác định các thông số LOD, LOQ, độ chụm, độ đúng và kỹ thuật chiết pha rắn SPE để phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
  2. Kỹ sư công nghệ môi trường tại các khu công nghiệp và nhà máy tuyển khoáng: Vận dụng quy trình chế tạo vật liệu LATH10 từ nguồn đá ong dồi dào tại địa phương nhằm thiết kế các module xử lý nước thải chứa kim loại nặng và chất phóng xạ với chi phí đầu tư thấp.
  3. Cán bộ quản lý an toàn bức xạ và thanh tra môi trường: Sử dụng các dữ liệu về phân bố nồng độ, trạng thái tồn tại và độc tính của Thori, Urani làm cơ sở khoa học để xây dựng chính sách, giám sát việc tuân thủ quy chuẩn xả thải tại các mỏ khoáng sản.
  4. Doanh nghiệp khai thác và chế biến quặng đất hiếm, titan, than và photphat: Tham khảo giải pháp hấp phụ bằng khoáng laterite biến tính để nâng cấp hệ thống xử lý nước thải nội bộ, đáp ứng tiêu chuẩn phát triển bền vững và giảm thiểu rủi ro pháp lý về môi trường.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao đá ong laterite tự nhiên bắt buộc phải nung ở 500°C và hoạt hóa bằng axit H2SO4 20%?
    Đá ong tự nhiên chứa nhiều tạp chất hữu cơ và dễ bị tan rữa trong môi trường nước gây đục dòng chảy. Việc nung ở nhiệt độ 500°C giúp cố định khung xương oxit sắt - nhôm, gia tăng độ bền cơ học và tạo độ xốp tối ưu. Hoạt hóa bằng H2SO4 20% giúp tẩy sạch cặn bẩn trong mao quản và kích hoạt các nhóm hydroxyl (-OH) trao đổi ion.

  2. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) của phương pháp ICP-OES trong luận văn là bao nhiêu?
    Qua 10 lần đo lặp độc lập ở nồng độ mẫu thử 0,07 ppm, giới hạn phát hiện LOD đối với cả Urani và Thori đều đạt 0,009 ppm. Giới hạn định lượng LOQ xác định được là 0,033 ppm đối với Urani và 0,031 ppm đối với Thori, đáp ứng đầy đủ yêu cầu khắt khe trong phân tích lượng vết phóng xạ.

  3. Vật liệu LATH10 có khả năng tái sử dụng bao nhiêu chu kỳ mà không làm suy giảm hiệu suất?
    Thực nghiệm trên cột chiết pha rắn chứng minh vật liệu LATH10 có độ bền hóa học rất cao khi rửa giải bằng dung dịch axit thích hợp. Sau 5 chu kỳ hấp phụ và rửa giải liên tiếp, hiệu suất thu hồi của vật liệu đối với Thori và Urani vẫn duy trì ổn định trên 88%, mang lại lợi thế kinh tế vượt trội so với nhựa trao đổi ion.

  4. Cơ chế chính giúp vật liệu giữ lại các chất phóng xạ Urani và Thori trong cột chiết là gì?
    Quá trình xử lý diễn ra đồng thời qua cơ chế giữ cơ học trong mao quản xốp và cơ chế hấp phụ hóa học/trao đổi ion. Các cation Th4+ và nhóm ion uranyl UO22+ tạo liên kết phối trí với các nguyên tử oxy của nhóm -OH trên bề mặt khung oxit sắt và nhôm, giúp cố định bền vững các hạt nhân phóng xạ.

  5. Phương pháp nghiên cứu trong luận văn đã được kiểm chứng trên các loại mẫu nước thực tế nào?
    Phương pháp đã được kiểm chứng thành công trên mẫu nước thải khai thác quặng Apatit tại Lào Cai và mẫu nước thải chế biến thử nghiệm quặng Urani theo quy trình TCVN 6663-1:2011. Kết quả sau khi qua cột hấp phụ cho thấy nồng độ Th và U đều giảm sâu, đưa tổng hoạt độ phóng xạ về mức an toàn.

Kết luận

  • Chế tạo thành công vật liệu hấp phụ hiệu năng cao LATH10 từ quặng đá ong Thanh Ba qua quy trình nung 500°C và biến tính bằng H2SO4 20%.
  • Thiết lập hoàn chỉnh phương pháp phân tích vết Thori và Urani trên hệ thống ICP-OES với LOD đạt 0,009 ppm và hiệu suất thu hồi trên 90%.
  • Làm sáng tỏ cơ chế xử lý kết hợp giữa cấu trúc mao quản xốp và khả năng trao đổi ion của các nhóm chức oxit kim loại trên nền khoáng vật tự nhiên.
  • Ứng dụng xử lý thành công trên các mẫu nước thải mỏ Apatit Lào Cai và quặng Urani, loại bỏ triệt để nguy cơ phát tán ô nhiễm phóng xạ ra môi trường.
  • Đóng góp giải pháp công nghệ xử lý nước thải giá rẻ, tận dụng nguồn khoáng sản sẵn có tại Việt Nam thay thế vật liệu ngoại nhập đắt tiền.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là mở ra hướng đi bền vững kết hợp giữa hóa học phân tích hiện đại và công nghệ vật liệu khoáng tự nhiên phục vụ an ninh môi trường. Trong giai đoạn 12 tháng tới, các đơn vị nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng quy mô thử nghiệm pilot 1 m3/giờ tại các mỏ khoáng sản thực địa. Độc giả và các đơn vị quan tâm hãy liên hệ để tiếp nhận chuyển giao quy trình công nghệ và áp dụng vào thực tiễn quản lý môi trường mỏ.